28 C
Vinh
Chủ Nhật, Tháng 5 17, 2026
Trang chủ Tác giả - tác phẩm Vài cảm nghĩ về thơ hai câu, bốn câu của Trần Ngọc...

Vài cảm nghĩ về thơ hai câu, bốn câu của Trần Ngọc Khánh

Hai tập thơ Hoa tím trước hoàng hônTrăng rừng sau mưa của Trần Ngọc Khánh, do NXB Hội Nhà văn ấn hành, đã thể hiện một diện mạo mới. Nổi bật là lối viết ngắn gọn, giàu tính khái quát, với những bài thơ hai câu, bốn câu, cùng với đó là cách ngắt nhịp độc đáo, khiến nhịp thơ chậm lại, tạo nên những dư vang. Đây không chỉ là sự phá cách hình thức, mà còn là cách nhà thơ cô đặc cảm xúc, gửi gắm tư tưởng vào những khoảng lặng của ngôn từ.

Nhà thơ Trần Ngọc Khánh.

Những dòng thơ ngắn, thật ấn tượng:

“Ru người
Một khúc
Dân ca
Ru ai
Một quãng
Đường xa…
khó về
Ru em
Lỗi một
Câu thề
Sân chùa
Bóng lá
Bồ đề
Rơi nghiêng…”
(Niềm riêng – Đất rừng sau mưa)

Thơ lục bát đấy, âm điệu nhẹ nhàng nhưng cách ngắt nhịp, tách dòng làm cho hồn thơ chậm lại, khắc dấu ấn cảm xúc trong lòng người đọc:

“Cuối mùa
Còn
Vạt nắng buông
Mông lung
Sương khói
Bên đường
Sơn khê
Giã người
Trong chốn
Bùa mê…
Chợt nghe
Cỏ
Cuối chân đê
Trổ mầm”.
(Cuối Đông – Hoa tím trước hoàng hôn)

Cách ngắt nhịp trong thơ Trần Ngọc Khánh khá đa dạng, giúp làm tăng giá trị biểu cảm của thơ khiến cho thời gian nghệ thuật trong thơ anh chậm lại, câu chữ uyển chuyển giãn ra và đọng lại trong tâm thức người đọc.

Trang bìa 2 tập thơ của Trần Ngọc Khánh.

Thực ra thơ 2 chữ đã “xôn xao tơ trúc” từ đầu thế kỷ XX rồi. Ngày đó, trên thi đàn văn học Việt Nam đã xuất hiện một Nguyễn Vỹ, thế nhưng người ta không chấp nhận thơ Nguyễn Vỹ vì thơ ông là thơ tự do, lại có cách gieo vần, ngắt câu rất mới. Người ta cho rằng đó là “thơ tắc tị”. Thực ra thì cái gì mới, lạ cũng tạo sự tò mò phấn khích, có cả khen và chê. Gần trăm năm rồi bây giờ đọc lại Nguyễn Vỹ càng thấy trân trọng ông:

“Sương rơi
Nặng trĩu
Trên cành
Dương liễu…
Em ơi!
Trong lòng
Hạt sương
Thành một
Vết thương!…”
(Sương rơi – Nguyễn Vỹ)

“Bẻ” là một thủ pháp nghệ thuật hay là tạo thành một thể loại? Chúng tôi nghĩ rằng hiện tượng này trong thơ Trần Ngọc Khánh là một thủ pháp nghệ thuật chứ không phải là thể loại thơ. Thực chất đó là những bài thơ lục bát uyển chuyển nhưng cách ngắt dòng, tạo nhịp làm câu thơ như ngắn lại, đằm sâu trong cảm nhận người đọc. Có thể hiểu đó là sự cách tân nghệ thuật trong thơ hiện đại.

