Sau những trang viết của nhà văn Trần Văn Tuấn là những tháng ngày khốc liệt vào sinh ra tử từ chống Mỹ đến diệt Pol-Pot, có lần bị thương nặng, bị đẩy ra nhà xác do tưởng nhầm đã chết. Sau những trang viết của đạo diễn, nhà văn Xuân Phượng là những tháng ngày người phụ nữ mạnh mẽ ấy “Gánh gánh, gồng gồng” đi từ trong bom đạn đến hòa bình, đưa tranh Việt, văn hóa Việt ra nước ngoài với tinh thần “Khắc đi… Khắc đến…”. Sau những “Bài ca không quên”, cất lên lời “Khát vọng”, với lời ca “Mùa xuân”… của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn là những nỗi đau, sự hy sinh lớn – một trong những nỗi đau ấy là vợ ông, người mẹ ẵm ghì con trong lồng ngực cho bú để ngăn tiếng khóc của con trẻ, tránh bị địch phát hiện cả đoàn văn công mà vô tình khiến đứa bé ra đi…
Nỗi đau chiến tranh, lý tưởng, khát vọng hòa bình, được viết thành văn, thành nhạc. Họ không chỉ chia sẻ nỗi đau hay khát vọng riêng mình, đó là nỗi đau và khát vọng của cả dân tộc trong những ngày tháng bi hùng. 50 năm sau ngày Thống nhất đất nước (30/04/1975 – 30/04/2025), nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn (nguyên Phó tổng Thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Giải thưởng Nhà nước về VHNT-2001), nhà văn Trần Văn Tuấn (nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về VHNT-2012), đạo diễn, nhà văn Xuân Phượng chia sẻ về những trải nghiệm và câu chuyện văn chương.
Sống rồi mới viết
PV: Trải nghiệm sống rồi mới viết, đặc biệt là những trải nghiệm từ chiến tranh có ý nghĩa thế nào đối với người sáng tác?
Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn: Tôi cho rằng trong lĩnh vực sáng tác nghệ thuật, ngoài tài năng bẩm sinh, những trải nghiệm cuộc sống chính là điều kiện quan trọng. Trải nghiệm chính là yếu tố dẫn giúp người viết thu nhận những chất liệu thực tế để làm nên thành công của tác phẩm. Có bột mới gột nên hồ là vậy. Đặc trưng của sáng tạo đòi hỏi bên cạnh năng khiếu, phải có quá trình đào tạo, đặc biệt cần có những trải nghiệm thì nghệ sĩ mới suy nghĩ được triết lý cuộc sống, tác phẩm có chiều sâu hay không chính là nhờ đó.
Trong điều kiện chiến tranh khắc nghiệt, những người trong cuộc chúng tôi ghi lại bằng trí nhớ là chính. Bởi hầu hết mọi lúc, nọi nơi đâu có sẵn giấy, bút, nhạc cụ để mình sáng tác. Dù rằng, việc ghi nhớ những giai điệu bằng trí nhớ khá khó khăn, vất vả đối với nhạc sĩ, đặc biệt là những nhạc sĩ trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm, nhưng ở hoàn cảnh nào, buộc người nghệ sĩ phải khắc phục theo hoàn cảnh đó. Những giai điệu mới chớm nở từ trong bom đạn, từ giữa những lằn ranh sự sống – cái chết phải được giữ trọn vẹn những xúc cảm và lưu trữ trong tim óc, phải được nuôi nấng kĩ lưỡng để làm chất liệu quý cho tác phẩm. Viết kĩ mới có được những tác phẩm có sức sống, được lưu giữ trong lòng người. Nếu viết nhanh, viết ào ào cho xong thì tôi tin, tác phẩm vẫn ra đời nhưng để tác phẩm tồn tại lâu dài là một điều rất khó.
Vào năm 1968, tôi cùng đơn vị văn công đi phục vụ chiến trường. Thời điểm bấy giờ, chúng tôi về đến An Lạc, bám trụ ngay cạnh bên Sài Gòn, ở đó một thời gian lâu dài với du kích địa phương. Ngay vùng chúng tôi ở, có những hầm bí mật mà ban đầu mới đến không thể nhận ra. Đêm đó súng nổ ầm ầm, xa xa còn có tiếng xe hơi chạy trên đường vọng lại; đến ngày hôm sau tiếng súng ít dần, ngày thứ ba tàu chiến vào tận gần bờ truy tìm dấu vết Việt cộng. Chúng tôi nằm trên bờ, núp mình trong những bụi tràm con chờ tàu giặc rút. Đó có thể là gọi là những trải nghiệm đứng bên bờ vực sống chết. Chính những ngày sống trong lòng cuộc chiến đã cho chúng tôi những cảm xúc từ ngỡ ngàng đến yêu thương, khâm phục. Phải bằng những cảm xúc có thật trong chính cuộc sống khốc liệt như thế, nhạc sĩ mới viết nên những ca khúc xúc động mạnh mẽ trong lòng công chúng và tồn tại trong lòng công chúng được lâu dài.
