27.5 C
Vinh
Thứ Hai, Tháng 5 18, 2026
Trang chủ Văn xuôi Thược dược nở ấm chiều

Thược dược nở ấm chiều

Những sợi nắng yếu ớt lướt theo vạt gió se lạnh trườn qua đê, tràn xuống cánh đồng dong riềng xanh ngắt. Nếp chợ quê những ngày cuối năm cũng lấp lánh sắc màu phố thị. Mấy năm nay tôi không về quê dịp Tết, việc bày biện ban thờ mẹ do em gái đảm nhiệm. Nhưng năm nay San phải ở viện chăm bà mẹ chồng đến chiều Ba mươi mới được về. Biết đâu đó chỉ là cái cớ. Tôi hiểu San, em ấy cũng giống như tôi, rất sợ cái cảm giác một mình bước vào gian nhà quạnh hiu vắng lặng ngày giáp Tết. Cách đây nửa năm, bố tôi đã dọn về căn nhà hai tầng ngay dốc đê ở với cô Loan, chủ nợ của bố. Lúc gọi điện báo cho tôi tin ấy, em San sụt sịt khóc còn tôi lại cười thầm xa xót về sự hợp tan của đời người. Tôi chưa đầy bốn mươi tuổi đã thấy bải hoải rã rời với cuộc sống hôn nhân, bất lực để vợ dứt áo đi tìm hạnh phúc mới, mang theo cô con gái nhỏ có đôi mắt rợp buồn. Còn bố tôi, ngoài sáu mươi dường như vẫn ôm ấp khát khao “đổi đời” và khấp khởi hy vọng ở một mối quan hệ mới sau hai lần đứt gánh.

Ngày xưa, mẹ tôi rất thích hoa thược dược. Tháng Mười, mẹ thường gieo một vạt thược dược ở mé sau vườn. Chiều Ba mươi Tết, mẹ ngắt một bó hoa vào cắm trong chiếc lọ gốm cũ. Chỉ vậy thôi mà gian nhà nhỏ cũng trở nên tươi tắn hơn. Anh em tôi xuýt xoa trầm trồ, nhí nháu thay nước cho hoa mỗi ngày. Bố tôi thì lườm nguýt bỉ bôi: “Ðồ dân tộc mà cũng học đòi thói phù phiếm xa hoa”. Và chỉ sau ba ngày Tết, thế nào bố cũng sai tôi mang đổ bình hoa ấy đi. Tôi mang bọc hoa ra sau vườn, mân mê những cánh hoa vàng ươm, tiếc ngẩn ngơ.

Mẹ tôi quê mạn ngược, về làm dâu xứ đồng bãi mới biết đến việc trồng dong, tráng miến. Tháng Giêng, mẹ lựa những củ dong riềng chắc nịch có những mắt mầm hồng hào bóng láng, tỉ mẩn chấm vào thúng vôi bột rồi xếp kín vào những chiếc mẹt đặt trong chái bếp. Mẹ bảo làm vậy để diệt sâu bệnh cho cây từ trong mầm. Cũng giống như việc mẹ “diệt” cái mầm ích kỉ của anh em tôi từ ngày còn thơ bé. Hễ thấy chúng tôi cãi cọ vì tranh nhau đồ chơi hay thức quà nào đó, mẹ sẵn sàng phá tan và vứt bỏ nó đi. Con nhà nghèo, đồ chơi, quà bánh là những thứ xa xỉ, cái tâm lý “tiếc đứt ruột” sẽ khiến chúng tôi biết nhường nhịn nhau hơn. Nhưng mẹ ơi, làm sao mẹ có thể diệt hết được cái mầm ích kỉ nhỏ nhen trên đời này. Suốt bao lâu nay, bố chỉ coi gia đình là chốn ghé chân. Bố bệt bạt ở các chiếu bạc ngoài đê nhiều hơn ở nhà. Những đêm trắng. Những trận thua đậm. Những ức hiếp, cay cú, hằn học. Tất cả bố gom về trút vào đồ đạc trong nhà, trút cả lên tấm lưng ong đã chớm oằn xuống của mẹ. Năm thì mười họa bố được một ván thắng thì ngày hôm sau cả làng biết, thậm chí hai cô em gái lấy chồng xã bên cũng nhao sang thì thụt vay mượn. Rồi mổ chó giết gà chén chú chén anh la đà từ sáng đến tối, ăn xong lại ngật ngưỡng kéo nhau đi thâu đêm. Hai đứa con của bố thì được bố xúc cho bát canh lục cục vài miếng xương, rồi hất hàm bảo mang xuống bếp ăn với nhau, họa hoằn lắm mới được cho mấy tờ tiền lẻ ra quán bà Chế đầu làng mua bánh đa vừng. Mẹ đi chợ về muộn, nhìn hai đứa con hì hụi với cái mâm bát rếch rơ lỏng chỏng, mẹ tần ngần gom đám xương chôn vào gốc mít, mắt ứa nước.

