29.1 C
Vinh
Chủ Nhật, Tháng 4 12, 2026
Trang chủ Tác giả - tác phẩm “Văn hóa ẩm thực thời đại Hùng Vương & Tổ nghề Lang...

“Văn hóa ẩm thực thời đại Hùng Vương & Tổ nghề Lang Liêu”: Thêm một công trình mới về văn hóa – lịch sử thời dựng nước

Cuốn sách “Văn hóa ẩm thực thời đại Hùng Vương & Tổ nghề Lang Liêu”của Mai An Nguyễn Anh Tuấn. Ảnh: Lý Uyên

“Văn hóa ẩm thực thời đại Hùng Vương & Tổ nghề Lang Liêu” (sách do Nxb Dân Trí liên kết Công ty Văn hóa Điện ảnh Hồng Hạc ấn hành, tháng 2/2026) của tác giả Mai An Nguyễn Anh Tuấn là một công trình nghiên cứu về văn hóa – lịch sử thời đại Hùng Vương. Tác giả đã lý giải nguyên do sự ra đời công trình Nghiên cứu văn hóa & Tùy bút dân tộc học này của anh: “Mấy chục năm qua, giới khảo cổ học – sử học – văn hóa học Việt Nam đã xây dựng được một ngành Khoa học lớn là “Hùng Vương học” để khẳng định những giá trị Lịch sử chính xác về thời đại Hùng Vương trên các lĩnh vực Xã hội – Kinh tế – Văn hóa – Tín ngưỡng… làm giàu có cho nhận thức xã hội bằng những giá trị văn hóa vật chất & văn hóa tinh thần của thời đại này, góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc Thờ cúng Tổ tiên cao quý đã có từ bao đời… Công cuộc nghiên cứu và khai thác những giá trị nhân văn to lớn từ thời đại Hùng Vương cho tới nay tuy đã đạt không ít kết quả, song còn khá nhiều khoảng trống. Một trong những khoảng trống đó là văn hóa ẩm thực!

Người Việt thời Văn Lang, trong khi sáng tạo ra công cụ lao động sản xuất, vũ khí bảo vệ, tạo thức ăn thức uống, thảo dược chữa bệnh, trang phục phù hợp – tức là thuộc về Văn minh vật chất, thì cũng gửi gắm những hoạt động sinh tồn đó vào văn nghệ dân gian, lễ hội, vào các huyền thoại, truyền thuyết – như thế là văn minh vật chất đó cũng đi vào/ trở thành lĩnh vực văn minh tinh thần, và trở thành lịch sử. Lịch sử gắn bó máu thịt với đạo lý đùm bọc che chở của tình đồng bào trải mấy ngàn năm, mới nhất là những tấm bánh chưng bánh dày cứu trợ khẩn cấp cho người dân nhiều vùng ngập lụt cuối năm 2025. Và Lịch sử đó đã bước ra thế giới, như một dự luật năm 2006 của Hạ viện tiểu bang California bên Mỹ: “Dự luật bánh Chưng” – tấm lòng của những người con đất Việt xa xứ…” (Lời nói đầu).

Trong cuốn sách, tác giả đã cố gắng làm sáng tỏ một sự thật lớn của lịch sử: Văn hóa ẩm thực Việt cổ có từ xa xưa, từ lúc người Việt tìm ra lửa để nấu chín thức ăn, và đặc biệt từ khi cây Lúa nước – Hạt thóc – Hạt gạo được coi là hạt ngọc đi vào cuộc sinh tồn gian khổ với thiên nhiên và giặc giã… Trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương từ hàng ngàn năm nay, ngoài hai lễ vật không thể thiếu trong lễ cúng Tổ là bánh chưng, bánh dày, còn có một số món ăn đặc sản khác được chuẩn bị cho mâm cỗ dâng cúng được làm từ sản vật địa phương, là sản phẩm của nền nông nghiệp lúa nước. Tác giả kể rằng đã tận mắt thấy và được thưởng thức những sản phẩm của văn hóa ẩm thực cổ xưa ấy trong một cuộc dâng lễ mâm cúng Vua tại đền Triệu Phú – làng Cổ Tích, xã Hy Cương cũ tại đất Tổ Hùng Sơn, Lâm Thao, Phú Thọ… Những hậu duệ của “Ông Tổ đầu bếp” Lang Liêu ở Kẻ Trẹo đã duy trì thực hiện những thức đặc sản có từ thời Hùng Vương, khiến tác giả, người đang làm nghệ thuật đồng thời cũng là khách du lịch văn hóa thấy rung động hơn, thấm thía hơn với những lễ hội truyền thống của làng – như Lễ đón Vua, Lễ rước Chúa gái… Những hiểu biết mới mẻ và những cảm xúc sâu đậm đó đã là động lực mạnh mẽ cho tác giả trong việc xây dựng kịch bản văn học điện ảnh “Mẫu thần Lúa & Hoàng tử Lang Liêu” ngay trên mảnh đất duy nhất nước ta có con đường mang tên cụ, và thấy cần thiết phải có một công trình nghiên cứu nhỏ về văn hóa ẩm thực thời Hùng Vương & Tổ nghề Lang Liêu…”

