27.5 C
Vinh
Thứ Hai, Tháng 5 18, 2026
Trang chủ Lý luận - Phê bình Trường ca “Bước gió truyền kỳ”: Cuộc “hợp hôn” diệu kỳ giữa...

Trường ca “Bước gió truyền kỳ”: Cuộc “hợp hôn” diệu kỳ giữa cảm thức lịch sử và văn hóa dân tộc

Tập trường ca "Bước gió truyền kỳ" của Phan Hoàng. Ảnh: Lý Uyên

Trường ca “Bước gió truyền kỳ” là một tác phẩm của nhà thơ Phan Hoàng, do NXB Hội Nhà văn ấn hành, ra mắt bạn đọc lần đầu năm 2016.

1. Saint John Perse, nhà thơ nổi tiếng của Pháp, đoạt giải Nobel Văn học 1960, khi luận bàn về cội nguồn làm nên dự phóng sáng tạo của thi nhân đã xác quyết: “Nhà thơ tuy chẳng muốn cũng thấy mình tự ràng buộc vào cuộc chuyển biến của lịch sử”[1]. Vì thế, không phải ngẫu nhiên, mở đầu trường ca “Bước gió truyền kỳ”, Phan Hoàng viết những dòng thơ đề từ như một giãi bày về sự kết hợp diệu kỳ giữa lịch sử và văn hóa dân tộc, một căn tố đã làm nên cảm hứng sáng tạo của thi nhân lan tỏa trong từng dòng thơ mà khi đọc lên, trong tâm thức mỗi người dân nước Việt mang dòng máu Lạc Hồng đều vang lên niềm tự hào, lòng tri ân đối với tiền nhân cùng những ưu tư về tiến trình lịch sử và văn hóa dân tộc trong hành trình dựng nước, giữ nước rất hào hùng nhưng cũng đầy bi tráng: “Cám ơn người mở đường/ hóa thân bước gió trường kỳ/ ta lang thang khắp mọi ngả đường Tổ quốc/ uống dòng hào khí bi hùng ngàn năm/ dòng hào khí đánh đổi tinh hoa lớp lớp người người[2]

Các câu thơ trên là lời tri ân của nhà thơ đối với những hy sinh của cha ông cho sự tồn sinh muôn đời của đất nước mà trong cuộc sống hôm nay, chúng ta không được phép lãng quên. Thế nên, lời mở đầu trường ca “Bước gió truyền kỳ”, có ý nghĩa thức nhận đối với chúng ta về bài học đạo lý rất đỗi bình thường nhưng có thể trở thành bất thường trong cuộc sống hôm nay, đó là lòng biết ơn đối với bao lớp người từ ngàn xưa đã hy sinh xương máu, tài năng, trí tuệ để gầy dựng nên Tổ quốc dấu yêu này!? Bước gió truyền kỳ, vì thế, đã kiến tạo trong tâm thức người đọc một tượng đài văn hóa cao đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, đó là tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”, một biểu hiện của sự quyện hòa giữa cảm thức lịch sử và văn hóa. Và đây là cảm hứng chủ đạo, là hệ giá trị chi phối nội dung tư tưởng và nghệ thuật của trường ca, tạo nên những bước gió trường kỳ, những ưu tư, thao thức: “Người ơi từ đâu theo gió bay đi/ từ đâu hồn thiêng bay về cùng gió/ Đêm đêm bỗng nghe bóng cây ngọn cỏ/ tiếng ai trong gió lạnh rơi thì thầm/ Đêm đêm bỗng nghe rừng xanh thành cổ/ bước ai trong gió lặng trôi bềnh bồng” (Những ngọn gió vô danh).

2. Xuất phát từ trường cảm thức này, chương mở đầu trường ca “Bước gió truyền kỳ”, với tiêu ngữ “Những ngọn gió vô danh” và lời đề từ “Thay lời cầu nguyện” đầy xúc cảm, mang dấu ấn văn hóa tâm linh, một nét đẹp trong truyền thống văn hóa Việt gắn kết với dấu chỉ lịch sử dân tộc: “Người từ ngàn năm người quên tên tuổi/ bỗng gió theo về bỗng gió bay đi” đã tạo nên một dấu ấn sâu sắc trong tâm cảm mỗi người dân nước Việt, luôn tự hào mình là nòi giống Tiên Rồng.

