Sự hữu hạn và mong manh là điểm mạnh của người nghệ sỹ trước AI
Thực hiện PV: Trang Đoan
Trình bày: Hồ HuyNghệ sỹ piano cổ điển Trang Trịnh sinh năm 1986, tại Hà Nội, tốt nghiệp xuất sắc cử nhân và thạc sỹ tại Học Viện Âm Nhạc Hoàng Gia Anh, chuyên ngành biểu diễn piano với học bổng danh giá Sterndale Bennett. Năm 2006, cô bắt đầu sự nghiệp biểu diễn sau màn ra mắt đầy ấn tượng trước khán giả châu Âu dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Edward Gardner OBE tại London.
Được biết đến với tiếng đàn đẹp, trong sáng cùng sự truyền đạt tinh tế, sâu sắc và sức sáng tạo hiếm có, Trang Trịnh đã trình diễn khắp châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ, tại những khán phòng lớn và được làm việc cùng các nghệ sỹ, dàn nhạc nổi tiếng thế giới; xuất hiện trên các kênh truyền thông lớn trong nước và quốc tế như: Premier Radio (UK), VOA (America), KBS World, MTV (Hungary) và VTV.
Trang Trịnh đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế danh giá: giải Nhì tại Franz Liszt Piano Competition (Hungary), Mozart Prize, Francis Simmer Prize, Lilian Davis Prize (Beethoven European Society)... Năm 2015, cô được tạp chí Forbes vinh danh là một trong 30 gương mặt dưới 30 tuổi đáng chú ý nhất tại Việt Nam. Năm 2018, cô được trao tặng danh hiệu ARAM (Associateship of the Royal Academy of Music) cho những cống hiến tiêu biểu cho nền âm nhạc chuyên nghiệp thế giới.












Trước hết, trân trọng cảm ơn chị đã nhận lời phỏng vấn của Tạp chí Sông Lam và chúc mừng chị đã có một trình diễn thành công. Đây là lần đầu tiên tôi được trực tiếp tham gia, theo dõi một trình diễn kéo dài 24h mà mỗi giờ trôi qua đều thực sự giá trị. Tôi có một băn khoăn là từ đâu chị có ý tưởng này? Tại sao chị lại quyết định tổ chức sự kiện này ở Việt Nam, trong ngày Hạ chí?
Đây là một truy vấn cá nhân của tôi về khái niệm trình diễn, xuất phát từ những suy tư về tốc độ của trí tuệ nhân tạo (AI) và các hệ thống thuật toán có năng lực phản hồi ngày càng nhanh. Tốc độ đang ngày càng định hình cách ta, mà trong đó có bản thân tôi, nhận thức thế giới xung quanh, làm suy giảm khả năng chú tâm, và thu hẹp đời sống chiêm nghiệm. Đối diện với tốc độ ấy, tôi tò mò: “Điều gì sẽ xảy ra khi ta nán lại lâu hơn?”
Thoạt nhìn thì chiều dài 24 giờ của trình diễn này dễ khiến ta nghĩ tới sự tối ưu vô hạn, thêm một thách thức “cao hơn, xa hơn”, hay một nỗ lực đạt tới điều không thể. Tuy nhiên, đây lại là lời mời trở về với những điều hữu hạn nhất của con người để suy tư về những giá trị hết sức nhân bản: sự mong manh, ký ức, tình bạn, sự phụ thuộc lẫn nhau và khả năng cùng nhau hiện diện trong thời gian thực. Đó là một trong những lý do mà tác phẩm có tên “Hữu hạn giữa vô cùng”.
Với tính cá nhân đó, cảm thức nơi chốn và cảm thức về thời gian là hai yếu tố tiên quyết cho sự thành công của tác phẩm. Hà Nội là một nơi có ý nghĩa rất quan trọng đối với tôi. Đó là nơi mà tôi sinh ra, lớn lên và có rất nhiều trải nghiệm mang tính định hình suy tưởng nghệ thuật và thực hành nghệ thuật của mình. Khi suy tư về khía cạnh tìm kiếm sự chân thực và căn tính con người, tôi nghĩ sẽ không có nơi nào tốt hơn để bắt đầu hành trình của tác phẩm này ngoài Hà Nội.
