Tháng Tám về, giữa niềm hân hoan của mùa thu cách mạng, lòng tôi chợt lặng trong từng bước chân trở về quê ngoại – làng Diệu Ốc thân thương – nơi đã ươm mầm cho những trang đời, trang chữ và cả những trang sử hào hùng.
Bóng dáng ngoại tôi – người thầy áo dài lặng lẽ như hiện về bảng lảng giữa làn hương trầm trong gian nhà cũ nép mình bên hồ sen Diệu Ốc.
Tôi trở lại Giai Lạc, tỉnh Nghệ An sau bao năm xa cách, mang theo nỗi nhớ cồn cào đến mức không thể gọi thành tên. Bố mẹ tôi nay đã yên nghỉ nơi miền mây trắng. Căn nhà cũ của ngoại lặng lẽ soi bóng xuống hồ sen trong vòm trời tháng Tám xanh cao. Kỷ vật vẫn còn đây: chiếc án thư đã bạc màu thời gian, nghiên mực nâu khô, những quyển sách chữ Hán, Nôm thoảng mùi giấy cũ, mùi gió đồng… mà người thì đã vắng bóng tự bao giờ.

Ông ngoại tôi là con cụ đồ Lê Liễu. Theo lời dẫn trong tập “Thơ Lê Liễu” (1857-1930), do Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã Hậu Thành biên soạn, xuất bản năm 1993, cụ là người nổi tiếng “văn hay chữ tốt” trong vùng. Năm 18 tuổi, hưởng ứng phong trào Cần Vương, cụ cùng bạn bè ra Yên Thế tham gia nghĩa quân Đề Thám. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, cụ trở về quê, sống ẩn dật tại lèn Cò. Đến năm Mậu Ngọ (1894) cụ lại khăn gói lều chõng đi thi và đậu tú tài khi đã 37 tuổi.
Quan Đốc học Nghệ An từng mời cụ ra dạy chữ Hán ở một trường công, nhưng cụ từ chối, trở lại quê mở lớp dạy học. Cảm phục tài năng và đức độ của cụ, học trò từ các làng trong 5 tổng kéo về theo học rất đông. Nhiều người sau này trở thành trí thức yêu nước, trong đó có con trai của cụ – là ngoại tôi tên là Lê Tâm Ân.

Đóng góp lớn nhất của cụ Lê Liễu đối với quê hương Yên Thành là sự nghiệp văn chương. Cụ để lại bản trường ca nổi tiếng “Nam quốc tỉnh mê ca” (Bài ca thức tỉnh nước Nam) – được xem như một bản anh hùng ca – cùng hàng trăm bài thơ phú, câu đối có giá trị. “Bài ca thức tỉnh nước Nam” kể lại hào hùng chặng đường vẻ vang của dân tộc Việt Nam từ thời các Vua Hùng đến những năm chống thực dân Pháp, đồng thời kêu gọi toàn dân vùng dậy giành độc lập.
Ngoài văn xuôi, cụ còn sáng tác nhiều bài thơ chan chứa tình yêu quê hương, đất nước. Bài “Vịnh núi Cao Sơn” khắc họa vẻ đẹp và khí phách của non sông:
Đây đất Cao Sơn những nổi danh
Quỷ thần hà khắc cũng đa tình.
…
Lên cao chót vót nhìn xa thấy
Bức vẽ non sông giáp Diễn, Anh.
Bài “Lên núi Động Huyệt” lại mở ra không gian linh thiêng, nơi thiên nhiên và lịch sử giao hòa:
Huyệt Sơn huyệt ở nơi đâu
Dấu thiêng nay đã từ lâu chôn vùi.
…
Ngẩng đầu đối mặt trời hồng
Ngước nhìn bát ngát trời lồng mây xanh.
Những vần thơ ấy không chỉ khắc ghi vẻ đẹp của núi sông mà còn gợi nhớ về một miền quê thanh bình – nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn thi sĩ. Dưới bóng tre làng, tiếng gà gáy trưa quyện cùng tiếng giảng bài khe khẽ, mùi mực tàu hòa trong hương rơm mới, nồng nàn như hồn đất. Mỗi sớm mai, khi sương còn đọng trên ngọn cỏ, cụ ngoại tôi đã lom khom bên án thư. Truyền thống hiếu học ấy, theo năm tháng, như dòng suối ngầm chảy qua từng thế hệ, thấm vào từng nếp nghĩ, nếp ăn ở của làng quê Giai Lạc.
Về sau, ông ngoại tôi – Lê Tâm Ấn – nối nghiệp dạy học của cha và trở thành người thầy giáo cách mạng. Vẫn vóc dáng mảnh gầy, đôi mắt trầm ngâm sau lớp kính dày, ông lặng lẽ gieo chữ giữa mùa giông bão của đất nước. Căn buồng nhỏ với giá sách cũ, chồng giáo án ố vàng và bức ảnh chữ “tâm” treo trang trọng giữa nhà – tất cả như còn đâu đây, mơ hồ ẩn hiện qua làn khói bếp. Tôi nhớ ngày còn thơ bé, mỗi dịp rằm tháng Bảy, mùa vu lan báo hiếu, lại được theo mẹ về quê ngoại. Mẹ dắt tôi lên đền Hoàng thắp hương, rồi men theo con đường đất ra hồ sen Diệu Ốc. Mỗi khi sen nở, hương ngan ngát thoảng như lời thì thầm của đất trời. Mẹ kể: “Ngày xưa, mỗi chiều ông ngoại đi dạy về thường đưa bà ra đây ngồi hóng mát. Bà ngồi dưới gốc thị, ông ngồi cạnh, tay phe phẩy chiếc quạt mo. Vừa quạt, ông vừa kể chuyện đời dâu bể, chuyện đạo lý làm người, chuyện vua Quang Trung từng dừng quân nơi này, tuyển mộ binh sĩ trên đường ra Bắc diệt giặc Thanh…”.
Những câu chuyện tưởng chừng đã ngủ yên trong ký ức nay bỗng sống dậy, thắc thỏm trong tim tôi từng chi tiết như thước phim quay chậm.
Bà ngoại đã trở về với tổ tiên, mẹ cũng chẳng còn bên tôi. Nỗi trống trải âm ỉ lan như mạch ngầm. Tôi thèm được nghe mẹ gọi, thèm thấy dáng bà bên gốc thị, mùi trầu thoảng trong gió chiều. Những người phụ nữ hiền hậu ấy đã đi qua đời tôi như những mùa sen – để lại hương thơm và khoảng trống không gì lấp đầy. Giữa mênh mang hồ Diệu Ốc, tôi thấy mình nhỏ bé, như đứa trẻ lạc giữa miền ký ức, chới với muốn níu lại một thời đã vắng xa.