Đạo diễn, nhà văn Xuân Phượng: Tôi được trực tiếp tham gia vào việc quay phim các chiến trường khốc liệt, đã hai lần bị bom vùi, một lần bị thương ở mặt… nên những kinh nghiệm sống khốc liệt ấy đã cho tôi những cảm giác không thể nào quên khi nghĩ lại những sự kiện đã trải qua. Sau thời gian bị thương, sau cuộc sống trong hòa bình những kinh nghiệm nóng bỏng ấy đã trở về trong tâm trí của tôi. Tôi đã viết về những kinh nghiệm chết chóc đã qua và cùng với thời gian đã có thể điềm tĩnh nhớ lại từng chi tiết những hoàn cảnh trên. Có lẽ kinh nghiệm sống thực tế như vậy đã làm cho những hồi tưởng của tôi thêm sự chân thật làm xúc động bạn đọc.
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Những người đi qua chiến tranh là đã đi qua một cuộc trải nghiệm đặc biệt. Những trải nghiệm chiến trường không chỉ là vấn đề sinh tử mà còn có vấn đề sự cao cả – sự hèn nhát, với những trải nghiệm hết sức khốc liệt không chỉ về mặt thể chất, còn khốc liệt cả về mặt tinh thần. Có những người giữ được lí tưởng cao cả nhưng có những người sa sút tinh thần, đào ngũ, chiêu hàng… vì sức ép của chuyện sống chết, điều này cũng dễ hiểu.
Và với những trải nghiệm đặc biệt như thế, khi nó đã gắn vào máu thịt thì khi bước ra khỏi cuộc chiến tranh, người ta sẽ có một nhu cầu tự thân muốn nói lại những gì mình đã trải nghiệm, đã đi qua. Đây là chuyện bình thường. Hầu hết chúng ta khi trải qua một sự kiện đặc biệt nào đó đều sẽ muốn tìm bạn bè để chia sẻ, tâm sự. Vì thế, khởi đầu sẽ là nhu cầu tự thân muốn tâm sự về những điều ấn tượng mà mình đã trải qua. Cho đến bây giờ thì những tác phẩm tạo thành dấu ấn của tôi vẫn được viết ra từ những trải nghiệm. Bởi những trải nghiệm ấn tượng chính là phần hồn, phần cốt lõi của cuộc sống. Viết, cho đến cùng là suy nghĩ, sàng lọc lại ký ức để có những ký ức tốt.
PV: Việc xem trọng những trải nghiệm thực tế với những người thật việc thật liệu có làm mất đi chất sáng tạo đặc trưng của nghệ sĩ?

Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn: Tôi cho rằng văn học nghệ thuật cũng cần có người thật việc thật nhưng khác với người thật việc thật trong báo chí, văn học nghệ thuật đòi hỏi sự khái quát cao. Có như thế thì những bài hát khi viết lên, công chúng mới thấy có mình trong đó, đồng cảm và xúc động. Ví dụ như khi tôi viết Qua sông, tác phẩm được viết khi đi chúng tôi từ Xóm Giữa vào Xóm Rẫy [Xóm Giữa Tân Biên (Tây Ninh) là vùng dân theo Việt cộng, ở đó còn có cả anh bộ đội sau về cưới vợ] tôi chứng kiến những người dân Xóm Giữa đi ra nhận lương thực. Nhìn những con sóng xô vào mạn thuyền, cảm nhận những ngọn gió xa xa thổi tới mát lành, cảm xúc dâng lên mạnh mẽ. Từ một hoàn cảnh cụ thể ấy, tôi đã mường tượng, hình dung ra hình ảnh các chị, các mẹ nhộn nhịp chở bộ đội qua, không ngại hiểm nguy. Thực ra những hình dung đó là sáng tạo trong một hoàn cảnh cụ thể nhưng hoàn toàn không xa rời thực tế. Thực tế ở khu vực đó hay nhiều vùng quê khác, các du kích địa phương, các chị em vẫn không ngại gian nguy chở bộ đội giải phóng qua sông như thế. Thực tế là nền, là gốc của sáng tạo.