Còn về cảm thức thời gian, Hạ chí là một thời điểm ta hay gọi là “ngày dài nhất năm”, nhưng ý niệm này về thời gian thật thú vị.
Thế nào là một ngày? Khi ta đặt cái chằn chặn cơ học của kim giờ kim phút bên cạnh những xoay chuyển tự nhiên của ánh mặt trời.
Thế nào là một ngày? Khi ta có sự lựa chọn hiện diện bên nhau trong một không gian trình diễn phi truyền thống.
Tôi có nhiều câu hỏi hơn câu trả lời. Và tôi nghĩ tôi đã học được rất nhiều qua trải nghiệm trình diễn này của mình.

Trong phần giới thiệu chương trình, chị có chia sẻ, chị khát khao một sự gián đoạn triệt để đối với dòng chảy cứ thế tiếp diễn của đời sống. Điều gì trong cuộc sống khiến chị cảm thấy khao khát có sự dừng lại ấy?
Tôi nghĩ có những giá trị rất quan trọng mà ta sẽ không thể nhìn thấy hoặc trân trọng nếu không có thời gian suy tư và chiêm nghiệm. Sự tăng tốc chóng mặt của các công cụ phục vụ tính tối ưu hoá giúp ta “tiết kiệm” được thời gian. Nhưng cũng có rất nhiều các trải nghiệm được sinh ra để con người hiện đại “giết” chính thời gian mà họ đã tiết kiệm được đó.
Tồi tệ hơn, sự tối ưu hoá đòi hỏi ta liên tục đặt trải nghiệm của quá trình sống và lao động ở phía dưới của những kết quả thuần hiệu năng. Trong dòng chảy cứ-thế-tiếp-diễn của đời sống, có lúc nào để ta đủ chậm để thực sự hạnh phúc, để không những thưởng thức được vị ngon của một chén nước, mà cả khoảnh khắc - như Hoàng Tử Bé - rón rén đi tới nguồn nước ấy - hay không?
Việc tôi chơi đi chơi lại một bản nhạc cổ điển trong trường thời gian khác nhau của cùng một buổi trình diễn là điều tôi làm lần đầu tiên trong đời. Thông thường, ta chỉ có thể chơi “lại” trong những trường hợp rất hy hữu, gần như là không bao giờ xảy ra. Tuy nhiên, trong tác phẩm trình diễn này, việc chơi đi chơi lại một bản nhạc giống như một sự gián đoạn với những đòi hỏi truyền thống của một chương trình hoà nhạc, tôi muốn khán giả của mình được cùng tôi hiện diện trong những phiên bản khác nhau của cùng một bản nhạc, chứ không phải chỉ là phiên bản hoàn hảo nhất. Có một khán giả mà tôi gọi họ là người chứng kiến, chứ không chỉ là người xem, đã chia sẻ rằng khi tôi chơi Schumann lúc hoàng hôn, họ đã rất xúc động. Tôi cũng đã có cùng cảm giác ấy. Kỳ diệu, rất kỳ diệu!
“Điều gì sẽ xảy ra khi ta nán lại lâu hơn?”
Tôi thấy, trong quá trình hoạt động nghệ thuật của mình cũng như trong buổi trình diễn hôm nay, chị chia sẻ nhiều về AI. Đây cũng là điều bản thân tôi gần đây có nhiều trăn trở. Theo chị, khi AI có thể làm nhạc, vẽ tranh, viết thơ,… thì đâu là điều mà một người nghệ sỹ không thể bị thay thế?
Tôi đã làm việc với AI với tâm thế tò mò chân thành trong một thời gian, và tôi nghĩ rằng AI - giống như các học giả về AI đã phân tích - không hề thông minh và đáng sợ như chúng ta nghĩ. Đồng thời, sự thật là tôi đã đôi lúc không thể phân biệt được một tác phẩm do AI tạo sinh và một tác phẩm do người viết nên, nếu chỉ nghe qua bản thu âm. Điều này có nghĩa là khả năng trở thành công cụ tăng tốc hiệu năng của AI là không thể phủ nhận, kể cả đối với các hoạt động “sáng tạo” như sáng tác và trình diễn.
