Xuân năm Bính Ngọ tìm về câu đối có chữ “mã”, “ngựa” do người xứ Nghệ sáng tác

Nhân Tết xuân năm Bính Ngọ đến, lục tìm trong kho Câu đối xứ Nghệ (Nxb Nghệ An, 2005) có những câu có nói đến chữ mã – ngựa, xin ghi chép lại trong bài viết này để làm vui cùng bạn đọc.

Thời An Dương Vương bị mắc mưu Triệu Ðà làm mất nước, phải chạy vào Cửa Hiền, Nghệ An, sau khi chém Mỵ Châu công chúa thì nhà vua cầm sừng tê rẽ nước đi xuống bể; con ngựa của vua chạy trên cát để lại dấu vết tại làng Thả Ninh, xã Thượng Xá, tức xã Nghi Xá, huyện Nghi Lộc, nay thuộc xã Trung Lộc, Nghệ An, nên dân lập Ðền Vua ở đây thờ Vua cùng với “dấu chân ngựa”. Ðền có đôi câu đối chứng minh việc này:

Mã tích ức lai lai mã tích
Loa thành vạn cổ cổ Loa thành”.
(Dấu ngựa muôn đời còn dấu ngựa
Loa thành vạn thuở mãi Loa thành).

Đền Cuông gắn với câu chuyện về An Dương Vương và con gái Mỵ Châu

Trong các chữ đặc thù dùng để chỉ màu sắc, hình dáng hay đặc tính của loài ngựa thời xưa ở nước ta cũng như Trung Hoa, có một số chữ chính là “mã”, “thố”, “câu”, cũng có khi gọi là “long” nói chung để chỉ về ngựa. “Tuấn” là ngựa hay, chạy nhanh, khỏe, dẻo dai. Người ta hay vẽ tích 8 con ngựa và ghi chữ “Bát tuấn – Mã đáo thành công”. “Kỳ ký” là ngựa lạ, quý hiếm, ngựa thiên lý (ngựa chạy vạn dặm). Vua Trần Nhân Tông đã từng ví Ðỗ Khắc Chung (Tể tướng của nhà Trần) là: “Ngỡ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có con ngựa ký, ngựa ký như thế” (Theo Ðại Việt sử ký toàn thư). “Ðề” là móng chân thú (Thiên Lương đề là ngựa của Vua Thiệu Trị). “Xích” là sắc lông màu đỏ (con ngựa Xích Thố là món quà tặng của Tào Tháo cho Quan Công). Tại đền Quan Thánh ở phường Thành Vinh, Nghệ An thờ Quan Công có treo đôi câu đối: “Xích diện bỉnh xích tâm, kỵ Xích Thố truy phong trì khu thời vô vong Xích Ðế/ Thanh sử đối thanh đăng, tráng thanh long uyển nguyệt, ẩn vi xứ, bất quý thanh thiên”. (Mặt đỏ lòng son, cưỡi ngựa Xích Thố, lúc lướt gió thẳng bay chẳng hề quên Xích Ðế/ Sử xanh chứng rõ, cầm thanh long đao, nhìn vầng trăng nương náu không thẹn với trời xanh).

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân (nay thuộc xã Nghi Xuân) Hà Tĩnh, đậu Giải nguyên năm Gia Long 18 (1819), làm quan đến Thượng thư Binh bộ, Dinh Ðiền sứ Nam Ðịnh, có công lớn được nhân dân Tiền Hải, Kim Sơn lập đền thờ sống. Ông sáng tác nhiều câu đối hay, nổi tiếng được truyền tụng trong dân gian, đôi Thích nhàn tản ghi: “Con mèo nằm bếp co ro ít ăn thì lại ít lo ít làm/ Cái ngựa đi Bắc về Nam hay ăn lại phải hay làm hay lo”. Trong bài Vịnh cảnh nghèo có câu: “Trói chân kỳ ký tra vào rọ/ Rút ruột tang bồng trả nợ cơm”.