Tôi vô cùng ấn tượng với chương mở đầu Bước gió truyền kỳ. Bởi, khi nói đến hành trình dựng nước, giữ nước của dân tộc, khác với lẽ thường, thi nhân không nói đến tên tuổi một vị vua chúa, một người anh hùng nào mà chỉ tôn vinh những “ngọn gió vô danh”. Đó là những con người sống lặng lẽ và hy sinh cũng lặng lẽ, có thể “vua không biết mặt, chúa không biết tên” nhưng họ là những người đã “hóa thân cho dáng hình xứ sở/ Làm nên Đất nước muôn đời…” (thơ Nguyễn Khoa Điềm), mà người đời thường truyền tụng là những “anh hùng vô danh”. Bởi như tâm nguyện của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong lời tựa nhạc phẩm Tự tình khúc, Nhân bản ấn hành tại Sài Gòn năm 1972, khi nghĩ về cuộc tranh đấu đòi hòa bình của nhân dân miền Nam trước 1975, ông chia sẻ: “Chúng ta đã đấu tranh. Đang đấu tranh. Và có thể còn đấu tranh lâu dài. Nhưng tranh đấu để giành lại quyền sống, để làm người, chứ không để trở thành anh hùng hay làm người vĩ đại. Cõi người từ khước tước hiệu đó”[3]. Và họ là ai mà đã làm nên lịch sử hào hùng, làm nên bề dày văn hóa, làm nên sức mạnh phi thường, đánh bại bất cứ cuộc xâm lăng nào của ngoại bang để Tổ quốc trường tồn!? Câu trả lời đã được tìm thấy trong Bước gió truyền kỳ: “Người mới con trai người vừa con gái/ ước mơ căng tràn ngực gió thanh xuân/ Người lên đầu non người xuôi cuối bể/ xác hóa mây bay hồn về đất mẹ/ Người từ ngàn năm người quên tên tuổi/ bỗng gió theo về bỗng gió bay đi”. (Những ngọn gió vô danh). Những suy niệm này của nhà thơ có thể xem là phẩm tính của tư duy triết mỹ, tạo giá trị mỹ cảm mới trong nhận thức về sự “hợp hôn” diệu kỳ giữa cảm thức lịch sử và văn hóa thể hiện trong Bước gió truyền kỳ. Và đó là một cảm thức lịch sử, văn hóa khác với lẽ thường tình, khi lòng tri ân đã nâng lên thành biểu tượng: “Ngọn gió truyền kỳ”. Đó là ngọn gió văn hóa, ngọn gió lịch sử, ngọn gió hồn thiêng sông núi có sức lan tỏa và truyền năng lượng mỹ cảm đến muôn đời con cháu mai sau. Không những thế, đây còn là “ngọn gió tiếp sức những ước mơ” để “mở đường bay” cho dân tộc vươn tới những chân trời cao rộng của lao động sáng tạo: “Mỗi ngọn gió bay mở một con đường/ mỗi con đường lao đi bí ẩn như ngọn gió/ mạnh mẽ và thơ ngây”. Và, với hàng loạt câu hỏi tu từ: “Gió từ đâu mà có? / Gió do ai sinh ra?/ Gió có mẹ có cha?/ Gió có ông có bà?/ Gió có nội có ngoại?”, nhà thơ đã nêu ra những lời tự vấn như đối thoại với cội nguồn lịch sử và văn hóa về những điều kỳ diệu làm nên sức sống của dân tộc, kết tinh thành Bước gió truyền kỳ qua những biểu tượng như: Lạc Long Quân, Âu Cơ: “bay từ đất thiêng trung thành voi phục Phong Châu/ bay từ khí thiêng oai hùng rồng lượn Thăng Long/ Ơi lớp lớp người người/ hiên ngang đôi cánh ước mơ chim Việt/ đôi cánh ngàn năm/ ước mơ ngàn năm/ âm vang bước gió truyền kỳ”; Hay Huyền Trân: “Bước gió dịu dàng kiệu hoa Huyền Trân/ tay gạt nước mắt tay cầm nhan sắc/ không tướng không quân/ xông pha đắp bồi hình hài đất nước”; Và Lê Thánh Tôn: “Bước gió vó ngựa uy phong Lê Thánh Tôn/ lưng kiếm túi thơ/ rừng nghinh biển đón/ phất cờ mở rộng biên cương Tổ quốc”…