Tôi nghĩ rằng một người nghệ sỹ không thể bị thay thế chỉ ở cùng một điểm khiến cho không một con người nào có thể bị máy móc thay thế. Đó là những mối quan hệ chân thật, khả năng rung động trước người khác và khiến cho người khác cảm động, để tạo nên những mối nối tình cảm, dù chúng có đôi khi rắc rối, phức tạp và bất tiện với chúng ta. Tôi quan niệm mọi thực hành nghệ thuật của mình là sự chăm sóc. Và ở trung tâm của sự chăm sóc là tình người.
Trung tâm của sự chăm sóc là tình người.
Vậy, theo chị, có phải chính sự không hoàn hảo, sự bất toàn của con người tạo ra những cuộc gặp gỡ thực sự giữa người với người mà công nghệ không thể làm được?
Vâng, đây là một khía cạnh khác khiến buổi trình diễn được đặt tên là “Hữu hạn giữa vô cùng”. Thứ khiến chúng ta cần nhau, cần được chăm sóc và cần chăm sóc người khác, chính là sự bất toàn và hữu hạn của mỗi người. Nhưng đó cũng là điều khiến những va chạm, gặp gỡ trở nên có nghĩa, hoặc vô nghĩa, khiến cho một ai đó trong hàng tỷ người trở nên đặc biệt, và những người khác thì không.
Chẳng ai có thể gọi ship tới một người mẹ mới thay một người mẹ cũ cho một đứa trẻ, như một món hàng, dù đó là một trường hợp nhận nuôi chứ không phải mẹ con ruột. Ý tôi là mối nối tình thân giữa con người, dù là ruột thịt hay không, thì đều có trong nó một sự thiêng liêng. Dĩ nhiên, không phải mọi mối quan hệ đều tốt đẹp, có những mối quan hệ độc hại, thậm chí nguy hiểm. Nhưng chí ít, khả thể của mối quan hệ là nơi sản sinh ra những mối nối giữa người - người là một thứ công nghệ không thể làm được, dù chúng rất giỏi giả vờ, và con người thì rất giỏi “nhân cách hoá”.

Chị theo đuổi sự hoàn hảo hay chấp nhận điều không hoàn hảo, thưa chị?
Bạn đang nhắc tới khía cạnh thứ ba của cái tên “Hữu hạn giữa vô cùng”. Tôi nghĩ rằng mình phải tồn tại trong tương quan của cả hai điều này. Tôi phải theo đuổi sự hoàn hảo - ở nghĩa là theo đuổi thứ tốt hơn, đẹp hơn, mà cái tốt hơn đẹp hơn ấy thì vô cùng lắm. Tôi cũng phải chấp nhận những điều không hoàn hảo, vì đó chính là thực hành sự bao dung cho bản thân và cho người khác.
Ta lại quay lại gốc rễ của lao động nghệ thuật của tôi, ấy là sự chăm sóc. Chăm sóc không chỉ là việc khiến cho một thứ mãi mãi ở tình trạng như-nó-là. Chăm sóc một cái cây là mong ngóng cho tới ngày nó ra hoa đơm trái, nhưng ta phải chấp nhận rằng việc cái cây ấy có ra hoa đơm trái hay không, và vào lúc nào, là hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của ta. Điều này cũng đúng với việc chăm sóc một đứa trẻ, dạy một học sinh, chơi một bản nhạc, hay giương cung bắn một mũi tên. Ở đâu cũng phải có sự kiên trì, sự tập luyện, sự nhẫn nhịn, sự kỳ vọng, sự chấp nhận.
Và cả những niềm mơ.
Trong 24h biểu diễn của chương trình, chị đối thoại với nhiều người, với một thế giới song song, với AI, hay đang đối thoại với chính mình và những trăn trở trong mình?
Tôi nghĩ là tôi đã mong muốn đối thoại với tất cả. Mỗi một chương lại là một chiều kích khác của cuộc đối thoại không có hồi kết cho những suy tư-còn-tiếp-diễn của tôi. Trong quá trình sáng tác tôi cũng tự hỏi rằng điều gì khiến cho mình khao khát gặp gỡ kẻ-khác đến thế. Bản chất của việc đối thoại và việc xây dựng nên kịch bản thông qua các lớp lang đối thoại có lẽ cũng đến từ khao khát ấy.