Cánh đồng bãi bồi làng tôi trồng bạt ngàn dong riềng, cái màu xanh bát ngát luôn khiến người ta có cảm giác rợn ngợp mênh mang. Biết bao buổi chiều đi học về, từ trên đê, tôi vẫn trông thấy bóng dáng nhỏ bé của mẹ trong tấm áo nâu như một vệt lá khô giữa mênh mông xanh ngắt. Mẹ trồng dong, tráng miến thành thạo, những đọn miến dài mượt được bó gọn ghẽ mang đi bỏ mối buôn dưới thị trấn, còn đám miến rối mẹ nhặt nhạnh đem bán lẻ ở chợ Cội. Dân làng hay ngấm nguýt bảo mẹ tôi tham, mua tận gốc bán tận ngọn, dân tộc gì mà khôn đáo để. Mẹ chỉ gượng cười. Ðời người ai chẳng muốn ăn ngon mặc đẹp, ai chẳng muốn an nhàn. Khi gả mẹ về làm dâu miền xuôi, ông bà ngoại tôi chỉ mong con gái mình chân được đi đường bằng, cháu ngoại mình không phải trèo đèo lội suối đến trường tìm con chữ. Bố tôi từng lái xe thuê cho một cửa hàng chuyên mang gạo từ quê lên mạn ngược và thu mua ngô, măng khô, thảo quả từ trên đó về bán ở chợ huyện. Thi thoảng mẹ con tôi được theo xe hàng của bố lên thăm ông bà ngoại. Nhưng rồi sau một tai nạn đổ đèo, bố bị thương nặng. Bao nhiêu vốn liếng dành dụm đổ vào những đợt nằm viện. Hơn một năm trời, bố mới tập tễnh đi lại được. Bố bất mãn, kiếm tìm cơ hội đổi đời trong những cuộc sát phạt thâu đêm. Những gì đáng giá trong nhà lần lượt đội nón ra đi theo những lá bài đen đỏ. Từ ngày bố gặp nạn, mẹ con tôi chẳng có cơ hội về quê. Gần Tết, ông bà ngoại và các bác gửi về cho anh em tôi ít thịt gác bếp, nấm hương và măng rừng. Mẹ bần thần nhìn đám đồ khô, mắt buồn như ám khói.

Thi thoảng trong hơi men bố vẫn khục khặc gắt gỏng: giá như trong chuyến đi cuối cùng ấy không ở lại uống rượu với ông ngoại thì đã không phải trở về lúc nhập nhoạng và cũng sẽ còn đủ tỉnh táo để nắm chắc vô-lăng khi đổ đèo. Bố quay ra đay nghiến mẹ: “Giá như trên chuyến xe ấy có cả cô nữa, để cô chứng kiến cái khoảnh khắc kề cận tử thần thì mới hiểu được nỗi khổ nhục của tôi…” Bố coi gia đình nhà vợ là nguyên cớ dẫn đến tình cảnh bi đát của mình. Mọi đau nhức, tiếc nuối, cay đắng, hằn học bố đổ hết lên đầu mẹ. Và mẹ thì chỉ biết nhẫn nhịn cam chịu.

