26.6 C
Vinh
Thứ Hai, Tháng Bảy 15, 2024

Những con rồng của “Ngũ long An Nam” ở Pháp đầu thế kỷ XX

Vào những năm 1910s – 1920s, ở Paris (Pháp) có một nhóm các nhà yêu nước Việt Nam, bao gồm: Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc) được người đương thời gọi là “Ngũ Long An Nam”.

Phan Chu Trinh (1872-1926) đỗ cử nhân năm 1900, đỗ phó bảng năm 1901. Năm 1903, làm Thừa biện Bộ Lễ, cuối năm 1904, ông từ quan, rời Huế và bắt đầu dấn thân vào con đường đấu tranh yêu nước. Ông là thủ lĩnh của Phong trào Duy tân, bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam năm 1908, bị đày Côn Đảo và sang Pháp năm 1911.

Nguyễn Thế Truyền (1898-1969) du học Pháp từ cuối năm 1910, đã tốt nghiệp bằng kỹ sư Hóa học và Cử nhân khoa học ban Lý Hóa ở Toulouse (Pháp), cử nhân Triết học, học tiếp ban tiến sỹ khoa học tại Đại học Sorbonne.

Phan Văn Trường (1876 – 1933), từng tham giaphong trào Đông Kinh nghĩa thục, năm 1908, ông bị bắt giam. Cuối năm 1908, ông sang Pháp làm phụ giảng tiếng Việt ở Trường Ngôn ngữ phương Đông và theo học luật khoa tại Đại học Sorbonne, Paris. Ông đỗ cử nhân luật khoa, cử nhân văn khoa và là tiến sĩ luật khoa người Việt Nam đầu tiên.

Nguyễn An Ninh (1899 – 1943), sinh viên trường Luật (đại học Đông Dương), năm 1918, sang Pháp học và tốt nghiệp cử nhân luật Đại học Sorbonne (Paris), sau đó học tiến sỹ, đã hoàn thành luận án nhưng không bảo vệ để hoạt động cách mạng.

Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh (1890- 1969), tốt nghiệp Thành chung (Quốc học Huế). Năm 1911, ông bắt đầu xuất dương tìm đường cứu nước. sau khi đến Pháp, ông tiếp tục đi nhiều nước châu Phi, sang Mỹ và Anh. Cuối năm 1917, ông trở lại nước Pháp, sống và hoạt động tại đây đến năm 1923.

Cả năm người đều lần lượt đến Pháp, sớm nhất là Phan Văn Trường (1908), muộn nhất là Nguyễn An Ninh (1918), trừ trường hợp Nguyễn Tất Thành đến từ cuối năm 1911 nhưng phải đến cuối năm 1917 mới thực sự sinh sống và hoạt động ở đây. Các thành viên “Ngũ long An Nam” đều là trí thức. Trong số năm người có 3 người là du học các bậc đại học, tiến sỹ. Cụ Phan Chu Trinh đến Pháp khi đã là tiến sỹ Hán học và đã đứng đầu phong trào Duy Tân chống Pháp của nước nhà. Nguyễn Tất Thành khi đến Pháp đã học bậc thành chung ở trường Quốc học Huế và trải qua quá trình tự học kiên trì trong thời kỳ bôn ba tìm đường cứu nước.

Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh gặp nhau vào cuối năm 1911 và hai ông thành lập nên Hội Đồng bào thân ái, ra đời ngày 18-01-1912. Đây là tổ chức đầu tiên của người Việt Nam yêu nước tại Pháp.

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp, sau một thời gian tìm hiểu, làm quen với tình hình nước Pháp, dưới sự hỗ trợ của Phan Văn Trường và các đồng bào mình tại Paris, Nguyễn Tất Thành đã thành lập lập tổ chức Nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp sau đó đã có những hoạt động sôi nổi, tiêu biểu nhất là soạn thảo và gửi cho Hội nghị Versailles “Bản Yêu sách của Nhân dân An Nam” vào ngày 18-6-1919. Hành động trên đã gây được tiếng vang rất lớn ở Pháp và góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh của người Việt Nam yêu nước vì nền độc lập dân tộc. Bản Yêu sách soạn thảo bằng tiếng Pháp ký tên là Nguyễn Ái Quốc. Đây là sáng kiến chung của cả nhóm, trong đó có vai trò quan trọng của chí sỹ Phan Chu Trinh, đặc biệt là luật sư Phan Văn Trường. Theo Trần Dân Tiên thì: “Cũng nên nhắc lại ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ, ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp”. Bản yêu sách gồm 8 điểm: “1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; 2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người âu Châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong Nhân dân An Nam; 3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;  4. Tự do lập hội và hội họp; 5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; 6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; 7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; 8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ”.