Sức mạnh Bước gió truyền kỳ, trong cảm quan của thi nhân bắt nguồn từ truyền thống văn hóa nguyên ủy của dân tộc. Đó là văn hóa dân gian Việt Nam, một loại hình văn hóa chứa trong đó những phẩm tính nhân văn cao đẹp: tự do, dân chủ, tin yêu. Vì thế, nó mang tính khai phóng khi luôn đặt con người trước những đối thoại văn hóa: “Gió tự do rong chơi mọi chân trời, có bao giờ được hôn tóc cô tiên hay vuốt ve chòm râu ông bụt? Gió có được bà thương yêu chiều chiều dắt đi lễ chùa cúng phật, chắp tay quỳ lạy nam mô a di đà cầu nguyện sức khoẻ mùa màng tốt tươi?/ Những câu hỏi ngây ngô như ngọn gió ngây ngô bay khắp nhà bay khắp vườn bay khắp làng bay khắp cánh đồng mênh mông đêm đông vắng mẹ./ Những câu hỏi mở đường bay đến chân trời biền biệt người thân như con sáo sổ lồng không tiếng vọng trở về nước mắt cây cỏ cố hương”. Và, từ góc nhìn địa văn hóa – lịch sử, nhà thơ đã luận giải sự “hợp hôn” diệu kỳ giữa căn nguyên làm nên biểu tượng của truyền thống văn hóa và lịch sử trong hành trình Bước gió truyền kỳ như một sự vận động biện chứng trong quan hệ giữa lịch sử và văn hóa dân tộc, mà theo suy niệm của nhà thơ: “Không có gió thì không có nước/ không có nước thì không có sông/ không có sông thì không có đồng/ không có đồng thì không có ruộng/ không có ruộng thì không có lúa/ không có lúa thì không có ta!” (Đồng dao nghịch gió).

Có thể nói, hình tượng đất nước, quê hương đã được thi nhân diễn giải hết sức bình dị không chỉ trong ngữ ngôn mà ngay cả trong tư duy luận lý nhưng lại biểu hiện một tinh thần biện chứng mang màu sắc triết luận ở sự kết hợp giữa các yếu tố: “nước/ sông/ đồng/ ruộng/ lúa/ ta” với cụm từ “không có” đã tạo nên giá trị mỹ cảm độc đáo, không ngoa ngôn, không làm dáng, không màu mè khi dụng ngữ mà lại tạo hiệu ứng thẩm mỹ sâu sắc trong cảm thức người đọc. Đây cũng là một phẩm tính thi ca, có thể tìm thấy trong trường ca “Bước gió truyền kỳ”.

Không dừng ở đó, hiệu ứng mỹ cảm được nhà thơ đẩy lên những cung bậc cảm xúc rộng hơn, cao hơn, sâu hơn. Đó là khi con người với tư cách là chủ thể lịch sử, văn hóa của đất nước đã tìm về với giá trị văn hóa nguyên ủy của dân tộc như: ca dao, tục ngữ, đồng dao, truyện cổ tích, phong tục tập quán, lễ hội…, cũng là lúc con người tìm thấy chính mình: “Ta về với lúa/ lúa về với ruộng/ ruộng về với đồng/ đồng về với sông/ sông về với nước/ nước về với gió/ gió về với ta!/ Lưng trâu chìm bảy nổi ba/ đồng dao nghịch gió trôi ra… dòng đời/ nhớ quê nằm mớ trò chơi/ sông xưa gió vọng tiếng cười lưng trâu/ dòng sông thơ dại dãi dầu/ bắc yêu thương những nhịp cầu đồng dao!” (Đồng dao nghịch gió). Và cảm cảm hứng thẩm mỹ này cũng hiện hữu ở các bài thơ: “Cuộc trò chuyện giữa gió và núi”; “Gió tiếp sức ước mơ”; “Gió khẩn hoang”; “Gió xuôi chín khúc sông rồng”; “Linh hồn gió”; “Gió cõng hương qua núi đồi”; “Gió dựng thành luỹ biên cương”; “Sen gió sử thi”… Bởi, ở các bài thơ này, sự hợp hôn diệu kỳ giữa cảm thức lịch sử và văn hóa trong hành trình mở cõi của dân tộc cũng được minh chứng qua các hình tượng thơ: “Những ngọn gió mang hương hồn đất đai/ tự vạch cho mình những con đường xuyên nam xuyên tây/ dọc ngang miền sông rạch/ Những ngọn gió chưa bao giờ ngừng thổi/ tiếp sức cánh buồm mang đầy hy vọng/ như chuyến tàu không ngừng chuyển bánh/ và cánh đồng xanh đến hạt phù sa cuối cùng / chuyển vụ / lại lên xanh” (Gió khẩn hoang).

