Nếu nhìn các con chữ trong Từ miền gió cát theo chiều thẳng đứng (trục dọc) thì như ai đó đã khẳng định, thơ Đậu Phi Nam là cuộc hành hương trở về, nhưng nếu cứ theo mặt chữ nhìn nghiêng (trục ngang) thì không hẳn như vậy. Không ồn ào tuyên ngôn, cũng không tỏ ra phá cách, cố công tìm kiếm, cách tân gì cả mà nhà thơ cứ lặng lẽ đối thoại với chính mình, hành trình bắt đầu từ miền gió cát quê anh. Thơ Đậu Phi Nam, căn bản vẫn bám chặt truyền thống, chỉ đôi lúc, tư duy thơ, từ vùng ý thức bất chợt “rơi” vào vùng “hoang dã” của vô thức. Nhưng dù ý thức hay vô thức, cảm hứng chủ đạo của thơ Đậu Phi Nam trong Từ miền gió cát vẫn là thức dậy kí ức, từ kí ức đối thoại với chính mình, cũng là đối thoại với thời gian, với cái lưu thủy đã qua và cái thủy lưu đang dần dần tới, để rồi cứ miên man trong dòng suy tưởng trước muôn nỗi đa đoan kiếp phận con người, và cả những thăng trầm dâu bể của cuộc đời.
Bản ngã đời trôi chấm bụi tàn
Phù du tu nghiệp tại nhân gian
Vô ngã luân thường nơi kiếp bạc
Vũ trụ chuyển giao nghiệp thủy lưu.
(Nghiệp lưu thủy)

Hiện tại, nhìn trên mặt bằng chất lượng thơ đương đại Việt nói chung, thơ Nghệ An nói riêng thì Từ miền gió cát của Đậu Phi Nam dễ được nhiều người đọc hào hứng đón nhận. Bởi lẽ, ở một mức độ nhất định, với Từ miền gió cát, Đậu Phi Nam đã trỏ một lối riêng. Dễ nhận ra, 88 bài thơ trong Từ miền gió cát, Đậu Phi Nam chỉ rặt một giọng: đối thoại với chính mình, riêng mình, để rồi đi đến tận cùng lòng mình, ngõ hầu, trình hiện một bản lai diện mục của mình. Đậu Phi Nam chủ yếu dùng kí ức ý thức (chữ của Proust) làm chất liệu cho thơ, qua đó, đánh thức một vùng kí ức tuổi thơ. Đó là nỗi ám ảnh đến nhói buốt không gian làng quê – làng Mỗi quê anh:
Nơi này đây những cánh sim làng Mỗi
Nhà máy mọc lên, con đường mới làm xong
Kiếm tìm hoa mà chấp chới trong lòng
Đâu màu tím hoa sim, đâu những trò trốn tìm ngày trước.
(Hoa sim làng Mỗi)
Không chỉ là nỗi nhớ mà nhà thơ đang hối hả kiếm tìm những mảnh kí ức thân thương của cái làng Mỗi của anh. Quá khứ và hiện tại cứ nhập nhòe đan xen, chập chờn ẩn hiện đằng sau những câu chữ được nhà thơ “nhặt” từ ngôn ngữ thường ngày, bình dị, thân quen. Có điều, nếu nhìn nghiêng, cái vẻ bình dị, thân quen ấy đâu còn nữa, bởi chúng được ánh lên, vang ngân do “con chữ” chấp chới truyền dẫn, lan tỏa và gây nhiễm. Chỉ một chữ chấp chới, vừa thị giác vừa ảo giác, vừa trực cảm vừa siêu cảm, vừa ý thức vừa vô thức,… đã làm mờ nhòe ý nghĩa của khổ thơ, dẫn dắt khổ thơ tạo sinh nhiều nghĩa mới. Chữ chấp chới giàu tính tượng hình – biểu cảm, bộc lộ cái chới với, hẫng hụt trong cảm xúc, diễn tả cái chơi vơi, thổn thức trong tâm trạng nhà thơ. Một trạng thái nhiễu loạn, thảng thốt của người như vừa đánh mất cái mình trân quý nâng niu, gìn giữ. Thi ảnh cánh sim màu tím nhuộm thắm tình quê, neo giữ lâu bền hồn quê trong thăm thẳm đời người. Là người rất có ý thức khai mở kí ức, Đậu Phi Nam cứ nhẩn nha “trần tình” cái cảnh huống từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người (Trịnh Công Sơn):
Tôi
Đứa con của miền gió cát
Sinh ra sau cơn nước bạc
Bàn đẻ vô trùng là cái nong của mẹ đãi cát
Dưới chái hồi chày đạp
Tôi lặng lẽ ra đời rao tiếng khóc quê cha.