Tôi thấy rằng 24h biểu diễn liên tục là một thử thách với người nghệ sỹ, nó có thể làm họ kiệt sức, nhưng AI thì không. Vậy, theo chị, đây là điểm yếu hay điểm mạnh của con người trong nghệ thuật?
Tôi nghĩ đây là điểm mạnh. Sự mong manh là cánh cửa mở ra khả thể của sự chăm sóc. Brene Brown có nói “vulnerability is the birthplace of courage”, và đó cũng là nơi hoài thai ra sự sáng tạo. Ta cứ nghĩ về tác phẩm vĩ đại nhất trên đời này - một đứa trẻ được sinh ra từ lòng mẹ. Làm gì có điều gì mới hơn thế - một sự mới toàn thể, mới hoàn hảo, mới tới nỗi không ai có thể tiên đoán đứa trẻ này sẽ là ai, và cuộc sống của nó sẽ như thế nào.
Nhưng sự mới thiêng liêng ấy lại được hoài thai từ những mong manh nhất của một con người, và đứa trẻ ấy được ra đời phụ thuộc hoàn toàn vào người chăm sóc nó. Tôi nghĩ rằng việc ta hữu hạn và cần sự giúp đỡ của người khác là điểm mạnh mẽ nhất của bản thân mình.
“Sự mong manh là cánh cửa mở ra khả thể của sự chăm sóc.”
Trong phần trình diễn của mình, chị nhắc nhiều đến điều 41 chương II của Hiến pháp. Và tôi cũng quan sát thấy, những khán giả, khách mời của chương trình rất đặc biệt, có cả người khiếm thính, khiếm thị,… và chương trình cũng đưa đến cho khán giả nhiều trải nghiệm về thính giác, thị giác… Chị muốn gửi gắm thông điệp gì thông qua những điều này?
Tôi gần đây nghiên cứu và thực hành nhiều về nghệ thuật bao hàm, ở đây được hiểu là một loại nghệ thuật mà ở đó sự tham gia sáng tạo, trình diễn, hoặc thưởng ngoạn của cộng đồng người khuyết tật, cũng như các cộng đồng thường gặp các rào cản như trẻ em, người lớn tuổi, người có thu nhập thấp và không ổn định,… Tôi nghĩ rằng nghệ thuật và nghệ sỹ là những người có trách nhiệm mộng tưởng ra một thế giới bao hàm hơn.
AI chỉ có thể đưa ra những mô hình đã tồn tại dựa vào xác suất lặp lại của những dữ liệu lớn. Điều này có nghĩa rằng nó không có khả năng mộng tưởng về một thế giới không có những rào cản vốn đang tồn tại hiện hữu trong đời sống đương đại. Chúng ta, con người, mới có khả năng và vì thế nên ta có trách nhiệm ấy. Và, nếu thế giới mới ấy không được hiện thực hóa trong những tác phẩm nghệ thuật, trong trí tưởng tượng của chúng ta, thì làm sao chúng có thể trở thành hiện thực xã hội. Một cái bàn cũng đã từng chỉ nằm trên bản vẽ của một nhà thiết kế mộng mơ. Tôi nghĩ rằng nếu ta không dám mơ về nơi tất cả đều có thể hiện diện, chúng ta sẽ không đạt được tới điều đó.
Trong hành trình nghệ thuật của mình chị đã nỗ lực thế nào để thực hiện những mong muốn ấy, để mang lại sự công bằng trong hưởng thụ và sáng tạo nghệ thuật?
Đây là khía cạnh tiếp theo của “Hữu hạn giữa vô cùng”. Tôi chỉ có thể làm được một điều nhỏ bé là thông qua những thực hành nghệ thuật của chính mình, thông qua cách sống của chính mình, học hỏi và gặp gỡ thêm những người bạn mới, những cộng đồng mới. Việc được nhìn và sáng tạo, hay đồng sáng tạo, với các nghệ sỹ khuyết tật tại Canada và trên thế giới khiến cho tôi được nhìn ngắm thế giới thông qua những góc nhìn độc đáo - không phải chỉ vì họ có cơ thể và cách nhìn thế giới khác tôi, mà vì những góc nhìn ấy là độc bản và duy nhất.