Tập trường ca “Bước gió truyền kỳ” của Phan Hoàng. Ảnh: Lý Uyên

3. Từ những diễn giải trên, có thể nói sự “hợp hôn” diệu kỳ giữa cảm thức lịch sử và văn hóa dân tộc trong Bước gió truyền kỳ, chính là sự kết hợp của một thi pháp đa dạng. Đó là thi pháp thể hiện sự quyện hòa giữa các sắc màu: hiện thực, siêu thực, lãng mạn, kết tinh thành tâm thức hiện sinh như một ám ảnh của vô thức và tâm linh. Bởi, trong suy niệm của Hoàng Thái Linh: “Thơ có thể vừa là thực, vừa là không thực. Thực vì bắt đầu từ cuộc đời hằng ngày, không thực vì không bao giờ vượt xa nó. Thơ đưa chúng ta vào một thế giới huyền ảo, sâu ra của tưởng tượng, tôn giáo, thần thoại. Thế giới đó không phủ nhận cuộc đời hằng ngày nhưng chỉ khác biệt thôi”[4]. Và, những suy niệm về thơ được nói đến trong quan niệm của Hoàng Thái Linh, có thể tìm thấy trong thi giới Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng. Vì vậy, nếu chúng ta tiếp cận trường ca “Bước gió truyền kỳ” với cách đọc thông thường, ắt hẳn sẽ không thể giải mã được những ẩn ngữ văn chương mà thi nhân muốn gởi gắm trong thế giới nghệ thuật thơ giàu tính biểu tượng ở trường ca này. Đó là cuộc trò chuyện mang ý nghĩa dụ ngôn quyện hòa giữa lịch sử và văn hóa với sắc màu vừa hiện thực lại vừa siêu thực giữa “gió và núi”: “Nhiều đêm trong mơ ngược dòng ấu thơ đuổi bắt sao trời,/ ta trộm nghe núi mở lòng với gió:/ Các cụ đồ nho ngày xưa đặt cho núi tên chữ Thạch Bi Sơn. Những bác nông dân quen gọi núi Đá Bia, núi Ông Bia quê mùa chất phác./ Núi yêu những bác nông dân và yêu cả các cụ đồ”. (Cuộc trò chuyện giữa gió và núi). Hay cuộc trò chuyện không diễn ra bình thường trong hiện thực mà đã được siêu hình hóa, tâm linh hóa, thành cuộc đối thoại giữa các linh hồn: “Có một bí mật thời gian gió không còn giấu kín/ đêm đêm âm thầm gió bay về/ quẩn quanh bên mộ những chàng trai cô gái/ hồn phách tinh anh mỉm cười bước ra chuyện trò với gió” (Linh hồn gió). Nhưng cũng có khi là những hình tượng thơ đầy lãng mạn, chất chứa tin yêu vào cuộc sống và con người nhuốm màu văn hóa sử thi từ những đóa sen hồng tinh khiết và cao cả: “Những đoá hoa sen/ kết tinh tình yêu gió và nước/ hồng như má/ hồng như môi/ hồng như trái tim/ người đàn bà tự tin quyến rũ/ vượt lên số phận trớ trêu/ dung dị toả hương/ bền bỉ sinh tồn” (Sen gió sử thi). Bởi nói như Cao Thế Dung: “Thơ là sự hôn phối và cảm thông linh diệu giữa thực và mơ, giữa người với người và vũ trụ cho nên thi ca gắn liền với hiện hữu và thể hiện qua muôn vẻ”[5]. Và đây là một bước tiến cần được ghi nhận vì nó làm nên một giá trị riêng có trong hành trình sáng tạo thơ Phan Hoàng để dần khẳng định vị thế của anh trên thi đàn đương đại Việt Nam.