Tác giả viết: “Công trình nhỏ của chúng tôi sẽ lấy “Bánh Lang Liêu” – bánh Chưng bánh Dày như một tập quán thiêng liêng và bền vững suốt ngàn đời của dân tộc làm tiêu điểm để khảo cứu; và buộc phải “theo chân” các nhà khảo cổ học, sử học, nông học, dân tộc học, địa lý nhân văn, văn hóa học… dạo qua con đường đi của Cây lúa – Hạt gạo trên thế giới từ thời đại đồ đá cũ tới xã hội Văn Lang phồn vinh với sự nổi bật của một nền nông nghiệp tiến bộ: nông nghiệp lúa nước. Bánh Chưng bánh Dày xứng đáng trở thành đối tượng khảo cứu riêng biệt chuyên sâu cho các nhà bách khoa và Việt Nam học – tựa hai công trình Trầu cau Việt Điện thư & Trầu cau Bách Khoa thư [Nxb KHXH 2009] của nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Chương xuất bản gần hai chục năm trước!”

Trên cơ sở những ấn tượng và kiến thức tích lũy trong hàng chục năm về văn minh Việt cổ, tham khảo trên 50 cuốn sách nghiên cứu trong nước và nước ngoài về văn hóa – lịch sử thời Văn Lang, tác giả đã triển khai công trình nhỏ này theo mạch nội dung như sau: Chương một: Ngọn nguồn truyền thuyết Lang Liêu. Cây lúa Việt (1. Nền văn minh sông Hồng và Châu thổ. 2. Hạt Lúa và Lang Liêu dưới cái nhìn dịch học & văn hóa minh triết). Chương hai: “Bánh Lang Liêu”: Biểu tượng văn hóa & minh triết dân tộc (1. Biểu tượng Văn hóa. 2. Bánh Chưng bánh Dày với Lễ hội – Tập tục – Đời sống.  3. Người Anh hùng văn hóa & Nghề thứ 26 trong kho tàng nghề cổ nước Việt. 4. Giá trị minh triết dân tộc & minh triết ẩm thực Việt). Chương ba: Văn hóa ẩm thực cổ xưa trên vùng đất TổCác món ẩm thực từ thời Văn Lang còn tới hôm nay. Chương bốn: những làng nghề bánh chưng bánh dày nổi tiếng cả nước. Và trong phần phụ lục, in toàn bộ Kịch bản văn học điện ảnh (Scenario): Mẫu thần lúa và hoàng tử Lang Liêu của chính tác giả, cùng phác thảo dự án Phim trường (Studio film) văn hóa Việt cổ. Sau mỗi chương, có “Phần đọc thêm” một số bài nghiên cứu chuyên sâu của các học giả trong nước và nước ngoài, nhiều tư liệu điền dã của các nhà folklore học trên vùng đất Tổ, v.v…).

Để giúp độc giả hiểu thêm về thân phận cây lúa và hạt gạo Việt – nền tảng của văn minh lúa nước, chất liệu gốc của “Bánh Lang Liêu” xuất hiện từ thời Hùng Vương tới hôm nay và được xuất khẩu sang nhiều nước, tác giả đã khảo cứu tư liệu của các nhà khảo cổ học, sử học, nhân học, folklore học, nhà nghiên cứu văn hóa – văn học dân gian hàng đầu trong nước – như Lê Quý Đôn, Lê Mạnh Thát, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lê Văn Lan, Hữu Ngọc, Cao Huy Đỉnh, Phan Ngọc, Nguyễn Khắc Xương, Đặng Văn Lung, v.v… và một số học giả ở nước ngoài – như Wilhelm G. Solheim, Pierre Gourou, Lê Thành Khôi, Cung Đình Thanh, v.v… Tác giả còn giúp độc giả “ngó nhìn sang thế giới ẩm thực phương Tây” qua công trình “Văn minh vật chất” của nhà sử học người Pháp Fernand Braudel với kết luận quan trọng: “Miền đất nay thuộc phạm vi nước Việt là một trong những quê hương đầu tiên của cây lúa nước, và vì vậy từ lúa nước đã có được những tư duy căn bản cho nền triết học Đông phương”.

