Thơ là mẹ của mọi thứ nghệ thuật. Hình như Nguyễn Huy Thiệp từng viết vậy, trong lời tựa một tập thơ. Tôi chưa đọc bài tựa và tập thơ mà chỉ biết điều này qua post của một người thầy dạy tôi ở trường văn năm xưa. Bài post của thầy và cái ý của Nguyễn Huy Thiệp mà tôi từng nghe ai đó dẫn lại trong một cuộc chuyện trò, khiến tôi có suy tư. Suy tư về thơ.
Đôi khi tôi tự hỏi: Tôi và chúng ta mong chờ gì ở thơ?
Kỳ thực, cũng như nhiều người viết, tôi bị dẫn dụ vào niềm đam mê văn chương bởi thơ. Hồi đang là học sinh cấp một, tôi đọc báo chí được cấp phát cho học sinh tuổi thiếu niên, nhi đồng, thấy có đăng thơ, truyện; nghe đài, thấy có đọc thơ, truyện. Tôi nghĩ mình cũng có thể viết được. Vậy là viết. Như nhiều người sinh ra từ những năm tám mươi trở về trước, tôi viết bút bi trên giấy học trò, trên bìa carton và mặt sau những tờ lịch cũ.
Những sáng tác đầu tiên của tôi cũng là thơ. Câu cú vụng về nhưng niềm vui thì rất lớn. Thời đó, khi lên 10 tuổi, giữa bịt bùng rừng núi, tôi chỉ biết đem khoe cùng mẹ. Cũng tự nhiên làm sao, mẹ là đề tài thơ đầu tiên, đề tài viết luôn dẫn dụ tôi suốt bao nhiêu năm qua. Tôi nhìn mẹ đứng ở căn bếp nhỏ trong căn nhà sàn sẩy gạo bằng một chiếc nia nhỏ. Mẹ ngừng tay thì tôi đem khoe. Mẹ tôi không hiểu nhiều về thơ, đọc xong chỉ cười. Khi có kha khá các bài mà tôi gọi là thơ liền đem chép ra trên những tờ giấy cắt ra từ vở học trò đem đóng thành quyển bé bằng bàn tay, có trang trí bìa, có nhan đề hẳn hoi. Tôi coi đó là một đồ chơi con trẻ. Chơi chán thì đem quẳng xó xỉnh nào rồi quên béng.
Hồi bé tôi không mong chờ gì ở thơ cả. Và viết chỉ như một thú chơi con trẻ. Như khi tôi chơi chuyền, chơi đá bóng bưởi hay trèo cây bắt tổ chim, hái quả chín vậy.
Tôi chỉ ý thức được việc viết và viết thường xuyên ở tuổi ngoài hai mươi. Ở cái tuổi đó, thông tin về văn chương của tôi hầu như chỉ cập nhật từ một chiếc radio chắp vá, sóng lúc mất lúc được. Tôi biết đến ngày Thơ Việt Nam lần đầu tiên năm 2003. Tiếng trống khai hội thơ vang lên từ chiếc loa rè. Lời tường thuật về ngày Thơ cũng nghe lúc mất lúc được. Tôi nghĩ rằng cũng phải thôi, cũng nên có một cái ngày để tôn vinh một nghệ thuật quan trọng. Cùng năm đó tôi bắt gặp thơ Văn Cao trong một chuyến đi thi. Tôi thích thú khi biết rằng Văn Cao không chỉ có Tiến quân ca, Ngày mùa, Làng tôi, Mùa xuân đầu tiên mà còn Thiên Thai, Trương Chi, Buồn tàn thu…, hội họa và… thơ. Trong đó có những bài tôi chỉ biết thích thú mà chẳng hiểu được. Tôi thích những hình ảnh, các biểu tượng mới lạ được tổ chức thành ý tưởng thơ gợi suy ngẫm.
Có lúc
Một mình dạo giữa rừng đêm không sợ hổ
Có lúc
Ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt
Có lúc
Nước mắt không thể chảy ra ngoài được.
(Văn Cao – Có lúc)
Tại sao lại có những lúc như thế nơi tâm hồn nghệ sĩ? Những người khác có như vậy không? Tôi có thế không? Tôi đem những câu hỏi này đến trường văn hai năm sau đó. Thầy học của chúng tôi, nhà thơ Vũ Quần Phương đã nói: “Cảm ơn em vì bài thơ. Tác phẩm của Văn Cao nói về sự nghịch lý nơi tâm hồn người.”
Đó là những điều đầu tiên tôi nghe về thơ Văn Cao khi thói quen tìm kiếm trên internet chưa phổ biến và trở nên dễ dàng như hiện nay. Tôi đọc lại tập sách cũ trong căn phòng ký túc sinh viên và hiểu hơn về thơ Văn Cao.
Con thuyền đi qua
Để lại sóng
Đoàn tàu đi qua
Để lại tiếng
Đoàn người đi qua
Để lại bóng
Tôi không đi qua tôi
Để lại gì?
(Văn Cao, 1967 – Không đề)

Tôi cũng nghĩ rằng liệu mình đã đi qua chính mình chưa, hay chỉ vẫn đang lần tìm lối đi? Câu hỏi ấy đeo đẳng tôi suốt hơn hai mươi năm qua.
Dù là gì tôi vẫn biết rằng mình đang trên một chặng đường viết. Suy tư và chiêm nghiệm. Khiếm tốn và luôn học hỏi, không chỉ riêng với thơ. Cũng như nhiều người viết bắt đầu từ thơ, tôi không thể rời xa thơ, dù là có viết gì. Có người nói tôi viết có chất bản địa. Ý họ là có chất văn hóa của cộng đồng người Thái trong sáng tác của tôi. Nhưng ít ai biết rằng, người Thái ở Việt Nam là một cộng đồng sống rất thơ. Lời ăn tiếng nói giàu hình ảnh, vần điệu vẫn hiện hữu hằng ngày, khi người ta chào hỏi, đối đáp dân ca, gặp nhau khi cưới hỏi. Và còn một tác phẩm thơ, trường ca Tiễn dặn người yêu có thể nói là tác phẩm văn học dân gian lớn nhất của người Thái ở Việt Nam. Tôi biết rằng có rất nhiều người viết về miền núi đang trong cái bóng của tác phẩm lớn đó mà không hề nhận ra. Còn với tôi thì sao? Có lẽ cho đến khi kết thúc sự viết của mình, tôi cũng khó lòng thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của tác phẩm lớn đó, cũng như cái bóng của thơ.
Dù có viết gì thì mẹ và ngôi nhà sàn xưa vẫn là đề tài yêu thích của tôi. Những biểu tượng bản địa gần gũi luôn khiến tôi rung cảm sâu sắc.
Đâu đó đã vang lên tiếng trống khai Hội Thơ, khi ngày Nguyên tiêu đã tới. Đâu đó người ta xôn xao về chủ đề các ngày Thơ cho thấy nhiều người vẫn dành quan tâm lớn cho thứ nghệ thuật gốc này. Khi thơ cất lên tiếng nói của mình hay nói một cách hình ảnh hơn là khi thơ “bay lên” thì những biểu tượng của nó vẫn thật gần gũi. Với tôi thì đó là những khoảng đồi cây, ngôi nhà sàn và mẹ.
Đương nhiên có cả Văn Cao và Tiễn dặn người yêu…
Hữu Vi