Có thể nói, so với những tập thơ trước như Tượng tình (1995); Hộp đen báo bão (2002) Chất vấn thói quen (2012) thì Bước gió truyền kỳ là một đỉnh cao trong con đường thơ hiện tại của Phan Hoàng. Nó hoàn toàn vượt lên những tập thơ trước về tư duy sáng tạo thi ca, ở mặt nội dung tư tưởng và phương thức biểu hiện. Đó là một sự chuyển hóa về chất trong tư duy thơ Phan Hoàng, khi thơ anh dần đi vào chiều sâu của thế giới nội cảm để tạo nên những hình tượng và biểu tượng thơ giàu chất suy cảm mang ý niệm triết luận, và gần như không còn dấu tích gì của lối viết và lối tư duy báo chí trong thơ anh như ở các tập thơ trước đó, rõ nhất là tập Chất vấn thói quen (2012). Tôi chia sẻ với anh vì anh đã cố gắng vượt lên chính mình, để làm mới mình, làm khác mình trong hành trình sáng tạo ở một lĩnh vực nghệ thuật nghiệt ngã nhất, trong thế giới văn chương, đó là sáng tạo thi ca. Bởi, nếu thi nhân không làm mới mình, không vượt lên chính mình, đồng nghĩa với tự chọn cho mình một “nấm mồ” trong “nghĩa trang” thơ. Có lẽ vì “ngộ” được qui luật mang tính chân lý vĩnh hằng này nên Phan Hoàng đã làm được điều mà bạn đọc yêu thơ mong muốn và kỳ vọng. Bởi, khi nói về khả năng biến hóa của thi nhân trong hành trình sáng tạo thi ca, nhà thơ Kiên Giang đã chia sẻ: “Thi sĩ là hột cát nhưng hột cát có thể lấp đầy sa mạc. Là con voi nhưng con voi có thể chui qua lỗ kim. Cũng là chứng nhân nhưng phải là chứng nhân thành thật trung hậu, vừa mềm dẻo, vừa trung hậu”[6].

4. Một thành công, không thể không nói đến trong Bước gió truyền kỳ, đó là những sáng tạo nghệ thuật của Phan Hoàng đối với thể loại trường ca. Mặc dù, đây là một thể loại ra đời rất sớm, tưởng chừng không còn phù hợp với cuộc sống hiện đại nhưng nếu người viết biết cách làm mới bằng sáng tạo của riêng mình về ngôn ngữ, thi pháp thì vẫn có một lực hấp dẫn đối với người đọc. Đây là điều nhà thơ Phan Hoàng đã làm được ở trường ca này, như đã trình bày ở trên. Bởi, theo suy niệm của Trần Nhựt Tân: “Thi sĩ là người duy nhất có được ngôn ngữ: hắn đã vượt thoát được ngôn ngữ. Thi sĩ là người duy nhất có thể vượt được hố thẳm, lập ngôn”[7].

Và, ngoài những điều đã chia sẻ, sự sáng tạo của Phan Hoàng trong Bước gió truyền kỳ về phương diện nghệ thuật khi biểu hiện sự “hợp hôn” diệu kỳ giữa cảm thức lịch sử và văn hóa dân tộc, tác giả không dùng một thể thơ duy nhất như lục bát hay song thất lục bát, hoặc thể thơ tự do để chuyển tải nội dung tư tưởng của tác phẩm mà anh đã sử dụng khá linh hoạt, khi đan xen nhiều thể thơ như: thơ lục bát, thơ tự do, thơ 4 chữ, 5 chữ, thậm chí thơ văn xuôi… trong toàn bộ cấu trúc ở các chương/ bài của trường ca. Không những thế, anh cũng có những sáng tạo trong việc thay đổi cấu trúc câu thơ khá đa dạng. Có những câu thơ chỉ có một từ, hoặc hai từ tiếp nối nhau nhằm thể hiện sự hòa quyện giữa cảm thức lịch sử và văn hóa dân tộc nên đã tạo được những hiệu ứng thẫm mỹ khác nhau trong cảm xúc của người đọc.

Với việc sử dụng cấu trúc các thể thơ và câu thơ như vậy, nhà thơ đã có lợi thế trong việc chuyển tải sự “hợp hôn” diệu kỳ giữa cảm thức lịch sử và văn hóa dân tộc trong trường ca mà ngoài những khổ thơ, câu thơ đã trích dẫn ở trên, những câu thơ sau đây cũng là minh chứng cho cảm thức này trong Bước gió truyền kỳ: “Tuổi thơ ta hồn nhiên bao câu hỏi/ hồn nhiên như ngọn gió hồn nhiên/ tung tăng cuốc kêu dế gáy chim ca/ cóc nhái gọi sấm gọi chớp gọi mưa/ gọi cả nỗi buồn giấc mơ lấm lem bùn đất/ giao hưởng đồng quê hoà quyện lời ru ôm lấy xóm làng/ Tuổi thơ ta hồn nhiên bao câu hỏi/ hồn nhiên như ngọn gió hồn nhiên/ trong xanh ánh mắt sương mai/ khóc người lớn cười/ cười người lớn khóc”. (Gió mở đường bay).

