Trầy trật, nhăm nhe mãi, cuối cùng, sau ba năm, chúng tôi cũng có chuyến đi Luông Prabăng để đón tết Bunpimay (tết năm mới của Lào). Văn nghệ sỹ huyện mà xuất ngoại, cũng oai ra phết. Nói nhăm nhe trầy trật là bởi đi theo tour mất quá nhiều tiền. Cuối cùng mới nghĩ ra phương án, ai đi thì tự làm lấy hộ chiếu, đóng tiền rồi thuê xe, thuê hướng dẫn. Đoàn có 10 người, xuất phát từ Quỳnh Lưu rồi ngược đường số 7. Ăn trưa tại Mường Xén, Kỳ Sơn, tối ngủ ở Phôn Xa Vẳn.
Phôn Xa Vẳn được qui hoạch và xây dựng mới giữa cao nguyên Xiêng Khoảng bằng phẳng, mênh mông. Đồi thấp nhấp nhô trơ trụi. Trơ trụi hoang tàn bởi nơi đây đã phải hứng chịu biết bao nhiêu bom đạn của hai cuộc chiến tranh tàn khốc. Xa xa là những đồi cỏ, và xa nữa là núi cao trập trùng… Đường phố rộng rãi, thưa người, thưa xe nên càng như dài rộng thêm. Sau khi ăn sáng ở khách sạn Mê Kông của người Việt (do Quân khu 4 Việt Nam đầu tư xây dựng), đoàn đi thăm Cánh đồng chum. Thời tiết đẹp. Cánh đồng chum với những đồi cỏ mượt mà, vài đoàn khách tham quan lác đác vì còn sớm. Cánh đồng chum, một địa danh nổi tiếng cả về lịch sử, văn hóa, là nơi giao tranh ác liệt của các bên tham chiến. Sau mấy phút thăm thú, chụp ảnh, đoàn tiếp tục lên đường. Vài chục cây số với những đám rừng thông, những đồi cỏ mướt xanh của vùng bình nguyên, qua huyện Mường Khăm khá đông đúc, bắt đầu vào những đoạn đường chênh vênh khúc khuỷu. Xe hết ngoặt trái lại rẽ phải. Mặt trời lúc bên trái lúc bên phải. Tít dưới thung sâu thăm thẳm là mây, là núi, là khe. Núi lớn, núi nhỏ chất chồng xa tít dưới đáy những lòng chảo khổng lồ. Người yếu thần kinh thì tốt nhất hãy nhắm mắt vừa chống say xe vừa khỏi bị choáng ngợp bởi sự kỳ vĩ của núi non. Duy chỉ nhà văn Phan Nam ngoài bảy mươi tuổi, héo rũ, hai tay giữ túi ni lông áp sát miệng. Tất cả còn lại đều tỉnh táo và chuyện phiếm đã nổ như ngô rang. Thành phần đoàn, ngoài bác sĩ, nhà thơ Đậu Phi Nam trẻ nhất cũng đã ngoài năm mươi, số còn lại đều từ sáu lăm tới bảy lăm tuổi, người viết văn, người làm thơ, người chụp ảnh nghệ thuật. Chưa hy vọng rằng sẽ có tác phẩm nhưng ai cũng háo hức trước khung cảnh thiên nhiên mới lạ. Tôi chợt nhớ “Ký sự Thượng Lào” của nhà văn Hà Đình Cẩn mà mình đã đọc. Vùng đất này, những khoảng rừng kia đã vang rền tiếng súng, vang rền tiếng bom pháo trong những trang viết của anh. Những năm bảy mươi của thế kỷ trước, các sư đoàn bộ binh nổi tiếng của Việt Nam từng có mặt sát cánh cùng các đơn vị Pa Thét Lào chiến đấu với các lực lượng phái hữu, với không quân Mỹ, với nhiều tiểu đoàn Thái Lan và lực lượng phỉ Vàng Pao được Mỹ huấn luyện và nuôi dưỡng trong chiến dịch giải phóng và chiếm giữ Cánh đồng chum. Mật độ bom pháo dày đặc, đánh lớn đánh nhỏ, đánh hợp đồng, đánh du kích. Hà Đình Cẩn kể. Vách núi dựng đứng, vừa thấy bóng bọn phỉ giương súng bắn bên vách núi, thoắt cái đã mất hút rồi lại xuất hiện dưới thung sâu, gây không ít khó khăn và tổn thất cho bộ đội ta.