Ý tôi là - họ không đặc biệt vì họ khuyết tật. Họ đặc biệt vì họ là họ. Việc ai đó là chính họ - và ở sự tồn tại độc bản quý giá ấy - cho phép ta gặp gỡ và chia sẻ - là điều quý giá vô cùng. Điều đáng tiếc là rất nhiều rào cản đang khiến cho điều ấy khó khăn với rất nhiều cộng đồng như tôi đã nhắc đến bên trên.
Tôi không thể tưởng tượng được nghệ thuật sẽ còn tuyệt vời đến thế nào nếu ta có thể có thêm sự đóng góp từ rất nhiều, rất nhiều những con người độc bản trên thế giới này, mỗi người với một trải nghiệm sống riêng, không-ai-giống-ai của họ. Nhưng đó là một giấc mơ “vô cùng”. Việc hữu hạn tôi có thể làm bây giờ, là đẩy các nghiên cứu và thực hành của mình tập trung hơn vào sự công bằng rất cần tồn tại này.

Trong một thời đại người ta luôn muốn khẳng định sự khác biệt, gây dựng sự chú ý cá nhân, tại sao chị lại hướng đến việc cùng ngồi lại bên nhau “tất cả đều là bạn”, nương tựa vào nhau?
Ôi, thật ra sẽ là nói dối nếu tôi nói rằng tôi không muốn khác biệt, hay không muốn được chú ý. Tôi cũng là một con người thôi, và y như một đứa trẻ, bản năng của tôi là muốn sự tồn tại của mình có ý nghĩa với cuộc đời này. Ở khía cạnh ấy thì tôi muốn mình là không thể thay thế với những người mình thương mến.
Nhưng bạn nói đúng, trong thực hành nghệ thuật mà ở trên tôi có nhắc tới khái niệm “chăm sóc” - tôi tìm kiếm một mối quan hệ sâu sắc hơn là việc âm nhạc/nghệ thuật của mình chỉ là “một món ăn tinh thần”, một thứ ta có thể mua, tận hưởng, mà không cần mối quan hệ với người đã sản sinh ra thứ ấy. Tôi tìm kiếm sự gặp gỡ, mà đã là gặp gỡ, thì không có khách hàng và người bán, thượng đế và tôi tớ, chỉ có những người bạn. Mà đã là bạn, thì tức là phải nương tựa vào nhau, có mặt khi người kia cần, dù điều đó chỉ ngắn ngủi và gói gọn trong những khoảnh khắc trình diễn.
Chị có nghĩ thời đại công nghệ, sự tiện lợi trong kết nối đang khiến chúng ta dần xem nhẹ sự hiện diện của nhau trong cuộc đời?
Tôi nghĩ chúng ta cần thời gian để thực sự hiện diện. Thời gian là một thứ rất đặc biệt. Có lẽ ai cũng đã có cảm giác từng giây trôi chậm đến thế nào khi đang chờ đợi người mình thương nhớ, hoặc có một trải nghiệm hoàn toàn khác về tốc độ thời gian khi đang làm điều mình vô cùng yêu thích.
Ở khía cạnh đó, sự tiện lợi và công nghệ cho ta một ảo tưởng rằng sự hiện diện có thể khả thi ngay cả khi ta không dành một khoảng thời gian dài cho nhau. Tôi thì không tin rằng điều đó khả thi. Nhưng tôi cũng không nằm ngoài vòng xoáy của công nghệ và sự hấp dẫn của sự tiện lợi. Có lẽ chúng ta đang dần bị đẩy tới cực cùng của tốc độ, là để chúng ta nhận ra thời gian hiện diện bên nhau quý giá đến thế nào.

Tôi rất ấn tượng với cách kết thúc chương trình, khi những cành hoa, đạo cụ,… lần lượt được dọn dẹp trong lúc chị trình diễn. Nó cho tôi cảm nhận rõ sự hữu hạn trong vô cùng. Nó còn khiến tôi đặt câu hỏi về cách đối diện với những mất mát của cuộc đời. Tại sao chị lại chọn cách kết thúc như vậy? Thông điệp chị muốn gửi đến là gì?