Ông ngoại tôi là một trong những trí thức yêu nước đầu tiên của vùng. Trong vai trò một thầy giáo, ông không chỉ truyền dạy con chữ, mà còn gieo vào lòng học trò tinh thần yêu nước, lý tưởng cách mạng. Ông tham gia Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội – tổ chức do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, tiền thân của Đoàn thanh niên Cộng sản.
Dưới vỏ bọc thầy giáo, ông được phân công dạy học tại nhà viên quan tuần phủ huyện Tương Dương, âm thầm truyền bá tư tưởng yêu nước. Trong một lần đang giảng dạy, ông bị bắt, bị tra tấn đến kiệt sức rồi mới được thả. Không lâu sau, ở tuổi 26, ông qua đời, mang theo bao khát vọng còn dang dở.
Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, ông không còn để được chứng kiến, được hòa mình trong âm vang lời ca độc lập. Nhưng tên tuổi và tinh thần của thầy giáo Lê Tâm Ấn vẫn sống trong ký ức học trò, đồng chí và quê hương. Ngọn lửa cách mạng ông từng nhen nhóm, lý tưởng ông từng trao gửi, vẫn cháy mãi qua bao thế hệ.
Giờ đây, đứng trước ngôi nhà xưa, trước chiếc án thư phủ bụi thời gian, tôi như thấy ông nghiêng nghiêng bên ngọn đèn dầu, nắn nót viết từng nét chữ mềm mại, miệng khe khẽ đọc những vần thơ tự sáng tác. Mọi thứ như vừa xa xôi, vừa gần gũi đến nghẹn ngào trong tôi.
Càng lớn tuổi, càng trải qua nhiều thăng trầm, tôi càng thấm thía vai trò của những người thầy thầm lặng – như ông ngoại tôi – người không chỉ gieo con chữ, mà còn góp phần vun đắp cho mùa thu đất nước, mùa thu cách mạng nở hoa.
Lớp học năm nào giờ chỉ còn trong ký ức lớp người già. Học trò xưa, người còn, người mất. Nhưng tên ông tôi vẫn đó, như vệt sáng âm thầm trong lòng người Giai Lạc. Ông được nhắc đến bên ấm trà, trong lời kể bên hồ sen chiều lộng gió. Dẫu không danh vị cao sang, lòng dân quê tôi vẫn dành cho ông sự kính trọng sâu xa – người đã gieo mầm tri thức nơi làng quê nghèo giữa những năm tháng giông bão.

Tôi run run cắm mấy nén nhang. Từ ngôi nhà nép mình bên hồ Diệu Ốc, từ những trang sách Hán Nôm nhòe dấu mực, từ ánh mắt trìu mến của mẹ trong mỗi lần kể chuyện cũ… tôi như thấy ngoại hiện diện, thì thầm: “Con đang được tận hưởng thành quả của Cách mạng tháng Tám. Hãy gìn giữ và phát huy thành quả ấy”!
Ngoài kia, nắng đã vàng ruộm xóm làng. Nắng tháng Tám mang theo bao xôn xao của sự chuyển động không ngừng. Làng Diệu Ốc quê tôi, quê ngoại đang từng ngày thay áo mới tươi đẹp hơn.
Đường Hùng