(Từ tâm)
Từ nhận thức nhạc điệu là ngôi vị hàng đầu của thơ (Verlaire), Đậu Phi Nam đã tổ chức linh hoạt các kiểu tiết tấu cho câu thơ, khổ thơ; và mỗi kiểu tiết tấu đều in đậm dấu ấn sâu sắc nội dung, biểu đạt chính xác tình cảm – cảm xúc của nhà thơ. Ở khổ thơ trên, tác giả kết hợp tổ chức “trật khớp” giữa câu thơ, dòng thơ với hiệp vần bằng các vần khép (trong các âm tiết khép) at/ac/at/ap/oc trong cát, bạc, cát, đạp, khóc cùng với các nhịp thơ biến thiên, vô thường 1/0, 6/0, 2/4, 4/7, 5/0, 4/1/4 nhằm tạo nên một thứ nhạc điệu chùng xuống, chậm rãi, trầm buồn như được cất lên từ những suy tư chiêm nghiệm, những dằn vặt ẩn ức của một tuổi thơ nhọc nhằn, khốn khó. Chữ rao trong câu thơ Tôi lặng lẽ ra đời rao tiếng khóc quê cha là một điểm nhấn, một ám gợi về sự dữ dội, sâu sắc trong suy nghiệm, vừa nhạy cảm, tinh tế trong mạch nghĩ của tác giả. Thì ra, những gì của kí ức (đứa con của gió cát, cơn nước bạc, bàn đẻ, cái nong đãi cát, chày đạp,…) chỉ là cái cớ để cho những rung cảm kí ức được ngân lên, những nghiệm sinh về kiếp phận con người được bày tỏ. Không chỉ là kí ức, gần như, trong mỗi mạch sống hàng ngày, Đậu Phi Nam đều có một niềm thao thức về người mẹ, luôn trăn trở từng kỉ niệm về mẹ:
Con về thăm lại vườn xưa
Trầu đâu chẳng thấy
Cau xưa gốc rồi?
Góc vườn là lão bình vôi
Lăn vào nỗi nhớ
Làm tôi rát lòng.
(Vườn xưa)
Cùng với việc sử dụng các hình ảnh chuyển nghĩa (mảnh) vườn, (giàn) trầu, (cây/quả) cau, bình vôi là cách làm mới truyền thống, mà ở đây là chặt đôi câu lục bát, là tách đôi dòng bát nương theo mạch cảm xúc và tình ý cần diễn đạt. Sự đứt gãy dòng thơ và tách dòng cùng với việc láy lại khuôn nhịp 2/4, 4/0, 4/0, 2/4, 4/0, 4/0 trong sáu dòng thơ chứng tỏ Đậu Phi Nam có khả năng làm thơ trên chiều “năng nghĩa” (significant): về thăm lại vườn xưa chính là thức dậy kí ức, rà soát những dấu tích về mẹ, là về với lòng mình để đối thoại về tình mẫu tử, là tự vấn nghiêm khắc việc làm tròn chữ hiếu, là nỗi day dứt không nguôi những thiếu khuyết trong đạo làm con mỗi khi hình ảnh mẹ hiện về: Trời xanh cao lưng mẹ lại còng/ Sớm gánh sương lên phố Cồng/ Trưa đội mưa về chợ Trúc/ Chiếc nón cời che nghiêng tràn bánh đúc/ Giọt nắng vọt vàng cắt chéo ngang lưng (Quê ngoại). Trong thơ Đậu Phi Nam, các thi ảnh thường được pha trộn khéo léo giữa hồi tưởng và thực tại, giữa cái đã qua và cái đang hiện hữu,… Từ nhiều chiều thời gian, nhà thơ cứ đối thoại với chính mình về những được mất, những niềm đau bám riết con người; qua đó, gợi dẫn cho người đọc nhiều liên tưởng bất ngờ, da diết và sâu lắng.
Cuộc chiến tàn khóm tre
Nhưng đã kết lâu rồi
Tím hờn em cứ đợi
Trọn một đời đơn côi.
(Vắng anh)
Nếu nhìn nghiêng các chữ trong khổ thơ, dễ thấy, các “con chữ” rồi, đợi, đời, côi và hờn, trọn, đơn cứ ríu vào nhau, hòa âm, vang lên khúc nhạc lòng đau đớn và bi thương, da diết và khắc khoải. Vậy là, cách làm chữ của Đậu Phi Nam đã đưa thơ đến gần hơn với người đọc, buộc người đọc cùng tham gia tạo sinh nghĩa cho thơ.

Cũng Từ miền gió cát, khi được mẹ Trao túi cùng bút nghiên trên đường danh nghiệp, Đậu Phi Nam rộng mở miền suy tưởng trong thơ. Một lần qua Thanh Chương – quê hương của ví giặm, của những nhút mặn chua cà, nhà thơ bất chợt nhận ra:
Cầu Rộ ban trưa
Đưa tôi về câu ví
Sông Lam một dòng
Đón nỗi nhớ trôi nghiêng.
