- Nghệ An là tỉnh rộng lớn có 5 dân tộc thiểu số gồm Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu sinh sống từ lâu đời với kho tàng dân ca phong phú. Nếu được hỏi về một thể loại dân ca bí ẩn nhất ở Nghệ An, bạn sẽ chọn điệu hát nào?
Một câu hỏi không dễ trả lời. Hẳn là thế. Nhưng cũng không phải quá khó, miễn là quan tâm một chút tới các điệu hát dân ca như ví, giặm của người Nghệ Tĩnh. Chèo và thậm chí là hát tuồng cũng có ở xứ Nghệ. Mảng âm nhạc dân gian của các cộng đồng thiểu số thì các làn điệu dân ca của người Thái được biết đến nhiều hơn. Xuối, nhuôn của người Thái phía bắc Nghệ An. Ngoài ra còn có lăm, khắp. Thể hát sươn khá bí ẩn và hầu như chưa được truyền thông nhắc đến.
Trong một thời gian khá dài, những làn điệu dân ca Thái chỉ xuất hiện trong sinh hoạt cộng đồng. Nhiều cuộc sinh hoạt được thu băng catsette nhân bản và lưu truyền trong các bản làng. Từ đó xuất hiện những danh ca được các làng bản biết đến. Nay thì internet trở nên phổ biến, nhiều người biết đến dân ca Thái hơn. Người nghe có thể dễ dàng tìm thấy những ca khúc của người Thái ở Nghệ An thậm chí có vũ đạo trên các trang mạng.
Cự xia của người Mông cũng khá phổ biến. Làn điệu này vẫn hiện diện rộng khắp các cộng đồng người Mông trong và ngoài nước. Nhiều người trẻ ở huyện Kỳ Sơn vẫn nghe và hát cự xia. Nhiều người dùng làm nhạc chờ cuộc gọi đến trên điện thoại.
Người Khơ Mú là một trong những cộng đồng xa xưa nhất cư trú ở miền núi Nghệ An. Họ ở nhà sàn, phần nhiều vẫn trồng lúa rẫy. Không còn du cư nhưng vẫn du canh. Tiếng Khơ Mú dù có chịu ảnh hưởng từ tiếng Thái, tiếng Kinh về mặt từ vựng nhưng vẫn còn những phụ âm đôi, phụ âm ba. Đây là điều đặc biệt mà các cộng đồng thiểu số khác như Thổ, Mường không còn nhiều. Và chính tiếng nói đã góp phần tạo nên điều đặc biệt trong âm nhạc của người Khơ Mú.
Tôi đã tự nhủ rằng tơm của người Khơ Mú vẫn bí ẩn nhất trong âm nhạc dân gian ở Nghệ An. Dẫu rằng thứ dân ca này đã vang lên đâu đó trên sân khấu nơi hội diễn cấp huyện cấp tỉnh. Tôi vẫn chưa thử làm một cuộc kiếm tìm về hát tơm trên mạng nhưng tin rằng sẽ không khó tìm bởi hầu như chẳng còn thứ gì thuộc thế giới tinh thần ở xứ mình mà người ta không đưa lên mạng. Tôi từng thấy những tiết mục Xăng Khan, hát xuối, nhuôn của người Thái trên sân khấu. Được làm lại và vì một tiêu chí cho phù hợp hơn với xu thế âm nhạc hiện đại, nhiều thứ đã bị cải biên. Khi lên sân khấu, cái không khí của làng bản, nhà sàn và cả sự không chuyên nghiệp nhưng rất sống động của những buổi hát dân ca cũng bị mất đi. Đến nỗi có khi chính người Thái cũng lạ lẫm với những điệu hát vốn dĩ đã quen thuộc khi diễn trên sân khấu.
Nhưng tơm của người Khơ Mú vẫn chưa bị sân khấu hóa nhiều. Người ta vẫn tìm thấy đâu đó những cuộc hội diễn văn nghệ.
Cũng có những bài dân ca đã trở nên phổ biến, thậm chí được đưa vào sách giáo khoa môn âm nhạc, như bải Mưa rơi. Đó là những tác phẩm được sưu tầm từ lâu và được ký âm lại. Người ta khó có thể cảm nhận được không khí nguyên sơ của âm nhạc cộng đồng người Khơ Mú qua những bản xướng âm mới và được dàn dựng công phu đến nỗi trở nên xa lạ.

2. Lần đầu tiên tôi chứng kiến một cuộc hát tơm là vào năm 2013. Một buổi sáng mùa đông tôi đến bản Thanh Hòa, xã Thanh Sơn, Thanh Chương cũ. Các hộ người Khơ Mú vùng lòng hồ thủy điện Bản Vẽ chuyển về đã 7 năm. Nhiều người cao tuổi ngày ấy vẫn còn nặng lòng với quê cũ. Có bà lão tên là Moong Thị Chắn chẳng rõ nay còn mạnh khỏe nữa không. Bà bảo với người viết bài rằng nhớ nhất là làng bản cũ, sau nữa là hát tơm. Họ vẫn nhớ các làn điệu thi thoảng vẫn cùng nhau ôn lại điệu hát tơm.