Nhiều năm sau ngày hòa bình, những câu chuyện, những cảm xúc có được từ chiến tranh vẫn giúp tôi nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo. Những tác phẩm tôi viết sau chiến tranh như Đất nước, Bài ca không quên, Khát vọng, Mùa xuân,… vẫn thấy trong đó những xúc cảm có từ những trải nghiệm, thấm thía những hy sinh, mất mát, đớn đau, hiểu được những vĩ đại của những người mẹ, những người lính vệ quốc… Và tôi nhận ra rằng, khi tuổi còn trẻ, người nghệ sĩ cần lao vào cuộc sống, thấy được những điều trong đời sống này để có nhiều trải nghiệm, có nhiều cảm xúc, đó sẽ là vốn quý nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo sau này.
Nhiều bạn trẻ hiện nay viết nhanh. Và khi viết nhanh thì tác phẩm của họ rất ít khi tạo nên dấu ấn, thậm chí cảm giác chỉ một thời gian ngắn tác phẩm cũng bay mất tiêu. Nhạc sĩ lớn tuổi như chúng tôi hiểu sự chọn lọc khắc nghiệt của thời gian, phải tự nhủ mình khi viết ra điều gì cũng phải hiểu, phải tìm từ gốc rễ, phải nghiêm túc đầu tư công sức, kĩ càng thì mới có tác phẩm hay được.
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Chúng ta không thể mãi viết về những chuyện trải nghiệm mắt thấy tai nghe, chuyện giết chóc, hay những câu chuyện mang tính bản năng mà văn chương cần được nâng tầm tư tưởng, đòi hỏi một tầm khái quát. Viết văn mà không có tầm khái quát, không có tư tưởng thì chỉ để đọc cho vui rồi trôi đi nhạt nhẽo, nhanh chóng chứ không thể có tác phẩm lớn. Sở dĩ văn chương được đánh giá cao cũng vì được coi đó là hoạt động tư tưởng. Dù chúng ta có nói hay không nói chuyện này thì bản chất vẫn là như thế.
Bên cạnh đó, cần hiểu rằng từ việc trải nghiệm, ghi lại để thành một tác phẩm có dấu ấn, một bản sắc riêng của nhà văn, đó lại là một quá trình. Vì vậy mà trong hàng hàng lớp lớp những người lính ra trận cầm bút không phải ai cũng trở thành nhà văn, nhà thơ và tạo nên dấu ấn sáng tạo. Chỉ có rất ít người để lại dấu ấn. Có những người chỉ cần viết ra trải nghiệm cũng đã là thành công rồi, nhưng để đi đường dài với văn chương, bên cạnh trải nghiệm đòi hỏi phải có vốn ngôn ngữ, có kinh nghiệm, hiểu biết của mình về các thể loại văn học… mới tạo được dấu ấn cá nhân.
Hòa giải để sống thích nghi với thời bình
PV: Sau 50 năm thống nhất, câu chuyện hòa giải ít nhiều vẫn còn nhiều tranh cãi, định kiến. Khi viết tác phẩm, nhà văn/ nhạc sĩ có chú trọng đến điều này không?

Nhà văn Trần Văn Tuấn: Nhu cầu hòa giải là nhu cầu cần phải có khi thích nghi với cuộc sống thời bình. Từ ngày xưa chúng ta đã thấy một trong những đặc tính của người Việt Nam là bao dung, nhân hậu. Người Việt Nam xưa nay không muốn gây thù chuốc oán với ai, kể cả với những đối tượng đã từng gây hấn với mình, vẫn sẵn sàng bắt tay hòa giải, chung sống. Nhu cầu chung sống hòa bình với cả những kẻ địch của mình là một nhu cầu có thật trong truyền thống người Việt Nam. Và trong đời sống hòa bình, cần phải có điều ấy thì mới có thể thích nghi. Hòa bình lâu rồi mà day dứt mãi về những hận thù, đau khổ thì không thể tồn tại được. Từ cuộc sống thời chiến đến đời sống hòa bình là một giai đoạn đặc biệt, có người thích nghi được, có người không. Có những người trong bộ nhớ không thể quên được những ám ảnh, những cố chấp, hận thù nên mới sinh ra những loại bệnh tâm thần hậu chiến.
