28.4 C
Vinh
Thứ Tư, Tháng Sáu 19, 2024

Trường tiểu học Pháp – Việt Vinh, nơi Nguyễn Tất Thành từng học tập

Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh) sinh ngày 19/5/1890 ở Kim Liên, Nam Đàn. Thời niên thiếu, Bác được học với thầy Vương Thúc Quý ở làng Sen, thầy Trần Thân ở làng Ngọc Đình xã Kim Liên, thầy Hoàng Phan Kính ở làng Hữu Biệt ở xã Nam Giang, huyện Nam Đàn. Sau khi gặp gỡ các nhà nho ở một số vùng quê trên hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh, năm 1905, cụ Nguyễn Sinh Sắc quyết định cho hai con là Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Sinh Khiêm xuống Vinh học tiếng Pháp ở Trường tiểu học Pháp – Việt với thầy Lê Văn Miến.

Từ khi thực dân Pháp xâm chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ (1867) nền nho học nước ta đã bắt đầu xuống dốc. Vừa nhận chức Toàn quyền Đông Dương, Paul Doumer ký lệnh thành lập trong phạm vi cả nước một loạt trường tiểu học gọi là trường Pháp – Việt bản xứ đặt ở thành phố và các tỉnh lớn để dạy tiếng Pháp, kèm theo Quốc ngữ và chữ Hán. Khi Nha học chính Đông Dương được thành lập, và Hội đồng Cải cách giáo dục ra đời, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho phép các tỉnh Trung Kỳ được mở trường Pháp – Việt. Những trường này dần dần thu hút thanh niên và nho sinh của các thầy đồ ở hương thôn. Các thầy đồ nho phải than thở: Nào có ra gì cái chữ nho/ Ông Nghè ông Cống cũng nằm co.

“Sau khi âm mưu chuẩn bị đánh Pháp của Vua Thành Thái bị bại lộ, nhà vua bị quản thúc, quan Thượng thư Đào Tấn, người từng giữ chức Tổng đốc Nghệ An bị bức phải về hưu. Năm 1904, thầy Lê Văn Miến bị đày ra Nghệ An giữ chức Đốc giáo trường Pháp – Việt lần thứ 2 (1904 – 1907)”.(1)

Trường tiểu học Pháp – Việt ở Vinh. Nguồn ảnh cuả nhà Vinh học Phạm Xuân Cần

Trường tiểu học Pháp – Việt ở Vinh được mở ra nhằm đào tạo lớp viên chức tân học phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Trường tiểu học Pháp – Việt nằm ở khoảng khu vực Công ty Thương mại ở khối 12, phường Quang Trung, thành phố Vinh, giữa đường Đặng Thái Thân giáp đường Nguyễn Cảnh Chân ngày nay. Trường xây bằng gạch, mái lợp ngói Macxay, hồi đó trường có 3 phòng học, giáo viên thì có 5 thầy. Riêng cụ Lê Văn Miến cùng dạy với các thầy nhưng ở nhà trọ, đến giờ lên lớp cụ mới vào dạy.

Vốn ghét lối học “Trên cành trên lá”, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc thấy được sự cần thiết, hợp thời của việc học chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Sau khi cân nhắc điều hơn lẽ thiệt, năm 1905 cụ mạnh dạn cho cả Tất Đạt, Tất Thành xuống thị xã Vinh học trường tiểu học Pháp – Việt. Làng Kim Liên có Chu Văn Phi (tức Nậy) học cùng với Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Tất Đạt. Tay quen cầm bút lông, lần đầu tiên tập viết bút sắt, Tất Thành thấy rất ngượng, nhưng phải công nhận rằng thứ chữ mới này học chóng hóa thật. “Chính ở lớp học này, Tất Thành bắt đầu tiếp xúc với mấy chữ “tự do, bình đẳng, bác ái” treo trên tường lớp. Anh bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa của những từ hấp dẫn đó” (2). Về sau Bác Hồ có nói đến điều này: “Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Pháp tự do, bình đẳng, bác ái. Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy” (3).