Cuộc đời này ai chẳng từng nói “giá như”. Tôi cũng từng trải qua nhiều tiếc nuối, nhiều đớn đau ê chề khi nhìn rõ cơ hội của mình vụt qua ngay trước mắt nhanh hơn cả động tác quảy gánh lên vai của mẹ. Nhưng một điều ám ảnh tôi suốt mấy chục năm qua, đến nỗi tôi chưa bao giờ dám mua một chiếc đồng hồ treo tường nào, thậm chí chỉ cần vô tình nghe tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ nào đó tôi cũng thấy tim mình nghẹn lại. Mẹ tôi mất trong một ngày đại hàn. Suốt quãng thời gian sau đó tôi luôn thầm dằn vặt oán trách bố. Giá như bố đừng mang chiếc đồng hồ Gimiko, thứ đồ vật có giá trị nhất trong nhà khi ấy, đi gán cho bà Thao béo đầu làng để lấy tiền ghi số đề. Giá như bố cứ đi chơi bạc thâu đêm như mọi khi đừng trở về lúc ba giờ sáng, thì mẹ không phải cuống cuồng thức dậy xăm xắn đi chợ vì nghĩ bố trở về nhà tầm ấy là đã năm giờ. Tháng Chạp, trời rét thấu xương. Một cơn cảm hàn khiến mẹ gục ngã trước cổng. Gánh miến xổ tung. Những sợi miến rối vương vãi nhoe nhoét bùn lầy. Mấy ngày sau, lo công việc hậu sự của mẹ xong, tôi ngồi thẫn thờ ở góc bếp dứt từng sợi miến ngấm nước bở bùng bục, thấy ruột gan mình cũng đứt tã tượi như những sợi miến rối ấy. Những phên miến mẹ còn phơi dở trong chái bếp gặp mưa phùn cứ rũ xuống, mốc meo, tơi tả.

Cái Tết đầu tiên không có mẹ, không có hoa thược dược, tôi và em San nhìn cái bàn nước trống trơn, nhớ mẹ đến thắt ruột. Em San gục vào vai tôi khóc rưng rức. Bố đi vào quát: “Vớ vẩn. Tết vẫn có bánh chưng và giò, thiếu cái gì đâu mà khóc.” Em San gạt nước mắt, lầm lụi lau cái mặt bàn tróc lở. Tôi đứng dậy đi ra sau vườn, xa xót nhìn hàng mưa bụi giăng trên giậu cúc tần xanh non như tấm voan mỏng, trắng một màu tang tóc. Mảnh vườn ấy đã trở thành “vườn nhà hàng xóm” ngay sau lễ bốn chín ngày của mẹ tôi…

Chợ chiều nên hàng hoa cũng xơ xác, lèo tèo. Tôi rảo bước tới cuối dãy vì thấy ở đó có hai thùng hoa còn tươi mới, chừng như vừa cắt chuyến vét cho ngày chợ phiên cuối năm, cúi xuống lựa những cành hoa thược dược đơm nụ vàng ươm, hy vọng mang về cắm vào bình nước ấm thì hoa sẽ nở. Cô hàng hoa từ nãy mải bó cúc cho một bà cụ, quay ra cất giọng đon đả:

– Anh chọn tinh thật đấy, những cái nụ này sẽ nở đúng hôm Mùng Một. Anh cho thêm vào bình hoa mấy viên B1, hoa sẽ tươi lâu lắm…

Giọng nói quen quá. Tôi giật mình ngẩng lên. Lấp ló dưới chiếc mũ lụp xụp của bộ áo mưa cũ là đôi mắt đen thẳm. Là Miên. Tôi sững người, miệng định mấp máy điều gì đó mà chẳng thể thốt thành lời. Sau một thoáng sững sờ, cô ấy đưa tay kéo khẩu trang lên, giọng trầm xuống:

– Anh Giang năm nay về quê ăn Tết ạ?

– Miên bán hoa ở chợ này lâu chưa?

– Cũng mới thôi anh ạ… Anh chọn thêm mấy cành violet và ba bông cúc nữa sẽ có bình hoa đẹp. Anh mang về thắp hương bác giúp em…

