Trần Ngọc Cảnh và những con sóng cuộc đời

Sau Dấu xưaBến mồ côi, Trần Ngọc Cảnh xuất bản tập thơ thứ ba, anh dự định đặt tên cho đứa con tinh thần của mình mình là “Nỗi niềm” hoặc “Tiếng lòng” bởi tập thơ là những tâm tình, trăn trở của anh với quê hương, gia đình và nhân tình thế thái. Anh cũng định chọn tên tập thơ là “Mầm chiều” bởi nó gắn với một niềm vui, niềm hạnh phúc tuổi xế chiều – đứa cháu nội ra đời khi anh bước sang tuổi 74, sau khi gia đình xảy ra nhiều biến cố. Song anh đã quyết định lựa chọn tên tập thơ là Bên lề ngọn sóng, một cái tên nhiều dư ba hơn, gồm 74 bài, tương ứng với số tuổi của tác giả, nó còn là tên một bài thơ trong tập.

Nhà thơ Trần Ngọc Cảnh.

Ký ức một miền quê ven biển

Bên lề ngọn sóng có để tài khá phong phú song tập thơ tập trung vào hai chủ đề chính là quê hương và gia đình. Trong đó, quê hương hiện lên như mạch nguồn nuôi dưỡng cảm hứng thi ca của Trần Ngọc Cảnh, đó là làng Vạn Phần – một làng quê ven biển Diễn Châu. Quê hương trong thơ Trần Ngọc Cảnh là miền ký ức gắn với những kỷ niệm tuổi thơ, một vùng quê lam lũ mà bình yên, ấm áp. Ở đó có gió Lào, có muối trắng, có con đò, cánh buồm, tiếng rao chiều và cả những gì gần gũi đang lùi xa dần theo biến thiên lịch sử.

Bên lề ngọn sóng, gắn với nét đặc trưng của quê hương anh, một làng quê miền biển, nơi có con sông Vạn – hạ lưu của sông Bùng, đổ ra biển. Ở đó có cánh đồng muối với những người dân chân chất, siêng năng, có bà ngoại:

“Quê ngoại tôi ở xóm Đồng Cồn
Từ xưa mặn mòi hạt muối
Con gái da ngăm đen, con trai già trước tuổi
Vì những cơn gió lào nắng chay thịt da”
(Bà ngoại)

Bên lề ngọn sóng, những con người bao đời gắn đời mình với biển:

“Bên lề ngọn sóng
Lão ngư phủ choài chân gồng mình
Vồng ngực căng phồng ưỡn ra phía biển
Gắng sức đẩy con thuyền chềnh ềnh trên cát
Lại thả lưới buông câu lặn hụp cùng biển bạc”
(Bên lề ngọn sóng)

Bài thơ còn là niềm vui, niềm tự hào vì một thương hiệu nổi tiếng bao đời của ông cha – vốn đã mai một, nay đã trở lại dù chưa thật trọn vẹn. Anh không dấu nổi niềm tự hào là quê hương nước mắm Vạn Phần:

“Bên lề ngọn sóng
Mùi hương tỏa khắp vùng
Quyện vào gió bay xa… bay xa …
Tận về phía ông cha
Từ bao kiếp trước
Ây là mùi thơm không lẫn vào đâu được
Hương thơm nước mắm Vạn Phần”
(Bên lề ngọn sóng)

Cảm phục nhà thơ Cao Bá Trang, một người thành đạt xa quê “Đi khắp nơi, biết Tây, Tàu gần xa/ Sống nơi đất Thánh phồn hoa” nhưng Trần Ngọc Cảnh không lấy làm buồn, trái lại anh vui vì được gắn bó với đất quê:

“Biết là lắm nẻo đi về
Chắc chi một chốn bốn quê mà mừng
Vui chìm trong nỗi rưng rưng
Rộng dài thơ để bước lần cõi quê”
(Bước lần cõi quê)