Nói về dòng văn học chiến tranh cách mạng của những người từng đi qua cuộc chiến, con người ta khi viết một cái gì đó về miền ký ức đều muốn giải tỏa những điều gì đó còn vương vấn lại cho mình. Vấn đề Chiến tranh và hòa bình là vấn đề muôn thuở của nhân loại. Văn học thể hiện đời sống tinh thần con người. Nhìn chung, tất cả những sáng tác của văn học Việt Nam trong giai đoạn từ sau 1986 (từ sau đổi mới) đều có một xu thế chung hướng tới sự hòa giải. Nhìn kẻ thù bằng cái nhìn khách quan hơn, với những nhận thức mới hơn. Bởi như từ ngày xưa, mấy trăm năm trước Nguyễn Du đã nói một câu rất hay mà những người viết văn nên thuộc lòng câu thơ đấy: “Xem trong lẽ phải có người có ta”. Mình phải biết, phải hiểu được những khó khăn của kẻ địch và kể cả kẻ thù cũng có những điều cần phải tôn trọng họ. Nhờ đổi mới, người ta mới thoát khỏi những rào cản phải viết thế này, phải viết thế kia, dám viết mới,… Vì thế người ta có quyền tự do nhiều hơn trên trang viết, có thể tự tin được nhiều hơn trong mọi vấn đề về nhận thức. Từ đó cách tiếp cận đề tài chiến tranh cách mạng đa dạng hơn: Viết về chiến tranh để phản đối chiến tranh, viết về chiến tranh để bảo vệ hòa bình… Đấy là một trong những tư tưởng xuyên suốt trong văn học nghệ thuật.
Đạo diễn, nhà văn Xuân Phượng: Vấn đề hòa giải giữa hai miền Nam Bắc là một vấn đề cực kỳ tế nhị. Mẹ tôi đã từng hỏi tôi: “Con ơi. Con theo họ làm chi mà bây giờ mẹ và các em con không còn quê hương?” Câu hỏi thốt từ đáy lòng của một bà cụ già tuổi 80 khi gặp lại con mình sau gần nửa thế kỷ là một nỗi đau mà rất cần rất nhiều thời gian, rất nhiều thương yêu, rất nhiều cảm thông. Tôi đã đau xót hiểu như vậy nên đã hết sức cố gắng kể lại đời mình trong chiến tranh để mẹ tôi và gia đình ở trong Nam hiểu rằng nỗi đau khổ này là một bất hạnh chung. Cách duy nhất để chúng ta có thể ôm nhau vào lòng, gắng quên mọi đau đớn đã qua là hiểu được thấu đáo nỗi đau khổ của mỗi con người trong chiến tranh. Khi viết về đời mình hình ảnh Bà Ngoại tôi, các dì dượng, các em họ của tôi cũng như hình ảnh ba má tôi luôn ẩn hiện trong đầu óc tôi. Tôi thương yêu họ tận đáy lòng nên không hề có bất cứ định kiến nào trong chuyện hòa giải. Vườn quê ngoại tôi với hoa quả bốn mùa thơm ngát, tấm lòng của bà ngoại tôi với các dì tôi là những kỷ niệm tôi mang theo từ tuổi 16 khi tôi rời gia đình theo kháng chiến và mãi mãi là những kỷ niệm giúp tôi vững vàng tin vào cuộc sống đầy gian truân của mình.
Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn: Nói về hòa giải dân tộc điều này thì từ rất lâu đồng chí Võ Văn Kiệt đã nói: “Có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”. Hòa giải không phải là khẩu hiệu mà người nghệ sĩ cần phải lao vào cuộc sống để thấu hiểu, để biết thương dân tộc mình bước ra từ chiến tranh, từ trong bao gian nan, đói khổ, để thấy trách nhiệm của văn nghệ sĩ, thì sẽ thấy hết giá trị của việc này.
Tôi viết ca khúc “Khát vọng” (phỏng thơ Đặng Viết Lợi) trong hoàn cảnh đất nước sau ngày thống nhất, trước đổi mới (1985). Vào thời điểm đó tôi đi học trường Đảng cao cấp ở Hà Nội, chúng tôi phải mua gạo tấm vụn, lượm từng hạt tấm, hạt sạn có rất nhiều trong gạo ra để ăn. Đó là một giai đoạn vô cùng khó khăn chung của dân tộc. Chiến tranh đổ bao nhiêu máu xương, hòa bình vẫn phải đối mặt với bao nhiêu khổ cực nhưng lòng người khi đấy thực sự luôn khao khát một cuộc sống tươi đẹp, mơ ước điều gì đó sáng rỡ hơn. Tất cả những suy nghĩ, những trải nghiệm chất chứa ấy đã bật lên thành giai điệu ca khúc Khát vọng khi tôi gặp sự đồng cảm với ý thơ của nhà thơ Đặng Viết Lợi. Hướng đến những cái đẹp, những điều nhân văn trong đời sống này cũng chính là sức mạnh ta khép lại đau thương, vượt lên những mất mát, gian truân, đúng với tinh thần hòa giải.