Trong một buổi sáng, tôi như lạc vào một khoảng rừng với điệu hát mà phần lớn là những quãng trầm. Nó khác hẳn những làn điệu dân ca người Khơ Mú được sưu tầm và dàn dựng rồi phát sóng trên radio tôi đã yêu thích suốt một thời tuổi trẻ. Tiếng Khơ Mú vùng lòng hồ Bản Vẽ ít nhiều pha tiếng Thái nên tôi nghe hiểu đôi chút. Nhờ các cụ cao tuổi ở bản Thanh Hòa giải thích thêm, tôi biết được đó là những điệu hát “xin dâu” và “đón khách” vẫn rất phổ biến trong đám cưới của người Khơ Mú. Lần đầu tiên tôi nghe một điệu dân ca với kỹ thuật hát bắt đầu từ quãng cao và trầm, thấp dần rồi ngắt quãng để chuẩn bị cho một khung nhạc khác tương tự như thế. Nghe có vẻ thê lương, như một nỗi buồn nhớ.
Kể từ đó, mỗi lần đến với các cộng đồng người Khơ Mú, tôi lại nhớ đến cuộc nghe hát dân ca đó và tìm cách giải mã cho nỗi buồn man mác mà điệu hát mang lại. Tôi dần nhận ra các điệu hát đều được đệm bằng các nhạc cụ từ tre nứa, chỉ thể hiện được các quãng thấp. Có thể điều đó làm ảnh hưởng đến các điệu hát. Dẫu rằng có thể lời bài hát nhiều khi cũng hàm chứa những ý nghĩa tươi vui.
Gần đây, trong một chuyến đi đến huyện miền núi Kỳ Sơn, tôi ghé thăm bản Huồi Thợ, xã Hữu Kiệm. Cộng đồng người Khơ Mú đã về đây lập nên bản từ đầu những năm 80 thế kỷ 20. Hiện nay bản có hơn 100 hộ dân. Cả bản chỉ có 1 căn nhà xây cấp 4, còn nữa là nhà sàn và các sinh hoạt đều vẫn theo truyền thống của người Khơ Mú. Trong bản có một câu lạc bộ hát tơm do bà nghệ nhân Moong Thị Lợi làm chủ nhiệm.
Một cuộc hát tơm được tổ chức tại nhà văn hóa cộng đồng bàn Huổi Thợ. Tôi được nghe lại những làn điệu với quãng âm thấp. Bài hát “mừng lúa mới” bắt đầu bằng lời gọi các thần linh về vui hội, kể về những nỗi nhọc nhằn của người trồng lúa, thiên tai, sâu hại, thú dữ, dịch bệnh và cả niềm vui được mùa. Nó như một bài cúng nhưng được thực hiện bằng hát tơm. Bài hát mừng nhà mới có phần tươi vui hơn với tiết tấu nhanh nhưng vẫn trong một quãng trầm. Trong làn mưa khi tiết trời đang chuyển mùa, lời hát dẫu có tươi vui nhưng âm điệu lại man mác, ưu sầu.
Bà Moong Thị Lợi kể lại việc học hát tơm của mình khi 10 tuổi đã theo mẹ lên rẫy và học hát tơm. Ngày xưa, không gian của những bài tơm chủ yếu là trên nương rẫy và theo những cuộc di cư của cộng đồng, làng bản từ khoảng rừng này đến thung lũng nọ. Ở tuổi 15, đã là con gái, bà đã biết hát đối đáp. Cứ thế suốt hơn 60 năm qua, bà chưa bao giờ ngừng hát tơm.
3. Hiện nay, ngành văn hóa huyện Kỳ Sơn vẫn duy trì các câu lạc bộ (CLB) văn hóa các dân tộc thiểu số trong đó có CLB hát tơm ở bản Huồi Thợ. Hiện tại nhóm hát dân ca có 16 thành viên chủ yếu là chị em phụ nữ bản Huồi Thợ. Người ít tuổi nhất cũng đã trên 30 tuổi. Người nhiều tuổi nhất gần 80 tuổi.
Thông tin từ Phòng Văn hóa – Thể thao huyện Kỳ Sơn (cũ) thì các CLB văn hóa dân tộc hoạt động có sự hỗ trợ hằng năm về kinh phí của huyện. Các nghệ nhân thường sinh hoạt vào các dịp cuối tháng. Ngoài các hoạt động sưu tầm lại những bài tơm cổ, các nghệ nhân trong CLB vẫn tổ chức truyền dạy cho các thanh thiếu niên trong cộng đồng và phát triển thêm thành viên. Ngoài ra, các CLB cũng được đầu tư mua sắm trang phục, nhạc cụ đối với dân ca Khơ Mú gồm cồng, chiêng, phèng la, sáo.
Nói về điều đặc biệt của âm nhạc người Khơ Mú, nhạc sĩ Lê Hoàng, một người sáng tác và nghiên cứu về âm nhạc các dân tộc thiểu số ở Nghệ An cho rằng: Hát tơm và âm nhạc của người Khơ Mú ở Nghệ An chủ yếu phát triển ở quãng 5, một quãng thấp và ít khi lên đến quãng 3.
Cũng theo nhạc sĩ Lê Hoàng, những bản sưu tầm dân ca Khơ Mú như bài “Mưa rơi” được đưa vào sách giáo khoa âm nhạc đã được các nhạc sĩ ký âm lại. Các khoảng nhạc được đưa lên cao hơn để phù hợp với xu thế âm nhạc hiện đại. “Bài Chiếc khăn piêu của nhạc sĩ Doãn Nho là một bài hát mang âm hưởng dân ca Khơ Mú, mặc dù hình ảnh khăn piêu vốn là đặc trưng của cộng đồng người Thái”, nhạc sĩ Lê Hoàng cho biết thêm.
Hữu Vi