Cảm thức thời gian luôn là điểm chung của những người cao tuổi, đó là quy luật tâm lý con người. Trần Ngọc Cảnh luôn hoài niệm, hoài niệm quê, hoài niệm tuổi thơ, hoài niệm tình thân… Lần nào cũng thấm đẫm nỗi buồn, thế nhưng có lần anh hoài niệm bằng một giọng thật hóm hỉnh:

“Chuyến tốc hành vòng đời thì ngắn ngủi
Mới bẻ gãy sừng trâu đã lốm đốm bạc màu
Chỉ sợ một mai lê la nơi ngõ xóm
Hai đứa lòm còm chống gậy nhìn nhau”.
(Chỉ sợ)

Vì hoài niệm nên Trần Ngọc Cảnh nuối tiếc quá khứ, những cái tên cũ, những gương mặt tự bao giờ vẫn hiển hiện trong thơ anh một cách tự nhiên như: Thành Trài, Cửa Vạn, Long Ân Phượng Lịch, Nho Lâm, Vạn Phần, Thái Xá, Đồng Cồn, Đồng Gành, Hói Trang… rồi cố Chắt, ông Sáu, bà Liên…

Trong dự cảm, anh lo đến một ngày nào đó cháu còn không còn nhớ dấu xưa, tích cũ của quê hương:

“Rồi một mai tên xóm làng cũng mất
Chỉ còn lại bóng hình quê hương trong ký ức
Đêm mơ màng gọi: Diễn Vạn – Diễn Châu ơi!.
Lớp cháu con vẫn nở nụ cười tươi
Dẫu tên đất, tên làng mới mẻ”
(Còn mãi trong ta)

Ấy vậy mà… Những gì anh lo lắng đã diễn ra, có lẽ sớm hơn anh dự kiến. Nay đã không còn nữa biết bao điều thân quen mà anh những tưởng chẳng bao giờ mai một được. Anh chua chát nhận ra rằng, dẫu có là đá cũng không thể nào chống chọi với thời gian, với những biến thiên lịch sử:

“Con voi đá âm thầm phủ phục
Trước cửa đền đất đá chông chênh
Không còn bóng những cánh buồm xuôi ngược trên sông
Mùi nước mắm Vạn Phần cũng bay xa – xa mãi…
Dưới bến sông mấy con còng ngơ ngác
Chạnh lòng ai rao muối lúc hoàng hôn”
(Cửa biển quê)

Thơ Trần Ngọc Cảnh có lúc như một thước phim ngắn, có bối cảnh không gian – thời gian, có nhân vật, có những góc máy thật trữ tình, có sự tương phản sáng tối… Thước phim ấy kể về một câu chuyện xưa mà nhân vật trữ tình cũng là người dẫn chuyện:

“Về lại giếng Chùa chẳng thấy chùa đâu
Tôi cúi rạp tìm bóng mình, trong thẳm sâu đáy nước
Hoa gạo bồng bềnh soi vào ký ức
Đá mốc màu rêu phong.
Đâu rồi những đêm sáng trăng
Em rủ anh đi giếng Chùa quảy nước
Đài mo cau lâu ngày nứt toạc
Hai đứa múc lên nụ cười
Khúc khích trăng thanh”
(Giếng Chùa)

Trần Ngọc Cảnh là người của cõi xưa nên anh không hợp lắm với ồn ào phố thị. Cả lúc vui chơi anh cũng không quên ghé về quá khứ:

“Trong mờ ảo giăng giăng khắp lối
Tiếng cười điên loạn ngất ngây
Tôi bỗng nghe từ xa mờ ngục tối
Tiếng xích xiềng rên xiết vọng về đây”
(Miền gió lạ)

Thế rồi, như quên cuộc vui, anh lại đắm chìm vào dòng suy tư:

“Sông Sê San đang vào mùa nước kiệt
Nghẹn dòng lổng chổng những gốc cây
Dấu nanh vuốt của những cơn quỷ lũ
Mới tràn qua tàn phá đất này
Và run rẩy có bao người nghèo khó
Vật vờ lập cập ngửa bàn tay”.
(Miền gió lạ)