Thơ ngắn thường cô đọng, tinh túy phần hồn. Bài thơ dài nhất của Trần Ngọc Khánh là Biệt ly (trong tập Hoa tím trước hoàng hôn) dài 8 khổ. Câu thơ nào cũng lay động lòng người:

…”Xin khép lại, đêm dài, trang nhật ký
Chiều thanh tân, đêm vắng cũng thanh tân
Xanh thẳm quá, triền sông cuồn cuộn sóng
Ngoái đầu trông, bến cũ đã giang trần…”
(Biệt ly – Hoa tím trước hoàng hôn)

Hai tập thơ của Trần Ngọc Khánh phần lớn là thơ bốn câu, năm chữ. Ngắn, rất ngắn. Điển hình là tập thơ Trăng rừng sau mưa:

“Cuộc người sau giông bão
Nỗi cô đơn ngập lòng…
Thương đời cỏ vẫn mọc
Xanh biếc một dòng sông”
(Thương đời – Trăng rừng sau mưa)

Những vần thơ thật tâm trạng, người đọc yêu thơ Trần Ngọc Khánh là yêu cái nỗi niềm rất riêng ấy, song đó cũng là nỗi niềm chung của bao người khi họ đồng cảm với anh thì thơ anh bao giờ cũng thắp sáng ngọn lửa niềm tin trong câu kết:

“Mắt này
mắt ấy
Xưa – Sau…
Nay lại rót
Nỗi đau
Vào lòng…
Mây chiều
Đỏ
Giữa từng không
Kìa`
Đàn
Con tít
Lội sông
Cứ tìm”.
(Mắt này, mắt ấy – Hoa tím trước hoàng hôn)

Bài thơ Bão tan cũng đưa ta đến góc nhìn như thế:

“Bão tan, nhà tốc mái
Bỗng thấy trời xanh hơn…
Qua đêm đám cỏ dại
Trổ hoa cuối góc vườn”.

Số những bài thơ lục bát “bẻ đôi câu thơ, bẻ ba câu thơ” trong thơ anh khá nhiều. Nó đem đến cho độc giả cảm giác như thăng trên những bậc thềm, từng bước chân. Tập Trăng rừng sau mưa có 19 bài, Hoa tím trước hoàng hôn có đến 17 bài lục bát bẻ câu như thế.

Thơ hay bất luận ngắn dài nhưng thơ trữ tình không nên sa vào kể như thơ tự sự. Chỉ cần gợi cảm xúc, khơi dậy trong tâm hồn người đọc sự đồng điệu đã được xem là thành công. Trong hai tập thơ của Trần Ngọc Khánh, những bài thơ ngắn bốn câu khá nhiều, kể cả lục bát, ngũ ngôn và thơ tự do:

“Người xưa, nay đã chẳng còn
Ngẩng lên sườn núi trắng hồn lau thưa
Đường về, chợ vãn xế trưa
Một mình ta, cõng cơn mưa, xuống đò!”
(Đường về – Trăng rừng sau mưa)

Tác giả truyền cảm hứng, tâm trạng qua ngôn từ, qua không gian, thời gian và hình tượng thơ khá độc đáo, không nhiều lời mà vẫn đọng mãi trong lòng bạn đọc. Thơ Trần Ngọc Khánh không hiếm những hình tượng gợi liên tưởng độc đáo:

“Trâu nhai khói bếp bên thềm cỏ
Hồn một cây rơm ủ ấm làng
Ta về quất chín men màu tết
Sách cũ trên bàn đã khép trang”
(Xuân muộn – Trăng rừng sau mưa)

Ngoài lối thơ hai tiếng một dòng, Trần Ngọc Khánh còn sáng tác thể loại “thơ hai câu”:

I

Ước gì kỷ niệm thành than
Đốt lên ngọn lửa hơ ngàn giá băng.

II

Chắp tay nguyện giữa trời chiều
Mà ta tan vỡ bao điều tâm tư.

III

Thẳm sâu một mảnh trăng thề
Mà nghe ngợp giữa bốn bề hơi thu.