5. Đi tìm một tiếng nói riêng, một giọng điệu riêng để tạo một phong cách ở thể loại vốn đã có “tuổi đời” khá cao trong đời sống văn học như thể loại trường ca là điều không dễ. Nhưng với trường ca “Bước gió truyền kỳ”, nhà thơ Phan Hoàng bước đầu đã làm được điều đó một cách khá “ngoạn mục”. Và dẫu rằng, Bước gió truyền kỳ chưa hẳn là một trường ca hoàn mỹ về nội dung tư tưởng và hình thức biểu hiện nhưng những cố gắng của Phan Hoàng trong việc làm mới trường ca bằng những nỗ lực của chính mình, đặc biệt là việc thể hiện một cách tinh tế và sâu sắc sự “hợp hôn” diệu kỳ giữa cảm thức lịch sử và văn hóa dân tộc qua biểu tượng Bước gió truyền kỳ là một thành công đáng ghi nhận của anh trong đời sống thi ca nói chung và thể loại trường ca nói riêng. Điều này được khẳng định và xác tín qua việc trường ca “Bước gió truyền kỳ” đã được vinh danh ở Giải thưởng Văn học nghệ thuật 5 năm lần thứ II (2012 -2016) của Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh và là tập thơ duy nhất vinh dự được nhận giải thưởng danh giá này cho đến nay. Vì vậy, có thể nói, cảm thức về lịch sử và văn hóa dân tộc, cuộc “hợp hôn” kỳ diệu trong trường ca “Bước gió truyền kỳ” của Phan Hoàng là một hệ giá trị cần được trân quí. Bởi, chính từ cảm thức lịch sử và văn hóa này, Bước gió truyền kỳ đã thức nhận trong mỗi người dân Việt Nam tình yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc và lòng trân quí những giá trị lịch sử – văn hóa, đặc biệt là văn hóa cội nguồn của dân tộc: Văn hóa dân gian, mà trong cuộc sống hiện đại hôm nay có người đã lãng quên như lãng quên chính cái gốc “văn hóa làng” của mình. Nhưng họ quên rằng, nếu không có những nền tảng giá trị lịch sử và văn hóa này, chúng ta sẽ không có bệ phóng để tạo nên sức mạnh tinh thần tiến vào kỷ nguyên mới ở thời kỳ hội nhập và phát triển của xu hướng toàn cầu hóa trong một thế giới mà không phải lúc nào nhân loại cũng được an yên.

Tôi muốn khép lại bài viết bằng những câu thơ trong Bước gió truyền kỳ, khái quát về sự kết hợp giữa lịch sử và văn hóa như một cuộc “hợp hôn” diệu kỳ của vận mệnh dân tộc: “Chẳng biết trong thế giới sinh tồn cạm bẫy/ có cuộc vượt thoát đớn đau nào kỳ diệu hơn thế/ trải qua cuộc chiến bùn đen tanh hôi mục rã/ nước mắt âm thầm dâng lên những đóa sen hồng” (Sen gió sử thi)… Và cũng như những “đóa sen hồng”, Dân tộc Việt Nam, Đất nước Việt Nam đã “từ máu lửa/ rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (thơ Nguyễn Đình Thi).

Trần Hoài Anh

[1] Đoàn Thêm, Quan niệm và sáng tác thơ, Nxb. Viện Đại học Huế, 1962, tr.105

[2] Phan Hoàng, Bước gió truyền kỳ, Nxb. Hội Nhà văn, H, 2016, tr.13

[3] Trịnh Công Sơn, Tự Tình Khúc, Nhân bản ấn hành, Sài Gòn, 1972, tr.4

[4] Hoàng Thái Linh, “Truyện là thơ trong tiểu thuyết của Michel Butor”, Bách Khoa số 113/1961, tr.70

[5] Cao Thế Dung, Thi ca và thi nhân, Nxb. Quần Chúng, SG, 1969, tr.7

[6] Kiên Giang, “Số đặc biệt về thơ”, Thời Tập, năm 1972, tr.12.

[7] Trần Nhựt Tân, Dư vang nghệ thuật, NXB. Hạnh, SG, 1971, tr.104,105.