Để khai thác sâu khái niệm – hình tượng Lang Liêu đã trở thành biểu tượng “Anh hùng văn hóa” (Trần Quốc Vượng), tác giả còn vận dụng kết quả nghiên cứu từ Hội thảo Khoa học “Kinh dịch với người Việt” (Trung tâm văn hóa minh triết & Trung tâm Lý học phương Đông), các nhà dịch học đã giải mã từ “Lang Liêu” như sau: “Lang là từ Thái ngữ, có nghĩa là thủ lĩnh, biến thể sang Hán và Việt ngữ là Long, nghĩa là con rồng hay Vua. Lang là biến âm của Năm, số 5 của Hà thư – Lạc đồ: năm -> lăm -> lang. Liêu là biến âm của Lửa chỉ phương nóng, vùng nhiệt đới, hướng Xích đạo, biến âm ra: lửa -> ly-> la -> lê -> liêu – > lý… Lang Liêu có nghĩa là “Vua La” hay vua của người La, Liêu. Bánh Chưng bánh Dày là biến âm của “bánh trăng bánh giời”. Bánh dày hình tròn, bánh chưng hình vuông biểu thị cho nguyên lý cơ bản của dịch học… Tròn và vuông cũng chỉ là tên gọi khác nhau của Âm và Dương mà thôi…”. Để làm rõ Lang Liêu là ai và đạo Tròn Vuông có liên quan như thế nào với người Việt, nhà nghiên cứu dịch học đã liên hệ với trống đồng Đông Sơn: “Trên mặt tròn của nhiều trống đồng có 4 hình cóc đắp nổi. Đấy chính là biểu tượng của nguyên lý trời tròn đất vuông. 4 con cóc biểu thị cho 4 góc của hình đất vuông trên mặt trống tròn của trời. 4 con cóc là 4 tiếp điểm của hình vuông và hình tròn. Người chế tạo trống đồng đã nói rất rõ: Cóc là biến âm của góc hình vuông, cóc -> góc”… Trong lĩnh vực tâm linh, tất cả các đền miếu của Việt Nam đều có hình Hạc hay Hồng Hạc đứng trên mai Rùa tượng trưng cho Trời và Đất”. Một nhà dịch học khác đã so sánh hạt lúa với quẻ Ly và khẳng định: “Cây lúa đối với con người Việt ta từ cổ đại cho đến nay đều là nguồn sống và là cái gì đó thiêng liêng vĩ đại. Dựa trên triết lý Kinh dịch và qua hình tượng những hạt lúa chín rực đỏ vàng về màu và hình dáng như một hình thoi giống quẻ Ly Nòng nọc, người ta cho đó là hạt giống Lửa của Trời được cấy vào Đất và được dung dưỡng bởi Đất và Nước để rồi mang đến nguồn sống cho con người (chính vì vậy mà nó mới thiêng liêng)”.

Như tất cả các công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam khác, cuốn sách này đã đề cập tới văn hóa Làng Việt với tư cách là một đơn vị dân cư có nguồn gốc công xã thị tộc thời tiền sử – sơ sử, đặc biệt là để tìm đến cội nguồn văn hóa ẩm thực trong những điều kiện vật chất và tinh thần tạo ra “căn cước dân tộc” và hình thành nền văn hóa Việt Nam từng được GS Trần Quốc Vượng mô hình hóa trong công thức: nông dân – nông nghiệp – xóm làng – folklore; mà căn cốt của con người làng xã là con người cộng đồng. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã dày công đi sâu vào tìm hiểu Làng Văn hóa cổ truyền Việt Nam, và đã thống kê được bốn loại làng như sau: làng Văn, làng Võ, làng Nghề và làng Chợ. Tác giả Ma Nat đề nghị: “Chúng tôi nghĩ rằng, cần đưa ra một loại Làng nữa, là làng Ẩm thực – mà làng Trầu tức Dữu Lâu (có đền thờ Lang Liêu) ở Việt Trì là ví dụ tiêu biểu… Cuốn sách này có thể coi là một viên gạch nhỏ góp vào hướng “nghiên cứu văn hóa dân tộc – quốc gia Việt Nam như một tổng thể”, một hướng nghiên cứu mới cho ngành khoa học xã hội nhân văn mà GS Đào Duy Anh đã đặt nền móng trong tác phẩm Việt Nam Văn hóa sử cương từ ngót một thế kỷ trước!”