Thực tại trong thơ Trần Ngọc Cảnh cũng đượm buồn. Có lúc là nỗi buồn vì quê hương bị thiên tai, bão lũ:

“Dải đất hẹp oằn lưng chịu trận
Nắng cháy khét da, mưa tuôn núi sập
Bao kiếp người bỗng chốc bị vùi sâu
Nước xiết cuốn trôi những người mẹ mang bầu
Bao xóm làng chơi vơi giữa mêng mông biển nước
Tiếng lũ gầm, tiêng kêu van thảm thiết
Dành dụm cả đời, cơm áo lại trắng tay
Có gian khó nào hơn mảnh đất nơi đây
Cây nghẹn rễ – đất cằn sỏi đá”
(Miền Trung ơi)

Rồi nắng hạn, khiến lòng hồ khô cạn, anh cảm thương một cánh chim nhỏ nhoi:

“Nền trời xanh – cánh cò trắng xóa
Chấp chới hoài biết soi bóng vào đâu?
Đất quê nghèo, đồng cạn đồng sâu
Cây lúa trổ nghẹn đòng xơ xác”
(Đi dưới lòng hồ)

Vâng, nhắc đến làn Vạn Phần quê anh là nhắc đến nghề làm muối, những cánh đồng muối từ hơn trăm năm đến nay vẫn còn đó, nuôi dưỡng bao người con làng quê nghèo ven biển này. Thương những con người một đời lầm lũi, một đời oằn mình với hạt muối. Khi làm muối đã vất vả, cả khi bán muối cũng gian nan:

“Biển đi xa – biển vẫn còn
Cho đời hạt muối sắt son mặn mà
Thức sau lưng vọng tiếng gà
Cõng xe, cõng muối, em qua khắp vùng
Ráng chiều cháy đỏ hoàng hôn
Ai mua muối… vẫn dập dồn
tiếng rao…
(Tiếng rao 2)

Gia đình, bến đỗ bình an

Trong hành trình thi ca của Trần Ngọc Cảnh, gia đình hiện lên như một bến đỗ, nơi giúp anh neo mình sau những con sóng cuộc đời. Bên lề ngọn sóng không né tránh những biến cố, những đau thương, mất mát. Ngược lại, Trần Ngọc Cảnh đối diện với những chấn động ấy bằng sự điềm tình của một người từng trải. Song cái vẻ bề ngoài từng trải của người lính từng kinh qua chiến tranh ấy không che giấu được những dòng nước mắt vẫn âm thầm chảy.

Tập thơ “Bên lề ngọn sóng”.

Trần Ngọc Cảnh dành những tình cảm thân thương, ấm áp cho bà, cho cha mẹ, vợ con và các cháu. Thế nhưng nói đến gia đình, Trần Ngọc Cảnh luôn bùi ngùi. Có lúc là nỗi nhớ bà ngoại, nhớ những kỷ niệm cùng bà:

“Cháu thương bà mỗi bận sang sông
Con đò nhỏ chòng chành, nước xiết
Quà cho cháu không phải là bánh đa bánh nếp
Mà chỉ là những con còng, con cáy buộc chạc giang”
(Bà ngoại)

Có lúc anh thấy hình bóng cha khi nhìn cây đào tiên cha trồng: “Cây đào tiên còn đó/ Mà cha đã đi rồi/ Cháu con ăn quả ngọt/ Nhớ cha lắm cha ơi!” (Cây đào tiên). Hay mượn ẩn dụ về mẹ gà ấp trứng, anh thấy trong đó hình bóng mẹ mình và bao bà mẹ: “Con nằm trong trứng có nghe/ Mẹ nằm chịu khát dạ nghe bồi hồi” (Lòng mẹ)