Đầu tháng Tư dương lịch, đang là thời khắc chuyển giao giữa mùa khô và mùa mưa, tiết trời Lào lúc này chẳng khác mấy ở Việt Nam. Nắng bàng bạc, nhiệt độ vừa phải, mặt trời như ẩn đâu đó, bầu trời như được phủ sương phủ khói. Núi non chất ngất, mờ ảo. Đường 7 lên tới đây đã gần ba trăm cây số. Núi non trập trùng, lâu lâu mới bắt gặp đôi cụm nhà dân bám hai bên đường chênh vênh trên đỉnh núi. Đó là những bản người Mông. Nhà người Mông là nhà đất, rất thấp, mái lợp tranh hoặc tôn, vách thưng gỗ, suốt ngày đóng kín cửa. Nghe nói vùng này, trước đây độ vài chục năm khách đi lại trên đoạn đường này phải rợn gáy. Còn lúc này… không khí thân thiện rất dễ nhận ra từ ánh mắt của những người gặp hai bên đường. Mặt trời đã ngả bóng, quá mười hai giờ, dừng lại ăn trưa tại một quán người Mông. Xem trên máy “định vị”, nơi đây chỉ cách ngã ba Khu Khun độ hơn giờ xe chạy. Bản có độ vài ba chục ngôi nhà vừa gỗ vừa gạch bám trên sống núi. Lùi ra xa là những nhà thấp tè lợp tôn lợp tranh mốc xỉn. Vài quán ăn, tiệm tạp hóa nằm cạnh đường. Chủ quán là một đàn ông người Mông còn trẻ, trao đổi với chúng tôi bằng tiếng Lào Lùm. Lào Lùm là một trong ba nhóm bộ tộc chính ở Lào, có số người đông nhất, giống như người Kinh ở Việt Nam. Tiếp đến là người Lào Thơng ở lưng chừng núi. Và cuối cùng là người Lào Xủng, trong đó người Mông ở nơi cao nhất, trên đỉnh núi. Bữa ăn trên đỉnh núi lúc giữa trưa có thịt gà luộc, thịt bò nướng và xôi. Thịt gà thịt bò thì quán có sẵn, riêng xôi, người chủ quán phải đi mua lại của một quán khác. Phương thức kinh doanh của người Mông ở đây cũng khá linh động và mềm dẻo. Họ biết cách cung ứng cho khách du lịch, các món ăn chuẩn bị vừa phải, thiếu đến đâu mua đến đấy… Rượu mang từ nhà sang. Bữa ăn theo kiểu người Lào là dùng tay bốc. Xôi nắm, dùng tay vắt từng cục nhỏ chấm nước chấm, sản phẩm Thái Lan. Thịt cũng dùng tay… Thịt gà, thịt bò Lào thơm ngon, xôi dẻo. Đói, nên ai cũng thấy ngon miệng.
Bỏ qua sự vòng vèo khúc khuỷu, chiếu từ Phôn Xa Vẳn, hướng đi sẽ thẳng góc với trục đường 13 nối Bắc xuống Nam Lào tại nơi đây – ngã ba Sala Khukhun. Ngã ba Sala Khukhun, địa danh nổi tiếng một thời về sự đụng độ dai dẳng của tàn quân phỉ Vàng Pao với bộ đội ta kéo dài suốt nhiều năm sau hòa bình. Biết bao chiến sỹ Việt Nam đã ngã xuống nơi đây và được biết còn rất nhiều người chưa tìm thấy xác. Sala Khukhun, cửa ngõ của cao nguyên Xiêng Khoảng, sống núi nhọn hoắt chạy từ hướng đông đâm thẳng vào vách núi án ngữ theo hướng bắc nam đã tạo nên một vị trí quân sự cực kỳ hiểm yếu… Đường số 7, đường số 13 là những con đường độc đạo. Được biết năm 1975, các cánh quân của lực lượng Pa Thét Lào từ Sầm Nưa, từ Xiêng Khoảng kéo về tiếp quản Viêng Chăn đều phải đi qua đây. Ngã ba này đã in dấu chân của vạn vạn người, cả bên này và bên kia, giờ đây đã trở lại bình yên. Dăm bảy năm trước chỉ có mấy ngôi nhà tranh thấp nhỏ và mấy tốp người Mông ngồi bán măng, nấm và một ít sản vật núi rừng, thì hôm nay Khukhun đã là một thị tứ. Một thị tứ trên núi cao, có quán ăn, có hiệu tạp hóa với hàng hóa phong phú và người bán hàng dọc hai bên đường khá đông đúc. Cuộc sống mới như một bức tranh tươi tắn sắc màu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng đã làm bừng sáng vùng đất thượng du này.