Minh họa Hải Thọ

Kí ức của hai mươi năm trước chợt cồn dậy trong tôi. Bao nhiêu năm nay, mỗi lần về quê tôi lại đi vòng lên xóm trên chỉ để tránh đi qua khu vườn rợp bóng cây dưới chân đê. Khu vườn ấy dành một góc để trồng hoa, những bông hoa thược dược mỡ màng Miên vẫn gói thật kĩ trong bọc lá chuối gửi San nhờ em thắp hương cho mẹ tôi. Cách đây mấy năm, tôi biết Miên lỡ gánh nhân duyên khi gã chồng phải vào tù vì tội ngộ sát trong một cuộc xô xát trên chiếu bạc, em mang hai đứa con gửi bố chăm nuôi giúp rồi đi xuất khẩu lao động ở Ðài Loan. Ba năm sau, anh chồng bị bạn tù đánh tử vong, Miên trở về quê nội ở miền Trung. Tôi thầm mong Miên sẽ tìm được ngã rẽ suôn sẻ hơn ở mảnh đất đầy nắng gió. Giờ gặp lại em trong tình cảnh này, những rung cảm đầu đời như vết thương liền sẹo lại chợt nhoi nhói đau. Tôi lúng túng đỡ lấy bó hoa, muốn nói một câu cảm ơn sáo rỗng mà miệng cứ xuội đơ. Thương Miên, thương mối tình đầu éo le, thương cả bản thân mình nhu nhược…

Giữa năm lớp Mười, Miên chuyển về lớp tôi. Nhà tôi ở trong làng còn nhà Miên ở ngoài đê. Nghe dân làng đồn rằng bố mẹ Miên làm ăn thua lỗ, mẹ Miên phải đi xuất khẩu lao động sang Nga còn bố Miên về đây lánh nợ, dành chút vốn liếng còn lại để mua thầu khoảnh ao vườn ven đê. Tôi biết mình ngơ ngẩn ngay từ lần đầu tiên nhìn mái tóc dài của Miên lòa xòa trên tấm lưng thon. Ánh mắt thăm thẳm của Miên nhiều đêm vẫn chập chờn trong những cơn mộng mị tuổi dậy thì của tôi. Bồng bềnh. Miên mải. Những buổi chiều đi học về, tôi cố ý đạp xe sau Miên chỉ để ngắm mái tóc đen nhánh ấy bay bay trong gió. Tôi dừng xe trên đê, đợi đến khi bóng áo trắng của Miên nhỏ dần lẫn vào khoảng xanh ngút ngát mới đạp xe về.

Những rung động đầu đời ấy chúng tôi vụng về gói ghém trong những lá thư tay. Ánh mắt thi thoảng trộm nhìn nhau, chỉ vài giây thôi mà cứ xốn xang cả buổi. Nhưng rồi những bức thư tay với nét chữ tròn xoe của Miên và bức thư dài hai trang giấy mà tôi cố viết nắn nót chưa kịp gửi đã biến tôi thành kẻ tội đồ trong mắt bố, thành nguồn cơn của một trận đòn oan nghiệt. Người đàn ông cục cằn trong cơn khát bạc đã tìm thấy nó khi lục tung chiếc hòm tôn cũ rích vì nghĩ mẹ tôi còn giấu tiền trong đó. Bố vừa lục lọi vừa chửi. Tôi đứng im nghe bố mắng nhiếc, trong đầu chỉ nghĩ rằng tuổi này mà vướng vào yêu đương là một tội lỗi. Nhưng tôi không hiểu sao đang gằn giọng giáo huấn tôi, thoáng thấy bóng mẹ về đến cổng, bố lại vùng phắt dậy, vớ ngay cây gậy góc nhà lao đến quật tôi túi bụi. Mẹ hốt hoảng nhào tới đỡ đòn cho tôi. Và như chỉ chờ có thế, cơn mưa đòn lập tức trút sang tấm lưng gầy của mẹ. Những ánh mắt đục ngầu giận dữ, những lời van xin thê thiết cuộn lại thành cơn đau xoắn nghẹn ngực tôi.

Thì ra trong sới bạc vừa có người nói ỡm ờ với bố rằng mẹ và chú Hanh, bố của Miên, có tình ý với nhau; đã mấy lần họ trông thấy chú gò lưng đẩy giúp mẹ tôi xe thồ củ dong lên dốc đê; rồi cứ vài ba ngày, từ lúc tờ mờ sáng, lại thấy mẹ tôi rẽ vào nhà chú lấy trứng vịt để đi bán cùng gánh miến. Tình ngay lý gian. Dân tình xào xáo thêu dệt. Những cay cú hằn học của bố có dịp nổ bung.