Trần Ðình Phong (1843 – 1909), người làng Yên Mã, xã Mã Thành, huyện Yên Thành (nay thuộc xã Bình Minh) tỉnh Nghệ An. Ðậu Tiến sĩ khoa Kỷ Mão – năm thứ 32 niên hiệu Tự Ðức (1879). Làm quan đến Ðốc học Quảng Ngãi, Tế tửu Quốc Tử Giám, khi mất được tặng Lễ bộ Thị lang. Quê hương ông có đền Ðệ Nhị, tức đền Mã Sơn (đền ở trên núi Mã) ở làng Yên Mã, thờ Mẫu Liễu Hạnh. Ông có làm đôi câu đối tặng ghi ở đền: “Di tích thiên thu Vân Cát trụ/Linh thanh vạn cổ Mã Sơn từ” (Trụ Vân Cát thiên thu di tích/ Ðền Mã Sơn vạn cổ tiếng linh). Ðền thờ Mẫu Liễu Hạnh được lập ở nhiều nơi trong nước như: Sùng Sơn, Phố Cát, làng Củi, Yên Mã… Ðền thờ chính ở Phủ Dầy, Nam Ðịnh.

Phan Bội Châu (1867 – 1940), trước tên là Phan Văn San, hiệu Sào Nam, quê làng Ðan Nhiễm, xã Xuân Hòa, huyện Nam Ðàn (nay thuộc xã Vạn An) tỉnh Nghệ An. Nổi tiếng “thần đồng”, lên 16 tuổi đỗ đầu xứ, nên thường gọi là Ðầu xứ San. 17 tuổi viết Bình Tây thu Bắc, hăm hở muốn tụ nghĩa, ra quân chống Pháp. Ðậu Giải nguyên thi Hương khoa Canh Tý, niên hiệu Thành Thái năm thứ 12 (1900). Năm 1904 lập Hội Duy Tân, bầu Kỳ Ngoại hầu Cường Ðể làm minh chủ, dùng thủ đoạn võ trang bạo động và nhờ ngoại viện để “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, lập ra chính phủ độc lập”. Ðầu năm 1905, Phan Bội Châu xuất dương sang Nhật, rồi phát động phong trào Ðông Du sôi nổi (1905 – 1909). Ngày 30/6/1925, cụ Phan bị bắt cóc ở ga Bắc Thượng Hải đem về nước. Thực dân Pháp đưa cụ ra xử ở tòa Ðề hình. Nhân dân cả nước dấy lên một phong trào đấu tranh rầm rộ đòi Pháp phải trả tự do cho Phan Bội Châu. Thực dân Pháp buộc phải tha bổng cụ Phan, nhưng bắt quản thúc ở Huế cho đến khi mất. Ông có làm đôi câu đối Tự Vãn (Tự viếng) lúc ở Nhật Bản: “Cô hồng thất mã cửu huynh đệ/ Vạn thủy thiên sơn đa tính danh” (Hồng có ngựa chiếc chín anh em/ Muôn núi nghìn non nhiều tên tuổi). Khoảng cuối năm 1905, Phan Bội Châu và mấy anh em thanh niên Ðông Du lúc bấy giờ đang bơ vơ đất khách (Nhật Bản). Tình cảnh gặp nhiều khó khăn, nhưng thương yêu nhau. Vì vậy Phan Bội Châu thường hay làm thơ, câu đối tự vịnh, tự viếng. Ðây là một trong số những câu đó. Câu này trích theo Phan Bội Châu niên biểu, (nguyên văn chữ Hán. Sách của thư viện Khoa học xã hội. Ký hiệu: VHv 2138, Tôn Quang Phiệt dịch).

Bộ sách Câu đối xứ Nghệ (Nxb Nghệ An, 2005)