Bạn biết không, đây là một thay đổi nằm ngoài kiểm soát và không có trong kịch bản. Nó đã được quyết định chỉ vài giờ trước khi chương trình bắt đầu. Thực tế là đã có một điều kiện bên ngoài khiến cho chương trình buộc phải kết thúc sớm hơn dự kiến. Nhưng có sao, đó là cuộc sống!
Tôi, đạo diễn Nguyễn Đức Tú, producer Phương Vũ cũng như toàn bộ các thành viên của chương trình đã thống nhất tạo nên cái kết mà tôi cũng nghĩ là rất trọn vẹn chính trong sự không trọn vẹn của nó. Đúng, tôi đã nghĩ rất nhiều tới “Hữu hạn giữa vô cùng” khi chơi chương cuối ấy, tôi nghĩ tới mất mát, tới kết thúc, nhưng cũng nghĩ tới những sự bắt đầu mới. Có những bản nhạc kết thúc trước khi nó bắt đầu, nhưng cũng có những bản nhạc còn vang mãi, ngay cả những âm thanh cuối cùng đã tắt. Dù có điều gì xảy ra chăng nữa, thì ta vẫn cần tiếp tục!
“Có những bản nhạc còn vang mãi, ngay cả những âm thanh cuối cùng đã tắt.”
Suốt 24h, khán giả được cùng chị đi qua những vùng ký ức, nhiều xúc cảm đan xen, cảm nhận được tình thương, hạnh phúc và cả những nỗi đau… Đã có những lúc tôi rơi nước mắt trước vẻ đẹp của nó để rồi nhận ra mỗi cuộc đời đều là một sự hữu hạn giữa vô cùng. Vậy, theo chị, làm cách nào để sự hữu hạn này có ý nghĩa, để nó được lưu dấu?
Cảm ơn em rất nhiều, câu hỏi này chị xin được dùng nhân xưng “chị em”, em nhé. Chị rất cảm động và cảm thấy được động viên khi em đã rung động trong “Hữu hạn giữa vô cùng”. Chị nghĩ rằng, ở khía cạnh đơn sơ nhất, mà có thể là càng đơn sơ ta càng hạnh phúc, ta chỉ có ý nghĩa, và chỉ cần được lưu dấu trong những mối quan hệ có chính mình. Ước ao sao để sự tồn tại của chúng ta lưu những dấu ấn đẹp. Chuyện của ngàn đời là chuyện nằm ngoài sự tồn tại ngắn ngủi của con người. Đối với buổi trình diễn này cũng vậy. Miễn rằng trong khoảnh khắc ấy, có một ai đó đã rung động, có một ai đó đã dừng lại để kết nối với những suy tư rất riêng mà cũng rất chung ấy về cuộc sống, như vậy là nó đã rất ý nghĩa rồi.
Thời gian lại trôi. Mỗi chúng ta sẽ lại dịch chuyển trong những tất bật của đời sống thường nhật. Nhưng chị tin vào sự tồn tại của nghệ thuật, như sự tồn tại của “nghi lễ của sự chú ý”. Những buổi trình diễn như “Hữu hạn giữa vô cùng” cũng giống như một ngày Tết, sự quay lại của ngày Hạ chí, những ngày kỷ niệm, một ngày sinh nhật, ngày khai giảng,… Đó là cách để ta rút lui, để ta nương náu và neo mình lại giữa dòng chảy không ngừng nghỉ của cuộc sống. Ở đó, chúng ta dành thời gian hào phóng cho mình và cho nhau để có thể chú tâm và suy tư về những điều quan trọng nhất. Về quan hệ của mình với chính mình, với kẻ-khác, và với thế giới này!

Trân trọng cảm ơn chị vì những chia sẻ chân thật, sâu sắc và đầy ý nghĩa trong cuộc phỏng vấn này cũng như trong suốt quá trình biểu diễn của chị. Chúc chị sẽ luôn thành công trên con đường đã chọn, không ngừng sáng tạo và có nhiều đóng góp hơn nữa cho nền âm nhạc chuyên nghiệp trong nước và thế giới!
Emagazine - Tạp chí Sông Lam



















