Văn học dân gian người Mông Nghệ An: Gian nan bảo tồn

Điệu múa khèn của chàng trai người Mông ở huyện Tương Dương. Ảnh: Đào Thọ

Người Mông Nghệ An chủ yếu sinh sống ở khu vực núi cao giáp biên giới Việt – Lào thuộc các huyện Tương Dương, Kỳ Sơn và Quế Phong. Cộng đồng này di cư vào xứ Nghệ khoảng 200-300 năm trở lại đây và còn lưu giữ nhiều những câu chuyện cổ tích, những câu hát dân ca của dân tộc mình. Tuy nhiên, việc giữ gìn và lưu truyền lại được giá trị của nền văn học dân gian này hiện nay quả thực đáng lo ngại.

Những nghệ sĩ của bản làng

Nói đến văn học dân gian người Mông, trước hết phải nói đến những câu hát êm ả, đầy chất trữ tình trong những câu dân ca của cộng đồng này. Bà Xồng Y Pà ở bản Nậm Càn (xã Nậm Càn, Kỳ Sơn) là người được biết đến với những câu hát dân ca hay nhất vùng bảo rằng, mỗi đứa trẻ người Mông từ khi mới sinh ra đã được nghe lời mẹ hát ru bằng những câu “cự xia” (kwv txhiaj) nói về cuộc sống, về quê hương làng bản. Lớn lên thì được theo các anh chị đi ném hội pao ngày xuân để nghe hát về tình yêu đôi lứa thông qua những nhạc cụ như khèn, khèn lá, đàn môi…

Bà Y Pà cho biết: “Mẹ cũng chẳng biết mẹ biết hát cự xia từ lúc nào, tự nhiên nó cứ ngấm vào người rồi thốt ra thành lời hát. Ngày trước, theo bố mẹ lên nương rẫy cũng được nghe hát, về nhà cũng được nghe hát nên hát theo rồi thành mê. Đến bây giờ mẹ có thể hát cự xia cả ngày, cả đêm cũng được. Vợ chồng mẹ cũng gặp nhau từ những câu hát ấy đấy”.

Nói xong, bà hát lên rằng: “Người con trai ta yêu ơi, năm nay đẹp và may mắn cho em được gặp anh. Anh ở bản nào lên đây, tại sao lại biết nói chuyện vui làm cho người con gái như em không muốn đi làm ăn nữa. Bố mẹ anh ăn gì sinh ra anh đẹp trai như thế?…”

Ở bên kia ông chồng bà đối lại:

Người con gái đẹp gái ơi, anh ở bản… lên, hôm nay là ngày tết anh may mắn được gặp em, trong lòng anh đã trộm yêu em rồi. Bố mẹ anh ăn rau muối sinh ra anh thôi…”

Cuộc đối đáp bằng những câu hát cứ thế kéo dài cho đến lúc bên kia không tìm được câu hát đối lại mới thôi.

Bản làng người Mông ở xã Tây Sơn (huyện Kỳ Sơn).

Còn đối với chị Lầu Y Pai ở xã Mường Lống (Kỳ Sơn) thì mỗi độ xuân về, dù đã có chồng nhưng nghe những câu dân ca vút lên hòa cùng tiếng khèn réo rắt chị lại chẳng thể nào yên được. Những lúc ấy chị lại rủ anh cùng nhau đi xem hội ném pao của đám thanh niên. “Bây giờ bình thường chẳng mấy ai hát cự xia đối đáp nữa nên những lúc rảnh rỗi mình thường bảo đứa con chạy ra ngoài trung tâm xã, chỗ có mấy cửa hàng điện thoại tải cho mấy bài hát dân ca vào máy để về xem cho đỡ buồn” – chị Y Pai ngậm ngùi.