Bản Yêu sách đã thức tỉnh nhiều người, người Việt Nam và cả người Pháp. Nó đưa ra cho giới thượng lưu tiến bộ một chương trình hành động. Nó mở đầu cho cuộc đấu tranh lâu dài đòi hỏi cải cách dân chủ, để thức tỉnh, tập hợp Nhân dân, điều mà trước đó chưa ai làm, cũng chưa có đoàn thể nào nghĩ tới: đòi cải cách mà không bị rơi vào chủ nghĩa cải lương, khẩu hiệu đòi lợi ích từng phần mở đường cho việc đưa ra những khẩu hiệu cơ bản.

Bản Yêu sách đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong các giới ở Pháp, được Nhân dân trong nước đón nhận nhiệt thành và thực sự có tiếng vang ở các nước thuộc địa của Pháp.

Trong thời gian ở Paris, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh là những người rất gắn bó và giúp đỡ Phan Chu Trinh và Nguyễn Tất Thành. Nguyễn Thế Truyền và Phan Văn Trường là người đã giúp đỡ Nguyễn Tất Thành ổn định cuộc sống khi mới trở lại Pháp, giới thiệu ông với các nhà hoạt động chính trị xã hội Pháp để từ đó ông tham gia Đảng Xã hội Pháp và Đảng Cộng sản Pháp.

Giữa năm 1922, các thành viên của “Ngũ long An Nam” đều tham gia Hội Liên hiệp thuộc địa do một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp sống ở Paris thành lập (7/1921) mà Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc là một thành viên sáng lập, là Ủy viên Thường trực Ban Chấp hành trung ương Hội, đồng thời phụ trách tờ báo của Hội là Le Paria.

Một thời gian sau, các thành viên đều lần lượt rời Paris và chọn cho mình một con đường yêu nước và cách mạng, có thể không cùng nhau, không giống nhau nhưng tất cả đều yêu nước và hết sức tôn trọng và gắn bó với nhau.

Chúng tôi xin lần lượt giới thiệu rất sơ lược về hành trình và tư tưởng của các vị tiền bối Phan Chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh để bạn đọc có thể hiểu thêm về các thành viên của nhóm “Ngũ long An nam”.

Kỳ I

Phan Chu Trinh và tư duy “làm mới dân tộc”

Những năm đầu tk XX, sau thất bại của phong trào Cần Vương, trước sự đàn áp và bóc lột của thực dân Pháp, sự yếu đuối bất lực của triều đình phong kiến nhà Nguyễn, đã xuất hiện nhiều xu hướng cải cách. Nổi bật nhất là Phan Bôi Châu với chủ trương Đông du sang nước Nhật và Phan Chu Trinh với con đường Canh tân và Dân chủ hóa xã hội.

Chân dung cụ Phan Chu Trinh (1872 – 1926).

 Một cuộc đời dấn thân vì nước

Phan Châu Trinh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam, hiệu là Tây Hồ Hy Mã, tự là Tử Cán.

Phan Châu Trinh đỗ cử nhân năm 1900 và đỗ phó bảng năm 1901. Năm 1903, làm Thừa biện Bộ Lễ, cuối năm 1904, ông từ quan, rời Huế và bắt đầu dấn thân vào con đường đấu tranh yêu nước.

Đầu  năm 1905, ông cùng hai bạn học là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng (cùng đỗ tiến sĩ năm 1904) làm một cuộc Nam du để xem xét tình hình và tìm bạn đồng chí hướng. Sau đó, Phan Châu Trinh bắc du ra Nghệ-Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nội để gặp gỡ và đàm đạo với các sĩ phu tiến bộ.

Năm 1906, ông bí mật sang Quảng Đông (Trung Quốc) hội kiến Phan Bội Châu rồi cùng sang tìm hiểu công cuộc duy tân ở Nhật Bản, tiếp xúc với nhiều chính khách, có cả Lương Khải Siêu.

Hè năm 1906, Phan Châu Trinh về nước, gửi một bức chữ Hán (quen gọi là Đầu Pháp chính phủ thư) cho Toàn quyền Paul Beau vạch trần chế độ phong kiến thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thay đổi thái độ và chính sách cai trị để dân Việt từng bước tiến lên văn minh.

