Tiết kiệm để bền vững

Cũng như hầu hết các cộng đồng trên đất nước Việt Nam này, những người dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An cũng có văn hóa tiết kiệm riêng của họ. Tiết kiệm vừa để ứng phó với môi trường tự nhiên, vừa để đảm bảo cuộc sống hàng ngày, vừa để giữ gìn cho con cháu sau này. Đây cũng chính là triết lý “tiết kiệm để bền vững” của người miền núi.

Triết lý tiết kiệm của đồng bào dân tộc thiểu số thể hiện khá đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ ăn, mặc, ở, đi lại đến sinh hoạt sản xuất và khai thác tài nguyên… Nó tạo thành văn hóa tiết kiệm và chống lãng phí. Trải qua nhiều thế hệ, có những yếu tố tiết kiệm trở nên lạc hậu và bị mất mát, nhưng cũng có những yếu tố thể hiện nhiều giá trị và không ngừng được gìn giữ, phát huy. Qua tìm hiểu một số cộng đồng dân tộc thiểu số như người Mông, người Thái, người Khơ Mú cũng phần nào thấy được điều đó.

Người Mông ở Nghệ An là cộng đồng sinh sống trên những vùng núi cao nhất, tập trung chủ yếu ở các huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong. Do đời sống cách xa các trung tâm kinh tế xã hội, đường sá đi lại khó khăn, nên về cơ bản, người Mông rất tiết kiệm. Sự tiết kiệm của người Mông thể hiện rõ trong thói quen ăn mặc của họ.

Trong ăn uống, người Mông rất hào phóng khi tiếp khách quý, nhưng họ cũng là những người tiết kiệm. Với họ, tiết kiệm là làm thế nào để sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất những thực phẩm có được chứ không phải là ki bo, ích kỷ. Ẩm thực của người Mông thể hiện rõ điều đó. Khi vào rừng lấy măng, lấy nấm, nếu phát hiện nhiều thì họ cũng không khai thác tất cả mà chỉ khai thác vừa đủ theo nhu cầu của gia đình, khai thác những cây măng, cây nấm đủ tuổi, chứ không khai thác tất cả. Khi lấy về, một phần họ chế biến để ăn ngay, một phần còn lại được muối làm măng chua để ăn dần trong thời gian dài. Khi làm thịt lợn, người Mông thường mổ thịt những con lợn to, lên đến cả trăm cân. Ngoài số thịt ăn liền lúc mổ, còn lại họ ướp muối để bảo quản hoặc giàng lại để làm thức ăn dự trữ. Ngay món bánh dua túa là món bánh đặc biệt của người Mông cũng không rời quy tắc tiết kiệm. Họ làm bánh dua túa theo một cách thức vừa ăn ngay được, vừa có thể để được lâu ngày.

Trong việc mặc, người Mông cũng vô cùng tiết kiệm. Những áo quần cũ không bị vứt đi mà được tái sử dụng theo kiểu giặt sạch và cắt lấy những mảnh lành nhất để dùng vá vào các quần áo rách… Giống như cụ Và Xia Lự – một già làng người Mông ở bản Piêng Coọc (xã Mai Sơn, Tương Dương) cho rằng khi một người không biết giữ gìn những nguồn lợi trong rừng, không biết trân trọng và tiết kiệm những cái mình làm ra thì họ không xứng đáng được tôn trọng. Người Mông sống trên đỉnh núi và là một phần của rừng núi nên phải tiết kiệm. Tiết kiệm cho rừng, cho mình và cho con cháu.

Phụ nữ người Mông ở bàn Huồi Giảng tranh thủ thêu may khi rảnh rỗi.

Trong cuộc sống của đồng bào dân tộc Thái, văn hóa tiết kiệm cũng thể hiện đa dạng trên nhiều lĩnh vực. Trong ăn mặc, ở hay trong các sinh hoạt hầu như người Thái đều tiết kiệm. Nhưng thể hiện rõ nét hơn lại trong đời sống sinh hoạt, sản xuất và ứng xử với các nguồn tài nguyên. Ngày trước, khi rừng còn nhiều thì người Thái đi phát rẫy cũng lựa chọn chỉ phát một khoảng vừa đủ cho gia đình canh tác. Khi khai thác các lâm thổ sản hay đánh bắt cá họ cũng chỉ khai thác đủ dùng và khai thác những thứ đã đủ tuổi, đủ kích cỡ. Những cây non, con vật nhỏ thì phải thả ra. Ở nhiều nơi, những con vật đang có chửa hay mùa sinh sản người ta hạn chế đánh bắt để đảm bảo sự phát triển của nó và không tận diệt. Họ tiết kiệm để bảo vệ các nguồn tài nguyên nhằm phục vụ cuộc sống lâu dài. Nhiều khi, triết lý tiết kiệm còn được đưa vào tên bản để nhắc nhở con cháu. Ví dụ như người Thái ở bản Cắm (xã Tri Lễ, huyện Quế Phong). Trong tiếng Thái, “Cắm” có nghĩa là vàng, quý báu như vàng. Theo giải thích của những người lớn tuổi trong bản thì khi những người đầu tiên đến đây khai hoang lập bản gặp phải điều kiện rất khó khăn. Cái gì cũng thiếu thốn, từ đất đai, ruộng nước, nguồn nước… vậy nên lúc đó, tìm thấy được cái gì để phát triển cuộc sống đều quý báu cả. Do vậy mà họ đặt tên là bản Cắm để nói rằng mọi tài nguyên ở đây đều quý như vàng vì nó không có nhiều, rất thiếu thốn và phải trân trọng. Trong đời sống sinh hoạt, người Thái quan tâm đến chuyện tái chế các công cụ, dụng cụ khi nó bị hỏng. Những chiếc liềm, cuốc, dao đến nồi niêu… khi bị hư hỏng thì không dược vứt đi. Họ cố hàn gắn để tái sử dụng. Khi không được thì họ cũng mang đến lò rèn để đổi hoặc tái chế lại…