IV

Lễ tan hương khói cũng tàn
Sân chùa sót lại muôn vàn dấu chân.

(Thơ hai câu – Trăng rừng sau mưa)

Trong bài thơ hai câu thực chất là bốn bài hay một bài? Vâng, một bài… và cũng là bốn bài, mỗi bài hai câu nhưng vẫn là một chỉnh thể trọn vẹn.

Thực ra trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ hai câu đã từng lưu truyền trong sử sách. Chuyện xưa ghi lại thơ hai câu của Trần Nhân Tông: Đầu năm 1285, quân Nguyên Mông tiến vào ải Nội Bàng, mở đầu cho cuộc xâm lược nước Đại Việt lần thứ hai. Trước thế mạnh của giặc, ải Nội Bàng thất thủ. Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn thay đổi chiến lược, lui quân phòng thủ để bảo toàn lực lượng chờ thời cơ phản công. Tình thế trước mắt gặp nhiều khó khăn, lòng người không khỏi hoang mang, dao động. Trên con thuyền rút về Hải Đông, Trần Nhân Tông đề vào đuôi thuyền hai câu thơ bất hủ:

“Cối Kê cựu sự quân tu ký
Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh”
(Việc cũ ở Cối Kê ngươi nên nhớ
Đất Hoan, Diễn vẫn còn kia mười vạn binh)

Sau khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, Trần Nhân Tông cùng quần thần hành lễ bái yết tại Chiêu Lăng (Lăng vua Trần Thái Tông). Nhìn con ngựa đá lấm bùn, ông xúc cảm làm bài thơ:

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”
(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng)

Trần Ngọc Khánh viết bằng sự say mê của trái tim và sự lựa chọn, chắt lọc ngôn từ:

“Ngước nhìn sương khói đèo xa
Một mình ta giữa bao la gió lùa
Đâu đây thoáng tiếng chuông chùa
Chiều buông một mảnh trăng mùa sang thu”.
(Tiếng chuông chùa – Hoa tím trước hoàng hôn)

Trong thơ Trần Ngọc Khánh, đời người cũng hư ảo, sắc sắc không không vậy:

“Ngước trông
Vô tận
Kiếp người
Thời gian
Lưu lạc
Bóng đời
Thực hư…
Chuông chiều
Vang chốn
Tương tư…
Trời xanh
Như
Một tờ thư
Cuối cùng…”
(Kiếp người – Trăng rừng sau mưa)

Đọc thơ Trần Ngọc Khánh, ta như cảm nhận được mùi thiền thoang thoảng đâu đó như trong thơ Mãn Giác Thiền Sư.

Trong hai tập thơ của Trần Ngọc Khánh lại có những bài cách ngắt nhịp, xuống dòng không thống nhất với phần còn lại. Không biết đây là sự vô tình hay cố ý, bài thơ Niềm riêng trong tập Đất rừng sau mưa là một thí dụ:

“Ru em
Lỗi một câu thề
Sân chùa
Bóng lá bồ đề… rơi nghiêng
Ru mình
Một nỗi linh thiêng
Vẫn còn đêm vắng
Niềm riêng, canh dài…”

Có thể nói, thơ hai câu, bốn câu trong Hoa tím trước hoàng hônTrăng rừng sau mưa đã góp phần tạo nên nét riêng của Trần Ngọc Khánh. Đây không phải là một thể loại mới, mà là thủ pháp nghệ thuật dựa trên truyền thống, được ông vận dụng để giúp những vần thơ thêm cô đọng cảm xúc, mở rộng khả năng gợi liên tưởng. Ngắn gọn nhưng không hời hợt, thơ hai câu, bốn câu của Trần Ngọc Khánh giàu nhạc điệu, giàu dư vang, khiến cảm xúc người đọc được khơi mở từ những khoảng lặng của câu chữ.

Cao Hoàng Thảo