(Thanh Chương một lần qua)
Những chữ chỉ sự vật cầu Rộ, sông Lam (địa danh), ban trưa (thời gian), một dòng (không gian), câu ví cùng với những chữ chỉ hành động đưa, đón; tất cả đều là thực tại, hiện hữu, cụ thể được đặt đồng thời với tổ hợp chữ nỗi nhớ trôi nghiêng phô diễn tâm trạng thổn thức, mơ hồ, chơi vơi, hư ảo của nhà thơ. Trong cái nỗi nhớ trôi nghiêng đó, sông Lam và câu ví như một ám ảnh, một dằn vặt ngẫm ngợi về việc bảo tồn một di sản tinh thần, một giá trị văn hóa của quê hương. Câu chữ của Đậu Phi Nam cứ chơi vơi giữa hiện hữu và hư ảo, nhói buốt tâm tư, đánh thức nhiều chiều nghĩ suy của người đọc. Trong thơ, Đậu Phi Nam còn đặt con người bên cạnh tự nhiên, bản thể để nghiệm sinh về kiếp phận nhỏ nhoi, mong manh của con người và muôn nỗi đắng cay, tủi nhục của cuộc đời.
Tôi và mưa uống nhau giữa trời
Mưa giông tố reo cười
Tôi ngậm ngùi đắng chát
(Tôi và mưa)
Và:
Trên núi lửa
Kiếp phù du
Vòng luân hồi tạo hóa
Dưới gốc gạo
Cháu bé đói lả trong tay ôm chùm hoa gạo
Gạo ơi là gạo
Sao chỉ biết đốt đuốc ghẹo trời
(Khi nào?)
Trong tư tưởng, Đậu Phi Nam muốn con người giao hòa với tự nhiên, ngang hàng với bản thể. Thế nhưng, bản thể vẫn là Đấng Tối Cao, Đấng Toàn Năng (chữ của Trần Nhuận Minh), còn con người chỉ là trò diễn của vòng luân hồi tạo hóa, luôn phải chấp nhận đắng chát, đói khát, vật vờ trong muôn kiếp phù du. Chỉ tới khi, nhìn từ xa, trên dòng Mê Kông đất Lào, Đậu Phi Nam mới bất chợt nhận thấy tầm vóc của con người:
Nơi em tắm
Mê Kông ngời ngời ánh bạc
Khát cháy thác rừng
Khát cháy mái đầu anh
(Nơi em tắm)
Chất liệu của bốn câu thơ trên, gần như, được làm từ kí ức vô thức. Các thi ảnh cứ chập chờn giữa thực tại và hư ảo, giữa hiện hữu và bào ảnh; theo đó, ý nghĩa của các câu thơ cũng thấp thoáng, ẩn hiện, không dễ nắm bắt. Cố nhiên, lần tìm trong cái vầng mờ của chữ cùng với các nhịp thơ 3/0, 2/4, 1/3, 1/4, ta cũng nhận ra nhà thơ đang miên man suy ngẫm về vẻ đẹp của con người, tự tin khẳng định vẻ đẹp của con người còn cao hơn tự nhiên, bản thể. Khi đã có nhiều trải nghiệm về nhân thế và quá nửa đời khám phá, Đậu Phi Nam mới mở rộng đường biên và gia tăng chiều sâu miền suy tưởng trong thơ anh.
Nhìn lại, riêng tôi, rất thích các bài thơ Nghiệp lưu thủy, Hoa sim làng Mỗi, Vườn xưa, Vọng phu, Lời ru, Sinh nhật, Thu, Mị Châu. Đậu Phi Nam cũng có khá nhiều câu thơ hay, tỉ như một số câu thơ viết về mẹ, hàm chứa nhiều liên tưởng sâu sắc, rất ám gợi, dễ đi thẳng vào trí nhớ người đọc. Nhưng mà, nếu đòi hỏi một sự tròn đầy, toàn bích thì tập thơ vẫn còn đôi ba câu thơ “gầy”; nguyên do, tứ thơ đã gặp đâu đó (Cuội – Ngọc Thỏ tác thành đôi/ Anh với cô đơn thành đá – Nhớ đá), do chữ dùng chưa đủ công lực (Ta và cái bóng của ta/ Cùng nhau say khướt đời ta một đời – Ta và bóng), do trùng ý, lặp vần (Mảnh trăng non, dáng hao gầy/ Qua hai cuộc chiến heo gầy mảnh trăng – Trăng thượng tuần), hoặc do dư thừa cả câu thơ chăng (có thể bỏ câu thơ Say đi chén, chén đời trong bài thơ Trăng: Trăng tràn chén rượu vơi/ Tình suông, vành trăng khuyết/ Say đi chén, chén đời/ Khuyết tròn trăng đợi/ Tình tình đầy vơi), hoặc do,… Mong rằng, từ những gì đã có, đang thành tựu, ở những bài thơ tới, và trong những tập thơ tiếp theo, tiếng thơ của Đậu Phi Nam vượt qua được chính mình, thực sự đứng riêng một lối, khẳng định vị trí trong lòng độc giả cả trong và ngoài xứ Nghệ.
Nguyễn Hoài Nguyên
(Bài đã đăng trên tạp chí Sông Lam số 27, tháng 9/2022)