Từ Sala Khukhun, xe ngoặt phải và lại bám vách núi trên đường 13 mà lăn bánh. Ngày mai 13 tháng Tư mới bắt đầu Tết Lào, mà lúc này, mấy khóm nhà bên đường giữa nắng trưa, lác đác đã có những tốp trẻ em với súng phun nước bằng nhựa, với những xô, những can đầy nước đang tươi cười hớn hở. Những tia nước tung vọt cầu vồng long lanh trong nắng nghe náo nức như những tiếng reo vui. Cửa xe đã đóng kín, tha hồ cho những dòng nước phun thẳng vào các tấm kính chắn. Ai cũng đã mệt lử, mệt vì tuổi tác, vì đèo dốc uốn lượn, vì độ cao ù tai và cả vì ăn xôi không quen nhưng mọi người vẫn nhổm dậy vẫy tay hò reo cổ vũ.
Tuy là quốc lộ chính nhưng đường 13 còn hẹp và quanh co uốn khúc. Đường vắng, thi thoảng mới bắt gặp ngược xuôi đôi chiếc xe tải kềnh càng, xe bán tải và xe máy chở hai chở ba phóng vùn vụt. Chợt nhớ đường phố Phôn Xa Vẳn rất nhiều loại xe bán tải. Người Lào rất ưa dùng loại xe này bởi nó phù hợp với tập quán canh tác và sinh hoạt của họ. Xe bán tải khỏe và tiện dụng, chở người đi hội, đi sản xuất phù hợp với đường đèo dốc.
Xe chúng tôi tiếp tục lăn bánh trên con đường quanh co. Xa xa, tít dưới thung sâu đôi ba đám khói đốt nương. Chẳng còn rừng già, những dãy núi chất ngất xa tít đã nham nhở những vạt rừng bị đốt trụi, những sườn núi trọc trơ. Người Lào đã bước vào vụ gieo trỉa mới. Thời tiết Lào có hai mùa mưa, nắng rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu vào đầu tháng Tư dương lịch và là mùa gieo trỉa cấy trồng duy nhất trong năm. Mùa gieo trỉa, người ta vào rừng bắt trâu về rồi cả làng cả bản kéo nhau vào đồng, lên rẫy. Cấy dắm gieo trỉa xong để đấy chờ thu hoạch. Thiên nhiên Lào rất ưu ái con người. Núi rừng sông suối lắm sản vật, lắm cá tôm. Điều này quyết định việc hình thành tập quán của người dân. Họ sống thong dong, vui vẻ, cởi mở. Suốt sáu tháng mùa khô là thời gian để người người lên chùa, đi chơi, buôn bán, lễ hội và yêu đương… Văn hóa, những điều được đời sống chắt lọc bắt đầu từ cuộc sống như vậy. Mà tập quán sinh sống lại do thiên nhiên, do thời tiết quyết định. Người Lào có câu “Khôn Lào bọ mắc nhạc”. Người Lào ưa sự thanh thản, không thích rắc rối, phức tạp… Tập quán sống từ muôn đời đã hình thành nên văn hóa Lào, hình thành nên tính cách người Lào, ưa sự phóng khoáng, hồn nhiên. Không bon chen, không tranh giành.
Tính từ lúc ở Sala Khukhun, ba tiếng đồng hồ đã trôi qua mà chúng tôi vẫn cứ quanh co lẩn khuất trong mây tít tận trên núi cao. Dọc đường cũng chỉ gặp đôi ba ngôi nhà kín mít tối om ép mình bên vách núi, dưới tán rừng… Chúng tôi đang ngao du trên chót vót thượng du Lào. Điểm đến đang có sức hút mạnh khiến ai cũng quên cả mệt nhọc. Quãng đường thật là hiểm trở, ngoài sức tưởng tượng. Đèo Hải Vân, đèo Pha Đin… ở Việt Nam cũng chẳng là gì so với ở đây. Đường nguy hiểm, nhưng bù lại phong cảnh hùng vĩ, dễ đưa con người tới những cảm giác choáng ngợp trước thiên nhiên kì vĩ… Chợt có tiếng kêu lên, kia rồi, đến nơi rồi… Tôi phóng mắt nhìn ra, thấp thoáng sau kính xe, loang loáng trong dải mù khô và lẫn trong màu rừng, lẫn trong màu bàng bạc của khói sương, dưới tít tắp xa mù, một khoảnh đất bằng, lấp lánh những mái nhà và dải sông uốn lượn. Luông Prabăng kia rồi. Ai nấy thở phào.