Cụ Lê Văn Mến (Tác giả chụp trong nhà thờ họ Lê ở xã Nghi Long – Nghi Lộc)

Thầy Miến quê ở làng Ông La, xã Kim Khê (nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc), 7 năm du học tại Pháp, học trường mỹ thuật Pa ri, là người sáng lập và là Đốc học đầu tiên của Trường Pháp – Việt Vinh. Ông cũng là thầy dạy tiếng Pháp cho hai anh em Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành. Lê Văn Miến không chỉ với tư cách là một thầy giáo được cậu học trò lỗi lạc Nguyễn Tất Thành ngưỡng mộ mà còn là người được cụ Nguyễn Sinh Sắc tin cậy. Theo các cụ ở xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc trong thời gian hai con theo học ở Trường Pháp – Việt Vinh hơn 1 năm (1905-1906), cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc có đưa Nguyễn Tất Thành về thăm nhà cụ Lê Văn Miến một vài lần. Cha con vào từ đường thắp hương viếng cụ tiên tổ của dòng họ. Sáng sáng Nguyễn Tất Thành thường lấy cuốc xới vườn, trồng rau thì là. Chiều chiều cụ Nguyễn Sinh Sắc cùng cụ Lê Văn Miến đưa Nguyễn Tất Thành viếng cảnh chùa chiền, thăm đình Kim La, xây dựng năm Nhâm Dần (1896). Trước đình có chữ La Đình, đôi câu đối bằng chữ Hán:
Thanh danh văn vật chi độ
 Phụ huynh tôn tộc sở tại.

Nguyễn Tất Thành cũng vào thăm nhà thánh có nhiều tượng đá, ngoài những nghi lễ tâm linh, trong đình còn có lễ bình văn, bình thơ tôn vinh những người đậu đạt trong các kỳ thi. Làng ông La xã Nghi Long xưa là vùng đất có nhiều người đậu học vị cao các kỳ thi như cụ Tiến sỹ Đinh Hồng Phiên đi sứ Trung Quốc vào năm 1813 – 1814.

Xuất thân từ một gia tộc khoa bảng “Cụ Lê Văn Miến vẫn giữ được cốt cách của một nho sĩ với lối sống giản dị, tiết kiệm của vùng quê Nghệ Tĩnh. Khi có việc đi ra ngoài, dạy học cụ thường mặc chiếc áo sa đen mỏng, quần vải quyên, đầu vấn khăn lược dài, chân mang giày tây, trời lạnh quàng thêm chiếc ba – dơ – xuy, khi mưa thì thêm chiếc ô đen. Khi có việc cần kíp lắm hay những ngày đại lễ phải đi dự, bất đắc dĩ cụ mới đi xe kéo” (4).

Thị xã Vinh lúc này sầm uất hơn hẳn so với mấy năm trước. Năm 1905, là năm thứ 8 trong chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương. Người Pháp làm đường Vinh qua Lào, ngày 27/3/1905, tuyến đường sắt từ Vinh – Hà Nội được khánh thành, đường phố Vinh được mở rộng. Nhà máy Xe lửa Trường Thi được khởi công xây dựng. Các hiệu buôn Pháp kiều, Hoa kiều bán nhiều loại hàng nhập khẩu. Do nhu cầu sản xuất, nhập khẩu hàng ngày càng tăng nhanh, cảng sông Bến Thủy được nạo vét… Cái nôi quê hương giàu truyền thống đã tạo cho Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, thương dân và ý chí “làm trai cho đáng nên trai”. Tấm gương của các thầy giáo và hoạt động sôi nổi của bậc cha, chú như Phan Bội Châu, sự nghiêm khắc dạy dỗ của cụ Sắc đã kích thích chí làm trai của anh.

Trong thời gian Nguyễn Tất Thành học Trường tiểu học Pháp – Việt Vinh, cụ Nguyễn Sinh Sắc thường hay lui tới các tổ chức chính trị trá hình như “Hoan châu học hội”, “Triều dương thương điếm” ở Vinh. Cụ Lê Văn Miến là một trong những người thành lập ra “Hoan châu học hội” và đóng góp tiền cho “Triều dương thương điếm”. Cụ là độc giả thường xuyên của tờ báo “Tiếng Dân”, “An Nam tạp chí”, “Hữu Thanh”, lúc buồn, cao hứng thì cụ thường ngâm Kiều” (4).