Tuổi đã già, không còn hát được “cự xia” nhưng ông Và Xếnh Lù ở bản Thăm Hín (xã Nậm Càn, Kỳ Sơn) vẫn nhớ như in những câu chuyện ngày xưa ông được ông bà, bố mẹ mình kể lại. Trong căn nhà lụp xụp lợp bằng những mái sa mu đã lên rêu mốc, ông Xếnh Lù thỉnh thoảng lại gọi các con đến bên bếp lửa và kể cho chúng nghe những câu chuyện cổ tích của dân tộc mình.  Ông bảo rằng, cách đây chừng 10 năm ông còn có thể kể được khoảng chừng dăm chục truyện nhưng đến cái tuổi thất thập này thì chẳng còn nhớ được là bao. Họa may nếu có nhớ lắm cũng chỉ kể được vài ba chục truyện.

Trong những câu chuyện ông Xếnh Lù kể, có chuyện nghe chỉ chừng vài chục phút nhưng cũng có những chuyện kéo dài cả vài giờ đồng hồ. Tuy nhiên, cái khó đối với chúng tôi là nhiều đoạn các nhân vật nói với nhau ông Xếnh Lù không thể dịch ra bằng tiếng Kinh nên chúng tôi cũng rất khó hiểu, phải ghi âm lại sau đó nhờ người dịch.

Theo ông Và Xếnh Lù thì truyện cổ tích người Mông có rất nhiều và nội dung rất phong phú không thua kém gì những câu chuyện mà con ông đã học ở trường về kể lại cho ông nghe. Chỉ có điều bao nhiêu năm lăn lộn trên nương rẫy, cộng với tuổi tác nên không có thời gian để truyền lại hết cho thế hệ trẻ. “Ngày xưa cứ mỗi lần đi rẫy về, bố có thể ngồi nghe ông nội của bố kể chuyện cổ tích cả đêm. Nào là chuyện từ khi người Mông được sinh ra cho đến những chuyện lập bản, chống thú dữ, chống cái ác…” – ông Xếnh Lù trầm ngâm.

Với ông Lầu Gà Lầu ở bản Ka Nọi (xã Na Ngoi, Kỳ Sơn) thì những câu chuyện cổ tích đã theo ông từ lúc nhỏ đến bây giờ. Ông bảo rằng, trong bụng ông bây giờ còn hàng trăm truyện, nào là ngày trước họ Lầu là con của hổ, chuyện sự tích cây thuốc phiện, cây khèn, hay những anh hùng đấu tranh chống cái ác, những chàng trai mồ côi tài giỏi…

Nam nữ người Mông ném pao hát cự xia ngày hội.

Ông Gà Lầu chia sẻ, thực sự những người biết các câu chuyện cổ tích của người Mông hiện nay không còn nhiều. Trong xã may ra cũng chỉ vài ba cụ còn kể được lõm bõm đôi truyện vì trí nhớ của họ không còn tốt như trước nữa. “Bởi vậy những lúc rảnh rỗi bố thường rất muốn kể lại cho con cháu nghe nhưng dường như chúng không còn hứng thú với mấy chuyện này. Cái mắt chúng để nhiều hơn vào điện thoại, cái tai nghe tiếng tivi thì làm sao mà hiểu được cái hay trong câu chuyện của ông cha mình” – ông Gà Lầu ngậm ngùi.

Gian nan trong việc bảo tồn

Có thể khẳng định, văn học dân gian người Mông Nghệ An có nhiều nét đặc sắc về giá trị nội dung và thẩm mĩ. Song trong đời sống kinh tế thị trường hiện nay, để bảo tồn và phát huy được mạch nguồn của nền văn học này quả thực không dễ dàng.

Ông Lầu Xái Phia ở bản Nậm Khiên (xã Nậm Càn, Kỳ Sơn) từng có hơn 20 năm giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy xã là người hiểu biết nhiều về truyện cổ tích người Mông phải thốt lên với chúng tôi rằng, nếu sau này những người ở vào tuổi của ông mất đi chắc sẽ chẳng còn ai nhớ đến những câu chuyện cổ tích ấy nữa.