PV: Chiến tranh càng lùi xa, những người viết đã sống cùng cuộc chiến rồi mới viết ngày càng ít. Theo nhà văn/ nhạc sĩ, sau này, những nhà văn làm thế nào để viết hay về đề tài chiến tranh cách mạng khi thiếu trải nghiệm?

Đạo diễn, nhà văn Xuân Phượng: Lịch sử văn học thế giới cho biết không phải nhiều người viết đã tham gia cuộc chiến sẽ viết hay hơn những người trẻ chưa biết chiến tranh. Quan trọng cực kỳ là sự tư duy nghiêm túc, ý thức trách nhiệm của người cầm bút và tâm hồn rung động khi nghĩ đến đề tài mà mình đang theo đuổi. Tôi tin chắc chắn rằng sau này sẽ có những tác phẩm về chiến tranh Việt Nam làm rung động hàng triệu triệu người trên thế giới vì những nhà văn ấy có thể thiếu trải nghiệm thực tế về chiến tranh nhưng lại tài năng nghiền ngẫm đề tài này và đã hạ bút viết với một trái tim đầy rung động và đầy yêu thương. Khi người ta yêu nồng cháy thì điều thần kỳ nhất định sẽ xuất hiện.
Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn: Muốn viết hay về đề tài chiến tranh cách mạng trước hết các bạn trẻ phải thấy cuộc chiến tranh vĩ đại hay không, thấy được những ý nghĩa cao cả trong công cuộc hi sinh vì lý tưởng, vì hòa bình hay không? Trong tư duy sáng tạo về đề tài cách mạng, phải thấy được dân tộc mình đi lên từ máu lửa như thế nào, phải thương và thực sự biết ơn bao nhiêu máu xương đã đổ xuống. Hiểu được cái nền ấy thì mới biết, mới viết được. Yêu nước không chỉ là đi đánh giặc mà có nhiều cách khác nhau. Để viết ra tác phẩm về quê hương, đất nước, trước hết phải vì quê hương, đất nước. Tôi thấy rằng những người trẻ hiện nay có nhiều bài hát được đánh giá là hay nhưng thực sự chưa lột tả ra được chất Việt. Việc trải nghiệm cuộc sống là cực kỳ quan trọng đối với những người làm văn hóa nghệ thuật.
Nhà văn Trần Văn Tuấn: Cần phải nói lại một câu nói rất hay được nhiều người truyền miệng: Không cần nhảy vào chảo mỡ để biết được nó nóng như thế nào. Cơ thể con người ta có một bộ não siêu việt mà gốc gác của bộ não chính là trí tưởng tượng. Con người ta hoàn toàn có thể trải nghiệm bằng tưởng tượng.
Có thể trải nghiệm bằng trí tưởng tượng, qua những câu chuyện của thế hệ đi trước, của gia đình, xã hội, có thể tìm hiểu qua sách vở… bằng sự thấu hiểu quá khứ dân tộc chứ không cần thiết phải trải qua chiến tranh, sống trong chiến tranh. Vẫn có những người viết về chiến tranh rất hay dù không cầm súng ngày nào, là vì họ viết bằng trí tưởng tượng, bằng tâm tư tình cảm của mình. Tuy vậy cần phải nhấn mạnh rằng, có thể không cần sống trong chiến tranh nhưng cần có một sự gắn bó. Người viết phải gắn bó với lịch sử, có tình cảm và có sự thấu hiểu. Như khi tôi viết tiểu thuyết Trương Chi (tác phẩm mới nhất của nhà văn Trần Văn Tuấn – PV) tôi đâu cần phải trải qua những chuyện xa xưa, lên rừng xuống biển đâu, nhờ trí tưởng tượng và tình cảm của mình với quá khứ dân tộc giúp tôi viết về những ngày xa xưa. Ngày xưa nhà văn Lev Tonstoy viết Chiến tranh và hòa bình, ông đâu cần trải qua cuộc chiến tranh Pháp – Nga mà bằng những tư liệu, những câu chuyện từ gia tộc của ông. Vì thế dù độ lùi càng xa thì thế hệ sau vẫn có cơ hội để viết hay hơn, có đẳng cấp hơn về đề tài chiến tranh cách mạng. Điều này không chỉ riêng về mảng đề tài chiến tranh cách mạng, muốn viết hay, trước hết vẫn là đòi hỏi sự thân thiết, gắn bó, sau đó là phát huy trí tưởng tượng, phải có vốn tri thức đòi hỏi thông qua việc đọc nhiều tìm hiểu nhiều thì sẽ ra được trải nghiệm từ đó.
PV: Cảm ơn các nhà văn, nhạc sĩ đã cùng chia sẻ!
Võ Thu Hương (thực hiện)