Bản Cắm – một bản người Thái lấy tên bản để nhắc nhở con cháu phải biết tiết kiệm

Cũng như người Mông và người Thái, người Khơ Mú thể hiện văn hóa tiết kiệm của mình trên nhiều lĩnh vực. Khi đan lưới bắt cá thì người Khơ Mú cũng đan ở một mức độ vừa phải cho phép bỏ lọt những con cá nhỏ vì họ cho rằng phải để những con cá nhỏ trưởng thành và sinh sản mới có đàn cá sau này còn đánh bắt được. Nếu đánh bắt mang tính tận diệt thì mai mốt chẳng còn gì để ăn. Khi chặt một cây rừng, người Khơ Mú cũng tính toán để sử dụng được hầu hết các phần từ gốc đến ngọn. Ông Moong Văn Tuyền – một thợ thủ công giỏi đan lát ở bản Minh Tiến (xã Lượng Minh, Tương Dương) cho biết, khi vào rừng chọn chặt một số cây tre để về đan lát ông sẽ xem xét để sử dụng một cách hợp lý từ phần gốc dùng để làm thanh trụ hay cột, phần thân dùng để đan, phần ngọn dùng để rào nương… Cố gắng để không lãng phí các nguồn tài nguyên cho dù nó có nhiều trong rừng. Triết lý tiết kiệm để bền vững thể hiện rõ nhất có lẽ ở các thầy lang. Một người thầy lang vào rừng lấy thuốc cúng, khi tìm thấy cây thuốc thì họ không nhổ cả gốc mà phải giữ lại gốc và một phần thân để cây thuốc có thể phục sinh trưởng tiếp và khi cần thì lên đó lấy. Nếu nhổ cả gốc thì đến khi cần chưa chắc đã tìm được. Người Khơ Mú cũng rất giỏi trong việc tận dụng các phế phẩm sinh hoạt, phụ phẩm nông nghiệp để sử dụng làm phân bón hay làm thức ăn chăn nuôi. Đối với những thứ dư thừa thì họ không bao giờ vứt đi mà luôn tìm cách để sử dụng phù hợp.

Nhìn chung, không chỉ các cộng đồng như Mông, Thái, Khơ Mú mà người Thổ, người Ơ Đu cũng có văn hóa tiết kiệm riêng của họ. Trong bối cảnh trước đây, khi kinh tế tự cung tự cấp là phổ biến thì tiết kiệm là cách để các cộng đồng tìm kiếm sự an toàn và đảm bảo sự ổn định tương đối cho cuộc sống. Những tài nguyên trong rừng dù có nhiều thì cũng không phải vô hạn nên khai thác cũng phải tiết kiệm. Rồi những của cải từ lương thực, thực phẩm đến các công cụ, dụng cụ, đồ dùng sinh hoạt mình làm ra cũng rất khó khăn, nên phải giữ gìn, phải tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống. Hầu hết các cộng đồng này cũng theo quan niệm vạn vật hữu linh nên với họ từ cây cối trong rừng, con suối hay các con vật từ con vật trong rừng, dưới suối đến con vật nuôi đều có linh hồn. Vậy nên phải tôn trọng và sử dụng hợp lý chứ không được lãng phí.

Tiết kiệm để bền vững là một triết lý sống có nhiều giá trị trong các bối cảnh khác nhau (Một bữa cơm canh của trẻ em người Mông ở lớp học bán trú điểm trường mầm non Piêng Coọc)

Trong bối cảnh hiện nay, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đang được nhiều người quan tâm, trở thành một phong trào xã hội rộng lớn, thì những triết lý về tiết kiệm để bền vững của đồng bào dân tộc thiểu số cũng có nhiều giá trị. Trong cuộc sống khó khăn, đồng bào tiết kiệm để duy trì cuộc sống ổn định. Gần như đó là động thái mà bất cứ cộng đồng nào cũng phải như vậy khi đối diện với khó khăn. Nhưng quan trọng hơn, sự tiết kiệm đó đi sâu vào tâm thức của đồng bào, trở thành một yếu tố văn hóa và được truyền thụ, bảo đảm qua giáo dục. Những người cha, người mẹ, người thầy có vai trò dạy con cái, học trò về triết lý tiết kiệm. Và họ cũng là những tấm gương thực hành tiết kiệm trong cuộc sống để cho con cái, cho học trò noi theo. Tiết kiệm trở thành một tiêu chí đánh giá con người về mặt đạo đức. Một người phụ nữ biết tiết kiệm sẽ được coi trọng và được nhiều người đàn ông muốn lấy làm vợ. Hay như một thầy lang, bài học đầu tiên khi theo thầy vào rừng lấy thuốc chính là tiết kiệm, là lấy thuốc sao cho đảm bảo tính bền vững. Không được tận diệt cây thuốc là nguyên tắc mà người thầy dạy cho học trò trên con đường trở thành thầy lang, thậm chí người thầy lang phải lập bàn thờ để thờ ma cây thuốc (như ở người Mông)… Xét trên một góc độ nào đó, đây không chỉ là việc thực hành văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí của đồng bào các dân tộc thiểu số, mà còn là những triết lý phát triển bền vững có giá trị mà nhiều thế hệ đồng bào đúc rút, tổng kết lại. Nó cần được gìn giữ và phát huy một cách phù hợp để không chỉ đảm bảo cuộc sống mà còn góp phần bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hóa truyền thống.

Bùi Hào