Cụ cũng thường lui tới Văn miếu tỉnh để đàm đạo với các nhà nho, cụ lấy cảm hứng từ các buổi trao đổi với các nhà thơ để vẽ bức “Bình văn”, kiệt tác đầu tiên của nền hội họa Việt Nam hiện đại nhằm thức tỉnh và động viên tinh thần hiếu học, yêu nước của thanh niên lúc bấy giờ.

Cuối năm 1906 không thể lần lữa mãi được, cụ Nguyễn Sinh Sắc phải có mặt ở Bộ Lại của triều đình Huế để nhận chức Thừa biện Bộ Lễ. Hai anh em Tất Đạt, Tất Thành phải nghỉ học ở Trường tiểu học Pháp – Việt Vinh cùng được theo cha vào kinh đô Huế. Kỳ thi vào trường Quốc học niên khóa 1907-1908 cả hai anh em đều trúng tuyển.

Từ năm 1907-1913 thầy Lê Văn Miến được điều về Trường Quốc học Huế để dạy Pháp văn và dạy vẽ. Tại đây một lần nữa Nguyễn Tất Thành lại được học tiếng Pháp với thầy Lê Văn Miến. Trong một buổi thầy Miến đến chơi nhà, Tất Thành lễ phép thưa: “Dạ thưa thầy, con được nghe danh thầy đã lâu, nay con lại vinh dự được gặp thầy. Thầy Miến nói: Cha cháu với chú là chỗ thân tình, cùng quê. Cháu cứ gọi là chú vì chú ít tuổi hơn cha cháu. Nay mai hai anh em cháu vào Trường Quốc gia học đường, lúc bấy giờ là thầy trò thực sự, ta sẽ gọi nhau đúng chức danh, cháu à. Rồi ông tâm sự: Chú hơi lo cho Tất Đạt, sức học có phần yếu một chút. Cháu Đạt phải cố gắng ngay từ đầu năm học, về sau mới đuổi kịp trình độ chung của trường. Còn cháu, cháu thuộc loại “Hiền đức tại tâm, anh hoa tại mục” (Đức lớn ở lòng, sự thông minh hiện rõ lên trong mắt). Trước khi ra về, thầy Miến chắp tay trước ngực: “Xin chúc mừng quan bác có một người con Nguyễn Tất Thành sẽ Tất Thành. Tôi sẽ có vinh dự được làm một người thầy học của trò Nguyễn Tất Thành” (5).

Trong những năm học Trường tiểu học Pháp – Việt ở Vinh cũng như ở trường Quốc học Huế, cụ Nguyễn Sinh Sắc đã gửi gắm hai người con, đặc biệt là Nguyễn Tất Thành cho cụ Lê Văn Miến. Trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng, Nguyễn Tất Thành thổ lộ: “Thầy là gương sáng về cốt cách người Nam để chúng con noi theo. Thầy từng du học bên Tây, ăn cơm Tây, nói tiếng Tây, nhưng không hề thấy thầy đã bị trừ đi một phần nào cái cốt cách dân tộc. Không có lớp các thầy, những người như thầy thì đâu có lớp chúng con”(6).

Vào năm 1945, nước nhà độc lập, người học trò yêu quí ngày ấy của cụ Lê Văn Miến đã trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong sâu thẳm ký ức, người Đốc giáo Trường tiểu học Pháp – Việt Vinh luôn tự hào về chàng thanh niên làng Sen con cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc mang trong mình những hoài bão lớn vì quê hương đất nước sẽ tất thành trong sự nghiệp lớn và niềm tin ấy đã là hiện thực!


(1). Báo giáo dục và thời đại online (Thế gia sư – Lê Văn Miến người thầy giáo của Bác Hồ) của Ngô Minh Thuyên.
(2). Hồ Chí Minh thời niên thiếu (Ban Sử Đảng tỉnh Nghệ An). NXB Nghệ An 2007, trang 57.
(3). Ôxipmanden – Stam. Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản. Nguyễn Ái Quốc – Đốm lửa nhỏ – Liên Xô số 39 ngày 23/12/1923;
(4). Kỷ yếu hội thảo kỷ niệm 150 năm ngày sinh danh nhân văn hóa – họa sĩ Lê Văn Miến. Huế năm 2024, trang 27; 28;
(5, 6). Búp Sen xanh – Sơn Tùng. NXB Kim Đồng, 2008, trang 181, 184, 211, 212.

Phan Xuân Thành

VIDEO