Điệu múa khèn của chàng trai người Mông ở huyện Tương Dương.

Ông Lầu Xái Phia cũng cho biết thêm, trong quá trình di cư về vùng núi cao Nghệ An, người Mông cũng có thời gian mất đi chữ viết do điều kiện khó khăn, không có trường lớp học tập. Những đứa trẻ sinh ra đã phải theo bố mẹ lên nương rẫy trồng cây thuốc phiện nên không được đi học đầy đủ như bây giờ.

Khoảng những năm 1960-1961, có một thầy giáo từ phía Bắc vào dạy học tiếng Mông tại xã Na Ngoi đã truyền thụ lại cách viết chữ của dân tộc Mông cho bà con dân bản. Đây là loại chữ dùng các chữ cái Latinh để ghi lại tiếng nói và các dấu thanh cũng được ký hiệu bằng những chữ cái.

Điều đó cho thấy rằng, trước đó hầu như không có một sách vở nào ghi chép lại những câu chuyện cổ tích, những câu hát dân ca của người Mông khiến cho dòng văn học này có nguy cơ bị biến mất. Có chăng, nó chỉ được lưu truyền từ người này qua người khác bằng phương thức truyền miệng.

Còn ông Và Xếnh Lù ở bản Thăm Hín (xã Nậm Càn, Kỳ Sơn) cũng cùng chung một nỗi niềm như ông Lầu Xái Phia nhưng điều khiến ông lo lắng hơn cả là thế hệ trẻ hiện nay hầu như không biết hoặc không quan tâm đến nền văn học dân gian của dân tộc mình. Ông chia sẻ, những lúc rảnh rỗi trên nương rẫy về ông cũng muốn ngồi để kể lại cho con cháu nghe những câu chuyện cổ tích. Tuy nhiên, điều đó theo ông là rất khó. “Làm rẫy về mệt, tuổi  già không ngồi lâu được. Con cái thì lo học bài cũ thầy cô giao, lúc rảnh thì chúng dán mắt vào tivi, điện thoại. Kể cho chúng nghe hôm nay rồi vài bữa nữa nó cũng quên thôi vì có để tâm đâu” – ông Xếnh Lù buồn bã chia sẻ.

Học sinh người Mông trong trang phục truyền thống.

Khi chúng tôi hỏi em Và Trọng Oanh, con trai ông Xếnh Lù thì em cho biết, thời gian học ở trường với số lượng bài tập nhiều khiến em cũng không có thời gian để tìm hiểu những câu chuyện, câu hát của dân tộc mình. Lúc rảnh rỗi, Oanh cũng chỉ muốn dành thời gian cho những trò giải trí khác. Và đến bây giờ, dù đã được nghe bố kể nhiều nhưng em cũng chẳng nhớ được câu chuyện nào cho ra đầu ra cuối.

Qua khảo sát các học sinh trong nhà trường thuộc địa bàn người Mông sinh sống ở huyện Kỳ Sơn, một thực tế cho thấy rằng, số lượng người trẻ có tâm huyết và đam mê với văn học dân gian dân tộc mình hầu như chỉ là con số không tròn trĩnh. Bởi đa số học sinh ngoài thời gian học trên lớp còn phải lo giúp bố mẹ việc nhà hoặc tham gia các trò giải trí khác. Đây thực sự là một nỗi lo khi nền văn học dân gian đang đứng trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thời đại 4.0.

Tựu trung lại, kho tàng văn học dân gian người Mông Nghệ An không chỉ có ý nghĩa về mặt văn học mà còn chứa đựng nhiều nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng này trên đại ngàn xứ Nghệ. Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng cần có biện pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của nó để duy trì dòng chảy của mạch nguồn này một cách lâu dài trong đời sống đồng bào người Mông nói riêng và văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói chung.

Đào Thọ