Đã trông thấy nhưng mãi sau hơn ba mươi phút xe chúng tôi mới mon men tới rìa thị xã. Luông Prabăng nằm ở ngã ba sông Mê Kông và sông Nặm Khan, cách Viêng Chăn 425 km về phía bắc. Luông Prabăng, kinh đô của vương quốc Lạn Xạng (vương quốc Triệu Voi) từ thế kỷ 14 đến năm 1946. Trước năm 1975 nó vẫn là thủ đô hoàng gia, trung tâm của vương quốc Lào. Chúng tôi chỉ mới biết vậy. Còn lúc này, cố đô đã hiện ra ngay trước mắt. Trong ánh chiều tà sương khói, những bóng dừa, những mái chùa, những tòa nhà cao thấp và bóng dáng thiếu nữ Lào tha thướt đã trở nên lung linh như huyền thoại.
Xe lớn không được phép vào trung tâm, hơn nữa khách sạn trong đó đã hết chỗ vì khách du lịch đến rất đông. Đành phải tìm chỗ nghỉ ở mấy khách sạn bình dân và may cũng còn chỗ, mặc dù giá phòng so với tiền Việt chẳng dễ chịu chút nào. Nhà nghỉ của người Việt, chủ là một người đàn ông trẻ nói giọng Sài Gòn khá dễ tính và thông cảm. Biết thêm rằng giá như vậy là bèo rồi, chỉ tội mình quá ít tiền. Bữa tối cũng ăn cơm Việt. Không ngờ tại nơi xa xôi tít tắp này lại gặp đồng hương. Với tiếng nói trọ trẹ, người đàn bà độ ba lăm bốn mươi tuổi, khá đẫy đà, thịt da căng mẩy, nói “…mẹ em người Quỳnh Lưu, bố người Diễn Đoài, Diễn Châu. Em sang đây làm cho anh chị đã được mấy năm”. Vừa rời nước hai ngày, đang có cảm giác bơ vơ nơi đất khách, tiếng quê hương chợt trở nên gần gũi, thân thương đến lạ lùng. Cảm giác thế mới thấy niềm hoài vọng cố hương luôn là điều thiêng liêng đối với những ai xa Tổ quốc.
Đêm đầu tiên tại Luông Prabăng bốn người một phòng nhỏ hai giường, thôi đành… Ngày hôm sau, một chiếc tuk tuk chở chúng tôi đi trên đường phố chính với không khí rộn ràng của ngày Tết “Bun hót nặm” (Hội té nước). Chưa đến giờ cao điểm, đường phố chỉ lác đác đôi tốp thanh niên, trẻ nhỏ tập trung với can nước, thùng nước và các dụng cụ phun nước trong tay, vừa ăn uống vừa nhảy múa và một hàng dài sư sãi đi khất thực. Một hàng dài các nhà sư áo vàng nổi bật trên màu xanh cây lá chậm rãi bước dọc các hè phố. Một ban mai bình yên và ngập tràn không khí từ bi hỉ xả.