Sau đó, Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân cận để vận động cuộc duy tân với tư tưởng dân quyền và phương châm “tự lực khai hóa”. Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Phương thức hoạt động của phong trào là bất bạo động, công khai hoạt động nhằm khai hóa dân tộc, giáo dục ý thức công dân – tinh thần tự do, xây dựng cá nhân độc lập – tự chủ – có trách nhiệm với bản thân và xã hội, thay đổi tận gốc rễ nền văn hóa – tâm lý – tính cách – tư duy – tập quán của người Việt, phổ biến các giá trị của nền văn minh phương Tây như pháp quyền – dân quyền – nhân quyền – dân chủ – tự do – bình đẳng – bác ái, cải cách trên mọi lãnh vực, khuyến khích bỏ lối học từ chương, phát động phong trào học Quốc ngữ, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan… Năm 1907, ông cùng Phan Bội Châu và các đồng chí vận động thành lập Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội – một trường học theo tư tưởng cải cách tiến bộ do Lương Văn Can làm hiệu trưởng, Nguyễn Quyền làm giám đốc. Sau đó, ở nhiều tỉnh lân cận cũng đã có mở các lớp dạy theo chương trình của Đông Kinh nghĩa thục. Ở Quảng Nam và các tỉnh miền trung đã ra đời nhiều trường học, thư xã, thương hội, hội nghề nghiệp. Ông còn Tỉnh quốc hồn ca cổ vũ phong trào duy tân.

Tháng 3 năm 1908, phong trào chống sưu thuế nổ ra ở Trung kỳ. Phan Châu Trinh cùng nhiều đồng chí trong phong trào Duy Tân bị buộc tội khởi xướng nên đều bị bắt. Ông bị kết án “trảm giam hậu, lưu tam thiên lý, ngộ xá bất nguyên” (tội chém nhưng chỉ giam lại, đày xa ba ngàn dặm, gặp ân xá cũng không cho về), rồi đày đi Côn Đảo.

Nhờ dư luận trong nước và sự vận động của Hội Nhân quyền Pháp, tháng 8 năm 1908, ông được đưa về đất liền nhưng buộc xuống Mỹ Tho chịu quản thúc. Ông viết thư cho Toàn quyền Đông Dương đòi được sang Pháp hoặc trở lại Côn Lôn. Nhân có nghị định về việc lập một nhóm giảng dạy chữ Hán tại Pháp, năm 1911, chính quyền Đông Dương cử một đoàn giáo dục Đông Dương sang Pháp, trong đó có ông và con trai là Phan Châu Dật.

Sang Pháp, ông lập tức gửi Hội Nhân quyền Pháp bản điều trần về vụ trấn áp những người dân chống sưu thuế tại Trung Kỳ năm 1908 (Trung Kỳ dân biến thủy mạt ký).

Ông cũng lên tiếng tố cáo tình trạng đối xử tồi tệ đối với tù nhân ở Côn Lôn, và nhờ Liên minh cầm quyền, Đảng Xã hội Pháp can thiệp nhằm giảm án cho các đồng chí của mình.

Tại Pháp, ông tiếp xúc nhiều lần với những nhân vật cao cấp ở Bộ Thuộc địa để đưa ra những dự án cải tổ nền chính trị ở Việt Nam nhưng không có kết quả. Trong thời gian này, ông viết Pháp-Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam.

Ngày 28 tháng 7 năm 1914, thế chiến thứ nhất bùng nổ. Ngày 3 tháng 8, Đức tuyên chiến với Pháp. Nhân cơ hội này, nhà cầm quyền Paris gọi Phan Chu Trinh và luật sư Phan Văn Trường đi lính, nhưng hai ông phản đối rồi  đều bị khép tội làm gián điệp cho Đức và bị bắt giam từ tháng 9 năm 1914. Tháng 7 năm 1915, vì không đủ bằng chứng buộc tội, chính quyền Pháp phải trả tự do cho hai ông.

Ra tù, Phan Chu Trinh học nghề rửa ảnh rồi làm thuê cho các hiệu chụp ảnh để kiếm sống.

Ngày 19 tháng 6 năm 1919, Phan Chu Trinh cùng với Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành soạn bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi cho Hội nghị Versailles, ký tên chung là “Nguyễn Ái Quốc”.

Năm 1922, vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo Marseille, Phan Chu Trinh viết bức thư buộc tội vua Khải Định 7 điều (Thất Điều Trần) và bài Tỉnh quốc hồn ca mới lên án tình trạng tăm tối của xã hội Việt Nam và chính sách thuộc địa ở Việt Nam; cỗ vũ đường lối cải cách dân chủ.