Cuốn sách có một cuộc tranh luận thú vị với GS sử học Trần Quốc Vượng. Trong bài viết “Triết lý bánh Chưng bánh Dày” (có in ở Phần đọc thêm), sau khi khẳng định giá trị văn hóa – lịch sử của hai loại bánh này, vị GS nổi tiếng lại đưa ra giả thuyết: “Trời tròn đất vuông là một triết lý Trung Hoa muộn màng được hội nhập vào triết lý Việt Nam. Đó không phải là triết lý dân gian Việt Nam. Nó không phải là folklore (nguyên nghĩa: trí tuệ dân gian) mà là fakelore (trí tuệ giả dân gian). Bánh chưng tròn dài tựa Dương vật, như cái chày, cái nõ. Bánh dày tròn dẹt tựa Âm vật, như cái cối, cái nường. Đó là tín ngưỡng và triết lý nõ-nường-chày-cối-chưng-dầy của dân gian, của tín ngưỡng phồn thực dân gian” (Sách: “Trong cõi”, Nxb Hội Nhà văn 2014).

Cuốn sách “Văn hóa ẩm thực thời đại Hùng Vương & Tổ nghề Lang Liêu”của Mai An Nguyễn Anh Tuấn. Ảnh: Lý Uyên

Tác giả đã phản biện như sau: “Trời tròn đất vuông là một triết lý Trung Hoa muộn màng được hội nhập vào triết lý Việt Nam”. Có thực vậy không? Phải chăng chỉ người Trung Quốc mới có khái niệm “Trời tròn, Đất vuông” (Thiên viên, Địa phương) vào thời Đông Chu (từ 770 trước Công nguyên),  thời sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc Ân, Vua Hùng thứ 6 nhường ngôi cho hoàng tử Lang Liêu? Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong công trình Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam đã khẳng định: “tư tưởng âm dương là sản phẩm trừu tượng hóa từ ý niệm và ước mơ của cư dân nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp lúa nước, về sự sinh sản của hai đối tượng quan trọng là hoa màu và con người; bởi vậy mà các thuật ngữ “âm dương” (yin-yang trong tiếng Hán) đã bắt nguồn từ ina-yang của ngôn ngữ Đông Nam Á cổ đại với nghĩa gốc là “Mẹ” và “Trời”, và “Người Việt vẫn giữ được một biểu tượng âm dương truyền thống lâu đời hơn – biểu hiện Vuông – Tròn: Mẹ tròn con vuông. Ba vuông sánh với bảy tròn, Lạy trời cho đặng vuông tròn”; nhà nghiên cứu này còn đưa bằng chứng ở các trống đồng tìm thấy ở Ninh Bình, Hòa Bình “có các hình biểu tượng âm dương “tròn vuông” và “vuông tròn” lồng vào nhau. Tiền đồng cổ Việt Nam, Trung Hoa, Hàn Quốc qua các thời đại với lỗ vuông ở chính giữa là dấu vết truyền thống của biểu tượng âm dương này”. Một bài viết trên facebook Lược Sử Tộc Việt cho biết: “Trời tròn, Đất vuông” là một triết lý đặc trưng của văn hóa Đông Á cổ đại, nó có thể xuất hiện từ rất sớm ở các văn hóa đồ đá mới vùng Đông Á, sau đó được kế thừa trên ngọc tông và đĩa bích của văn hóa Lương Chử. Văn hóa Đông Sơn là hậu duệ của các nền văn hóa Đông Á cổ, với sự kế thừa trên rất nhiều hoa văn và cổ vật. Trong văn hóa Đông Sơn, có một hiện vật trống đồng minh khí biểu trưng trực tiếp cho triết lý Trời tròn, Đất vuông, trên không gian mặt trống đồng, được thể hiện mình ảnh Mặt Trời, bên trong là một hình vuông biểu trưng cho Đất, kế tiếp là một hình tròn biểu trưng cho Trời. Hình ảnh này đã chứng minh rất vững chắc về triết lý Trời tròn, Đất vuông trong văn hóa Đông Sơn, bởi hình ảnh Mặt Trời (hay là Trời) đã được thể hiện ở bên ngoài hai hình vuông và hình tròn, cho thấy rõ ràng tính triết lý của hình ảnh này. “Trời tròn, Đất vuông” còn được thể hiện trên hai món ăn vô cùng đặc trưng của người Việt, gắn bó chặt chẽ với văn hóa của người Việt cho tới tận ngày nay: bánh Chưng và bánh Dày, theo truyện họ Hồng Bàng, thì bánh Dày tượng trưng cho Trời, bánh Chưng tượng trưng cho Đất”. Là người làm phim về cổ sử, tác giả đã nghiên cứu kỹ lưỡng tấm ảnh về chiếc trống đồng minh khí nhỏ nhắn (vốn là vật tùy táng) này, thấy đúng như mô tả, và quả là “biểu trưng trực tiếp cho triết lý Trời tròn, Đất vuông trong văn hóa Đông Sơn”, phù hợp với quan điểm về triết lý âm dương của người Việt cổ xưa. Kịch bản văn học “Mẫu thần Lúa & Hoàng tử Lang Liêu” in trong sách này đã lý giải về “bánh Vuông Đất” – tức bánh Chưng dựa trên cơ sở khảo cổ học trên như sau:

THÔN NỮ:

– Quan lang ơi, hôm qua chúng em tìm thấy một chiếc trống đồng tý hon… Có mấy hình thù chúng em không hiểu, nhờ chàng xem cho, trước khi đem tới nộp cho triều đình…

Cô tất tả bước đi, cả nhóm đi theo. Tới chiếc trống đồng Minh khí Đông Sơn, Lang Liêu trở nên nghiêm trang kính cẩn. Trên mặt trống đồng là hình ảnh Mặt Trời 12 nọc tia sáng, bên trong là một hình vuông, kế tiếp lại là một hình tròn – giữa có quai cầm. Tang và dưới chân thân trống cũng có vành sóng cuộn bện dây thừng như ở biên trống.

 LANG LIÊU:

– Tùy táng chôn theo người chết đây, một thứ bùa che chở…- Lang Liêu sờ tay trên mặt trống thốt lên – Đức Lạc Long Quân! Khuôn mặt chúa tể tạo cõi âm Nước, Lửa, Sấm! Đây chính là Trời, còn đây là Đất. Ông cha mình nhắn bảo đó, các cô ơi! Vua ta các đời hàng năm đều tổ chức tế lễ long trọng ở đền thờ Thần Nông để tạ ơn Trời Đất và các vị thần linh. Khi lên ngôi, các vua phải tuyên thệ với Trời Đất và tiên tổ…”

Còn ý tưởng làm Bánh Trời, tức bánh Dày là do Lang Liêu và vợ chưa cưới Lăng Tiêu được Mẫu thần Lúa báo mộng bằng hình ảnh Mặt trăng tròn hiện trong đáy Việt Tỉnh Cương (Giếng Việt), tác giả đã thể hiện trong Kịch bản điện ảnh “Mẫu Thần Lúa & Hoàng Tử Lang Liêu” – tác phẩm VHNT đầu tiên của nước ta khai thác sâu vào đề tài ẩm thực Việt cổ.

Mục đích và ý nghĩa của cuốn sách đã được chính tác giả thâu tóm trong Lời nói đầu: “Văn hóa ẩm thực thời Hùng Vương là nền tảng của văn hóa ẩm thực Việt cổ còn duy trì tới tận hôm nay – thể hiện rõ qua các món ăn dâng cúng lễ Giỗ Tổ Hùng Vương như bánh Chưng, bánh Dày, xôi ngũ sắc, cốm, bánh cão, bánh hòn, cuốn chài kẹp tre, rau sắn nấu tép, v.v…, mà hầu hết đều sử dụng nguyên liệu từ ruộng – vườn, và thể hiện sâu sắc sự gắn kết cộng đồng giữa toàn thể “đồng bào” – kể cả với thủ lĩnh tối cao… Vì vậy nền văn hóa ẩm thực này đã đặt ra những triết lý sâu sắc về sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa các tầng lớp xã hội của một nhà nước sơ khai, mở ra những bí mật của việc dưỡng sinh giữ gìn sức khỏe và tâm thế an bình có gốc từ thiên nhiên, và chắc chắn sẽ còn ảnh hưởng lâu dài đến phong tục ăn uống và sử dụng thức ăn chữa bệnh trong thời hiện đại ở nước ta cũng như trên thế giới, và trở thành “Minh triết ẩm thực Việt”.

Cuốn sách còn là một “viên gạch” góp vào “lâu đài” của sự nghiệp phát triển công nghiệp văn hóa nước ta trong giai đoạn Hội nhập toàn cầu.

Nguyễn PV