Điểm đầu tiên là chúng tôi đi thăm chợ. Chợ Luông Prabăng ngay trung tâm. Hàng thổ cẩm, hàng mỹ nghệ bày trong các kiốt nhỏ, hàng thực phẩm dọc hai bên đường. Cá sông Mê Kông tươi ngon, rau tươi xanh mướt. Người bán niềm nở vui vẻ nhưng không có cảnh mời chào chèo kéo. Tôi mua mấy cụm phong lan của một người đàn bà hết hai mươi ngàn kíp, tương đương gần sáu chục ngàn đồng tiền Việt. Chuẩn bị đi tiếp tôi mới phát hiện là đã trả nhầm quá mười ngàn kíp, quay lại chỗ người bán xem sao nhưng thật không ngờ. Vừa thấy tôi, bà bán hàng nhoẻn miệng cười rút ngay mười ngàn kíp trả lại. Sau khi dạo một vòng quanh chợ, chúng tôi đi thăm chùa Xiêng Thoong… Chùa Xiêng Thoong là ngôi chùa cổ nghe nói rất linh thiêng. Cũng là lối kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Lào – Thái, mái chùa gồm nhiều lớp xếp chồng lên nhau, chỏm mái cong nhọn cao vút trên nền trời trầm mặc. Màu vàng của tường, của các tượng Phật, màu vàng trên những bức phù điêu đường nét tinh tế, đậm chất Phật giáo… Bức tượng Phật uy nghi trầm tư trong không gian tĩnh lặng… Khách du lịch Tây, Hàn, Nhật… rảo bước thăm thú, chụp ảnh lưu niệm. Tiếp đó, chúng tôi tới thăm cung điện hoàng gia. Cũng như chùa Xiêng Thoong, cung điện hoàng gia ngự trong một khuôn viên rợp bóng cây xanh như cọ, dừa và rất nhiều cây đại hoa trắng, hoa đỏ. Người Lào gọi đại là chămpa, hoa chămpa là biểu tượng của đất nước Lào, thơm nhẹ và tinh khiết. Đối diện với cung điện hoàng gia là đồi Phousi có rừng cây với lối lên chùa (nằm ở trên đỉnh đồi) gồm hàng trăm bậc cao vút, từng đoàn người thong thả bước. Vậy là cùng với Thạp Luổng, chùa Me Xỉ ở thủ đô Viêng Chăn… và tất cả các di tích ở đây, trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, cho dù chiến tranh bom đạn, người Lào vẫn giữ gìn được báu vật của tổ tiên để lại. Hoàng cung, nơi ở và làm việc của Vua Setthathirath tới năm 1560, hôm nay đã trở thành Viện Bảo tàng phục vụ khách du lịch. Các phòng đông nghịt khách tham quan, hướng dẫn viên người Lào nói tiếng Anh, nói tiếng Lào bổng trầm thánh thót. Khách du lịch lặng phắc nghe… Tôi đưa mắt nhìn, chẳng biết nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Tố của chúng tôi đã lỉnh đi đâu. Có lẽ ông đang bị các cảnh vật, công trình nơi đây mê hoặc. Bức tượng Phật bằng vàng nặng gần sáu mươi cân cùng các bức phù điêu. Dưới kia, những con thuyền chở khách ngược xuôi trên dòng Mê Kông lãng đãng khói sương… Chúng tôi kéo nhau đi như bị thôi miên qua hết nơi này đến nơi khác… Khách du lịch dập dìu. Khách Tây, khách Việt, khách Hàn, khách Nhật, nhưng đông nhất vẫn là người Lào. Thiếu nữ Lào từng tốp với váy bó hông tôn khuôn người cao khỏe duyên dáng dạo bước. Đâu đó trên núi Phousi, giai điệu của những bản nhạc cung đình cất lên rộn ràng thánh thót càng làm huyễn hoặc thêm không gian văn hóa nơi cung điện hoàng gia lúc này. Ôi, Luông Prabăng… Luông Prabăng với những đền chùa miếu mạo bảng lảng như là sự lơ đễnh, như là sự lãng quên trong sương khói của thời gian. Dòng Mê Kông lúc này cũng như đang mơ màng đầy quyến rũ. Luông Prabăng… Tôi đã nhận ra những nét rực rỡ vàng son quá vãng còn lưu dấu trên lớp lớp những mái cong trầm mặc, lưu dấu trong những khuôn viên tĩnh lặng thanh bình, những đường phố khuất vắng bình yên và cả trên thân hình, trên những nếp váy vàng, xanh thiếu nữ. Tâm hồn một dân tộc toát hiện đầy vẻ từ bi hồn hậu, đầy vẻ liêu trai thoát tục…