Ðặng Nguyên Cẩn (1867 – 1923) hiệu Thai Sơn, còn tên là Ðặng Thai Nhẫn, quê làng Lương Ðiền, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương (nay thuộc xã Bích Hào) tỉnh Nghệ An. Ðậu Phó bảng khoa Ất Mùi, niên hiệu Thành Thái năm thứ 7 (1895). Làm quan: Giáo thụ Hưng Nguyên, Ðốc học Nghệ An, Ðốc học Bình Thuận. Ông tham gia yêu nước, thuộc phái Minh xã, cùng Ngô Ðức Kế, Phạm Văn Ngôn lập Triều Dương thương điếm ở Vinh. Năm 1908, trong phong trào chống thuế ở Trung Kỳ, ông bị Pháp bắt đày ra Côn Ðảo. Ông có đôi câu đối điếu Dương Trường Ðình, một sĩ phu yêu nước tham gia phong trào Ðông Du, nói tinh thần yêu nước, làm cách mạng dù có phải chết nơi sa trường (thây bọc da ngựa): “Ðại trượng phu vô sở vi nhi vi, tùng linh đồng tượng thạch bi, phỉ ngã yêu cầu thân hậu dự/ Tinh thần giới an tri tử bất tử, gia mặc độc xa mã cách, đa quân khẳng khái bệnh trung thư” (Ðấng trượng phu thấy nên thì làm, dẫu rằng bia đá, tượng đồng, danh hóa mơ màng kiếp khác/ Cõi tinh thần biết đâu chết không chết, phó mặc xe bò, da ngựa, thơ người khẳng khái viết khi đau).

Vương Thúc Quý (1862 – 1907), quê làng Chung Cự, xã Kim Liên, huyện Nam Ðàn (nay thuộc xã Kim Liên) tỉnh Nghệ An. Ðậu Cử nhân khoa Tân Mão, niên hiệu Thành Thái năm thứ 3 (1891). Ông là con của Tú tài Vương Thúc Mậu, người dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp và bị giết ngay tại quê nhà. Sau khi thi đậu, ông không làm quan, mà ở nhà dạy học, ngầm liên kết với các chí sĩ cách mạng và là thầy dạy chữ Hán cho Bác Hồ thuở nhỏ. Ông có đôi câu đối tự thán: “Thập niên bất độc phụ thân sở hiếu Tử Phòng Gia Cát truyện/ Nhất cử xảo thù mẫu chí hận phi Nhâm Ngọ Giáp Thân tiền” (Mười năm không đọc sách yêu cha, ấy ham truyện Trương Lương, Gia Cát/ Một phen thi đỗ khéo đền chí mẹ, tiếc không trước khoa Nhâm Ngọ, Giáp Thân). (Theo Nam Ðàn xưa và nay, Trần Lê Sáng, tr.140).

Câu đối giai thoại về Bác Hồ: Bác Hồ lúc còn nhỏ có một thời gian theo học thầy cử Vương Thúc Quý. Hàng ngày trước khi giảng bài, thầy thường đốt đèn thắp hương tưởng nhớ người cha đã bị giặc Pháp giết hại. Có một hôm thầy lỡ tay làm đổ dầu xuống đế đèn. Nhân đó ra cho học trò một vế câu đối: “Thắp đèn lên dầu vương ra đế”. Cậu học trò Nguyễn Sinh Cung (Bác Hồ) đã đối lại theo ý mình: “Cỡi ngựa dong thẳng tấn lên đường”. Thầy Quý sửng sốt vì vế đối vượt ra ngoài ý nghĩ thông thường của cậu bé 10 tuổi.

Ðinh Loan Tường (1886 – ?), người làng Ngọc Ðoài, xã Quỳnh Bá, huyện Quỳnh Lưu (nay thuộc xã Quỳnh Lưu) tỉnh Nghệ An. Ðậu Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Khải Ðịnh năm thứ 1 (1916). Làm quan Thừa phái Bộ Lại. Ông làm đôi câu đối ghi vào cổng làng, trong đó nói đến núi Long Mã là một cảnh đẹp của quê nhà: “Ngân Thai tú thủy đông tây hội/ Long Mã kỳ sơn tả hữu triều” (Ngân Thai sông đẹp đông tây hội/ Long Mã núi kỳ trái phải chầu).

Nguyễn Thức Ðình (1893 – 1954) người làng Ðông Chử, xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc (nay thuộc xã Ðông Lộc) tỉnh Nghệ An, con trai thứ 8 của cụ Sơn phòng Chánh sứ Hà Tĩnh Nguyễn Thức Tự. Ông tham gia vào phong trào yêu nước, làm tài chính, quyên góp tiền bạc hỗ trợ cho phong trào Ðông Du của Phan Bội Châu. Ông có đôi câu đối tặng cụ Thuyết khi cụ 70 tuổi, từng giữ chức lý trưởng ở quê: “Nhớ trước ba mươi năm, nào ngựa, nào heo, mười dặm nghênh ngang thầy lẫn tớ/ Bây giờ ngoài bảy chục, có bò, có ruộng, một nhà sum họp cháu cùng con”.