 Do hoạt động ở Pháp kết quả không khả quan, nhiều lần ông yêu cầu chính phủ Pháp cho ông trở về nước nhưng mãi đến năm 1925, khi thấy sức khỏe ông đã yếu, nhà cầm quyền Pháp mới chấp nhận. Khoảng thời gian này, ông viết cuốn Đông Dương chính trị luận.

Ngày 29 tháng 5 năm 1925, Phan Châu Trinh cùng Nguyễn An Ninh xuống tàu rời nước Pháp, ngày 26 tháng 6 cùng năm thì về tới Sài Gòn.

Lúc này, tuy bị bệnh nhưng Phan Châu Trinh vẫn cố gắng diễn thuyết thêm hai đề tài là Ðạo đức và luân lý Đông Tây Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa.

Đám tang chí sỹ Phan Chu Trinh tại Sài Gòn năm 1926. Ảnh: nguồn tuoitre.vn

Ông mất lúc 21 giờ 30 ngày 24 tháng 3 năm 1926. Đám tang của ông ở Sài Gòn ngày 4 tháng 4 năm 1926 có hơn 6 vạn người tham dự. Bất chấp sự ngăn cản của chính quyền thực dân phong kiến, lễ truy điệu ông đã được tiến hành khắp cả nước, trở thành một phong trào chính trị cỗ vũ tinh thần yêu nước của đồng bào, nhất là thanh niên, học sinh.

Một tư duy “làm mới dân tộc”

Trước Phan Chu Trinh đã từng có các kẻ sĩ nhận thấu nhu cầu canh tân đất nước và có nhiều nỗ lực như Đăng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… Nhưng các ông đã không thành công, vẫn chủ yếu xoay quanh chiến hay hòa, và những chính sách cải cách chưa thực sự toàn diện, triệt để. Trong nhiều nguyên nhân không thành công của các vị tiền bối, có lý do chưa nhận thức thực sự sâu sắc ở nguyên nhân Con người và Văn hóa Việt Nam, chưa nhận thức hết tầm quan trọng của vấn đề con người Việt Nam khi vẫn chưa thoát khỏi lối tư duy cảm tính của văn hóa làng xã để theo kịp nhu cầu mới, nhiệm vụ mới mà khúc ngoặt của đất nước và thời đại đặt ra.

Với Phan Chu Trinh thì khác. Là người trong cuộc, lại có quá trình tiếp xúc, giao lưu quốc tế,  ông có cái nhìn mới, sâu sắc và khách quan hơn về văn hóa, con người và tình thế lịch sử của Việt Nam. Không chỉ thấy những điều tốt đẹp mà ông còn thấy cả những nhược điểm của văn hóa và con người Việt Nam. Điều này đã giúp ông hình thành tư tưởng Duy Tân mới từ mục tiêu đến phương pháp hành động. Ông cho rằng phải thay đổi từ gốc rễ là con người để thay đổi xã hội và đất nước. Vấn đề cốt lõi là giáo dục để nâng cao dân trí và khả năng giác ngộ của nhân dân để họ xác định trách nhiệm và quyền lợi, tự quyết định vận mệnh của mình và đất nước, từ đó xây dựng, phát triển đất nước theo một con đường mới phù hợp với sự phát triển của thời đại. Đó là con đường để tự lực tự cường, hội nhập vào thế giới văn minh chứ không cầu viện ngoại bang dùng bạo lực giành độc lập.

Cuối TK XIX, đầu TK XX, thời của Phan Châu Trinh, chưa có mô hình dân chủ xã hội chủ nghĩa là dễ hiểu khi ông định hình mục tiêu “làm mới dân tộc” là kiến thiết một đất nước độc lập theo thiết chế dân chủ tư sản.

Phan Chu Trinh đã tiếp thu nhiều yếu tố của Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… nhưng rõ rằng ở ông đã có sự phát triển xa hơn, toàn diện hơn, cụ thể hơn và trong thực tiễn đã triển khai thực hành được nhiều hơn. Ông đã phát động được một phong trào Duy tân và được sự hưởng ứng đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong cả nước. Phong trào đã trở thành những làn sóng yêu nước với nhiều hình thức biểu hiện từ chống sựu thuế ở Trung Kì đến Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội và các địa phương khác, góp phần cơ bản tạo nên định hướng vận động của xã hội đầu Tk XX.

Phan Chu Trinh là người khởi đầu cho là sóng văn hóa VN mới; và mặc dù có những khác biệt nhau về tư tưởng trong lựa chọn con đường đi cho đất nước nhưng ông và Phan Bội Châu là những người đặt nền móng cho sự vận động của các phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam TK XX.

Vĩnh Khánh