Lần đến Lào đầu tiên của tôi cách nay đã lâu lắm, đó là vào năm 1972, khi tôi là anh lính pháo cao xạ chiến đấu ở chiến trường Bôlikhămxay, Khăm Muộn dưới Trung Lào. Hồi đó rừng Lào còn bịt bùng mà chúng tôi thì suốt ngày ở trong rừng để phục bắn máy bay, để bảo vệ cho pháo đất của ta hiệp đồng với bộ binh đánh Thà Khẹt. Vào Ma Ha Xay, một thị trấn xinh đẹp nằm bên hữu ngạn sông Sêbăngphai đã bị đổ nát và hoang vắng. Tôi tẩn mẩn nhặt những pho tượng Phật nhỏ bị vung vãi rải rác trong những đám cỏ khô xác mà chưa biết xót đau. Năm 2005, cũng như với Việt Nam, khi mà hòa bình đã nhiều năm, và cuộc sống người dân Lào đã có nhiều thay đổi, tôi trở lại con đường ngày xưa mà đơn vị đã hành quân trên đất nước Lào. Tôi gặp lại Napê, Lạcxao… Những cánh rừng xưa đã không còn. Đường 13 láng mướt bám dọc sông Mê Kông lồng lộng gió. Và thủ đô Viêng Chăn có Thạt Luổng vút cao trầm mặc uy nghi, có Bảo tàng Cay Xỏn trang nghiêm, có chùa Me Xỉ linh thiêng, có những đường phố bình yên và những người Lào thân thiện và gần gũi. Lần đó chúng tôi đã ăn một bữa tối trên phố ăn đêm bên sông Mê Kông lung linh ánh điện. Và bên kia là đất Thái mà lịch sử từng nhắc những nơi đó vốn là đất Lào. Ôi, lịch sử đất nước nào cũng có những trang đau thương và bi tráng… Và lần gần đây là vào năm 2007. Lần đó, chúng tôi cũng thăm Cánh đồng chum rồi ra ngã ba Khukhun, theo đường 13 ngoặt trái xuống Ca Xỷ, xuống Văng Viêng, vào Viêng Chăn để kịp đón Tết Bunpimay năm đó. Và lần này đến Luông Prabăng, đứng trên những bậc xi măng dẫn xuống bến thuyền trên dòng Mê Kông cạnh hoàng cung, tôi đưa mắt ngắm những ánh nắng buổi chiều tà trên dòng Mê Kông có phần vắng vẻ, cô liêu mà thấy lòng mình như tan hòa trong cái không gian cô tịch mơ màng.
Thời gian đã hết, vậy là còn rất nhiều điểm cần đến đành lỡ hẹn. Với mỗi đời người sẽ có bao điều lỡ hẹn. Ví như sáng hôm sau, khi quay đầu ngắm nhìn Luông Pabăng đang mơ ngủ để lại tiếp tục chặng đường quanh co đèo dốc trên chót vót núi cao trở về mà lòng tự hỏi, mình còn có dịp quay lại thăm cố đô thêm lần nữa không. Khi phố xá, chùa chiền đã khuất tít dưới sâu thung lũng, tôi thả lỏng người và chợt nhớ tới mấy người lính Pa Thét Lào gặp ở bữa ăn trưa trên đỉnh đèo Khukhun hôm lên. Bốn, năm sĩ quan Lào ngồi ăn lặng lẽ và quan sát chúng tôi với ánh mắt thân thiện. Biết họ rất muốn bắt chuyện, tôi đứng dậy bước sang và tự giới thiệu. Tất cả họ ồ lên, rồi một người cầm chai bia Lào rót mời khắp lượt chúng tôi, miệng không ngớt nói Việt – Lào “xamakhi” (đoàn kết). Vâng, Việt – Lào xamakhi. Việt – Lào đoàn kết. Thế đấy, câu nói này là câu nói cửa miệng của bất kỳ người Lào nào nếu họ gặp người Việt. Tôi đã nghe câu nói này cách nay hơn bốn mươi năm của các chàng trai cô gái dưới Mahaxay. Và được biết nó còn được phát ra từ miệng người Lào từ trước đó rất lâu nữa. Lâu lắm rồi, tình cảm son sắt, thủy chung đã được vun đắp bằng rất nhiều máu xương của hai dân tộc… Xiêng Khoảng, Sala Khukhun, Luông Prabăng… những địa danh đi qua cũng chính là những dấu mốc, cũng là những tình cảm vun đắp làm dày thêm mối tình đặc biệt Việt – Lào.
Tạm biệt Luông Prabăng. Tạm biệt cố đô của đất nước Lạn Xạng, một đất nước yêu chuộng tự do, yêu chuộng hòa bình và nặng tình hòa hiếu.
Nguyễn Ngọc Lợi
(Bài đã đăng trên tạp chí Sông Lam số 21, tháng 3/2022)