Nguyễn Sỹ Sách (1907 – 1929), người thôn Tú Viên, xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương (nay thuộc xã Xuân Lâm) tỉnh Nghệ An. Từ năm 1927, ông tham gia Tân Việt Cách mạng Ðảng, rồi được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp bồi dưỡng chủ nghĩa Mác – Lênin do Nguyễn Ái Quốc mở. Về nước, ông làm Bí thư Kỳ bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội ở Trung Bộ. Ông bị Pháp bắt năm 1929, đày lên Lao Bảo và bị chúng giết ngày 19/12/1929. Ðôi câu đối anh em tù Lao Bảo điếu Nguyễn Sỹ Sách nói ý chí sống bền gan vững chí trung thành tuyệt đối với cách mạng, chứ không sống như thân trâu ngựa…: “Sung sướng gì thân trâu ngựa, mà vợ con, mà nhà cửa, chi bằng chiến đấu với quân thù, đắp móng xây nền cho cách mạng/ Hãi hùng chi cuộc đọa đầy, cứ tổ chức, cứ tuyên truyền, cho đến liều thân cùng súng đạn, bền gan vững chí với công nông” (Ðồng chí Nguyễn Thiệu thay mặt anh em tù Lao Bảo nhân ngày 3/2/1930, ca ngợi đồng chí Nguyễn Sỹ Sách).

Tú Mỡ (1900 – 1976), chính tên là Hồ Trọng Hiếu, quê ở xã Quỳnh Ðôi, huyện Quỳnh Lưu (nay thuộc xã Quỳnh Anh) tỉnh Nghệ An, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông sáng tác nhiều thơ trào phúng, tiêu biểu như câu châm biếm tên tướng thực dân ra oai hét trước quân lính: “Lúc điểm binh giữa tiếng trống kèn hòa nhịp, mắt vọ đưa uy sáng quắc, bật nẩy thành tia/ Khi kỵ mã trước hàng tùy tướng tuốt gươm, miệng hùm truyền lệnh oang oang, hét hò ra lửa”.

Hoàng Văn Nghiệm (1901 – 1997), còn có tên Hoàng Thúc Vỵ, con trai Cử nhân Hoàng Thúc Lương. Quê làng Khánh Duệ, xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc (nay thuộc xã Ðông Lộc), tỉnh Nghệ An. Ông có đôi câu đối ghi ở nghĩa trang họ Hoàng, có nói đến bàu Sen Lương Mã là một cảnh đẹp của quê hương: “Kim ốc Kỳ Lĩnh thiên thu tại/ Dao trì Lương Mã nhất chương ca” (Nghĩa trang Kỳ Lĩnh nghìn thu tồn tại/ Bàu Sen Lương Mã thơm phức hương sen).

Ðào Quang (? – 1931), quê làng Thanh Ðoài, xã Quỳnh Thuận, huyện Quỳnh Lưu (nay thuộc xã Quỳnh Phú) tỉnh Nghệ An. Ông là Ủy viên BCH Huyện ủy lâm thời Quỳnh Lưu tháng 4/1930; có công thành lập Chi bộ Cộng sản tổng Thanh Viên. Tháng 7/1930, ông được bầu làm Bí thư Huyện ủy Quỳnh Lưu, lãnh đạo trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, bị Pháp bắt xử tử hình. Ông có đôi câu đối tuyệt mệnh nêu rõ quan điểm sống chết phải mang ý nghĩa, chết phải vì nước vì nòi giống, hơn sống mà làm kiếp nô lệ ngựa trâu: “Chết như thế cũng nên cái chết, chết vì nòi giống, chết vì non sông, chết vẻ chết vang, chết để ngàn thu ghi tạc mãi/ Sống mà chi thà đừng nên sống, sống kiếp ngựa trâu, sống nhơ sống nhuốc, sống dù trăm tuổi cũng không màng”.

Đào Tam Tỉnh