Nhưng xúc động nhất vẫn là những bài thơ của người ông dành cho đứa cháu nội không may bị tai nạn “Chỉ số sinh tồn chỉ còn 2% sự sống” khiến “ông như cây khô câm lặng”. Rồi như có phép màu, cháu qua cơn nguy kịch, “ông khóc như đứa trẻ lên ba”. Nhưng rồi… từ một bé trai thông minh, khoẻ mạnh, cháu phải ngồi xe lăn đi học. Cháu học trong lớp, ông đợi bên ngoài, bao cảm xúc trào dâng:

“Đời lắm phen “dâu bể”
Có ai lường được đâu?
Ông cháu cố dìu nhau
Vượt qua cơn nguy khó
Mai sau cháu hãy nhớ
Buổi học trong – học ngoài
Mà phấn đấu nên người…
Cháu ơi! gắng lên nhé”.
(Gắng lên nhé)

Thương đứa cháu mới mấy tháng tuổi đã phải xa mẹ vì mẹ bận mưu sinh xứ người, bé phải nghe tiếng ru qua loa đài, uống sữa bột, Trần Ngọc Cảnh ngậm ngùi:

“Vẫn là tiếng mẹ đấy thôi
Mà sao lạnh một khoảnh trời ấu thơ
Phải là mẹ thức trong mơ
Hay là mẹ vẫn bơ vơ xứ người
Cũng là sữa cả đấy thôi
Mà sao nhạt cả một thời ấu thơ”
(Khoảng trống)

Cả khi đón nhận một niềm vui lớn lao – cháu nội ra đời, thì trong mắt anh vẫn có gì đó ngẹn ngào, rưng rưng:

“Hoàng hôn buông xõa cuối trời
Bỗng đâu đón được niềm vui vỡ òa…
Mầm chiều ban tặng cho ta
Một mai xanh lá thơm hoa đầy vườn
Ngẫm đời – trong “cõi vô thường”
Nhận phần quả ngọt, phải tường đắng cay
(Mầm chiều)

Vợ về miền mây trắng để lại trong anh một miền trống vắng vô biên: “Tàn canh lạnh, tiếng thạch sùng chặc lưỡi/ Khói hương bay, tro bụi rụng rời” (Rỗng đêm). Cái trống rỗng của không gian phản chiếu cái hoang lạnh lòng người: “Đêm rỗng đêm, lẻ bóng hình thao thức/ Cánh cửa khép hờ, lọt vệt sao rơi” (Rỗng đêm).

Anh thương vợ bơ vơ nơi đất lạnh:

“Cỏ xơ xác cỏ, đất dày đè lên
Bốn bề đồng bãi trống trênh
Tiếng ve sầu rắc càng thêm nao lòng
Nén nhang gầy cháy chưa xong
Hoàng hôn đã nhuộm tím bầm trời xa”.
(Rỗng đêm)

Bên cạnh chủ đề quê hương, gia đình, Trần Ngọc Cảnh còn gửi gắm tâm tư, nỗi lòng về những vấn đề nhân sinh khác qua những bài như: Bữa cơm chay, Bước lần cõi quê, Sau cơn bão, Cũng bà thao thức, Kiếp hoa, Nuôi chí bền, Nợ, Nỗi niềm, Thôi đành, Tự vấn, Chú tốt sang sông… Trong sâu lắng, anh gửi gắm lòng mình qua những câu thơ đậm triết lý nhân sinh, hoặc những chiêm nghiệm về đời, về người về cỏ cây, vạn vật.

Tập thơ Bên lề ngọn sóng – như anh nói, là tập thơ cuối, là những ưu tư, trăn trở của một người đã trải qua những đợt triều cường của cuộc đời. Có lẽ anh cảm thấy mệt mỏi nên nói vậy, bởi anh chỉ mong nép mình “bên lề ngọn sóng” để được bình an. Nhưng mong rằng Trần Ngọc Cảnh sẽ vượt qua cả sóng đời và sóng lòng để có nhiều tác phẩm mới.

Trần Hữu Vinh