Tôi chợt nhớ một lần lớp được nghỉ học buổi chiều, nhóm bạn thân rủ nhau về nhà Miên chơi. Cánh cổng vừa mở ra, tôi thoáng thấy chú Hanh và mẹ tôi đi từ dưới bờ đầm lên. Chẳng biết chú nói chuyện gì mà mẹ tôi cười khanh khách. Trông thấy tôi, mẹ chợt khựng lại bối rối, mặt đỏ bừng, ánh mắt cụp xuống sau vành nón lá. Còn tôi, suốt cả buổi chiều ấy chẳng có tâm trí nào đùa vui cùng đám bạn, cũng không dám nhìn vào mắt Miên lấy một lần, bên tai cứ văng vẳng tiếng cười giòn tan hiếm hoi của mẹ. Giờ thấy bố trút cơn giận dữ vào mẹ với những câu ghen tuông cục cằn thô thiển, tôi chợt nhớ lại ánh mắt ngượng ngập hôm ấy của mẹ và tự dưng thấy gợn lên một cảm giác thật khó tả, nỗi ích kỉ tự ái rất trẻ con xen lẫn chút hả hê nữa. Nhưng tôi vẫn lao vào giật lấy chiếc gậy từ tay bố. Sức trẻ của một thằng trai mười bảy khiến bố loạng choạng ngã dúi. Mẹ chồm lên đẩy tôi ra và đỡ bố dậy. Bố vung mạnh tay gạt mẹ ra. Mẹ ngã ngửa người về đằng sau, gáy đập vào mép thềm gạch. Ánh mắt mẹ thất thần man dại, những giọt nước mắt đắng đót đọng trên gò má khô sạm. Tôi bế xốc mẹ vào nhà, răng bặm chặt môi đến bật máu.

Chú Hanh suốt ngày lăn lộn với đầm ao cùng khu vườn rợp nhãn và chuối, chẳng mấy khi giao du với đám người vẫn tụ tập ở những căn lều vịt ven đê. Ðám cờ bạc trong làng kháo nhau chú Hanh có nhiều tiền lắm, tiền của vợ chú gửi về, lại trúng giá mấy lứa vịt liền. Lúc bố tôi thua đậm, mấy con bạc xúi bố đến vay chú Hanh. Nhưng chú Hanh không những không cho vay mà còn vô tình nói mấy câu khuyên nhủ. Bố tôi xấu hổ bảo chú là “dân ngụ cư, đồ vỡ nợ” mà còn lên giọng dạy đời. Bao nhiêu nỗi uất ức cay cú bực dọc dồn tụ lại thành trận đòn cho hai mẹ con tôi. Sau trận đòn ấy ba ngày thì mẹ tôi mất đột ngột. Lúc thay quần áo liệm cho mẹ, mọi người đẩy tôi ra ngoài vì “phạm tuổi”, nhưng tôi vẫn thấy loáng thoáng một vết bầm sau gáy mẹ. Vết bầm ngang dài bằng ngón tay lấp ló trong đám tóc lòa xòa xoăn cứng ấy đã ghim vào tâm thức tôi nỗi nhức nhối suốt bao nhiêu năm qua…

Sau ngày mẹ tôi mất, cái tin đồn mẹ tôi và chú Hanh có tình ý với nhau cứ râm ran cả làng. Người ta thêu dệt rằng bố tôi vì ghen tuông mà đánh mẹ trúng chỗ phạm, chứ cái người đang làm hùng hục bất chấp mưa nắng ấy làm sao mà chỉ một cơn cảm hàn lại ra đi dễ dàng thế được. Miệng lưỡi người đời sắc hơn dao. Bao nhiêu lời đồn đoán ác ý cũng là bấy nhiêu sợi gai sắc nhọn dệt thành tấm lưới vô hình ngăn cách tôi và Miên. Ngày ngày vẫn chạm mặt nhau mà đành quay đi, những ánh mắt chẳng còn thẹn thùng bối rối mà thăm thẳm buồn.

Bố tôi vẫn đi suốt đêm và ngật ngưỡng trở về lúc rạng sáng, lại hằm hè chửi đổng chửi giả rằng phải mang nỗi nhục của kẻ bị cắm sừng. Tôi nghiến hai hàm răng trèo trẹo như muốn nghiền tan những lời đồn đại ác ý ấy. Khoảng cách giữa tôi và Miên cứ lớn dần. Tôi lảng tránh Miên, cũng không hiểu tại sao mình cứ ngập chìm trong nỗi niềm vừa mặc cảm xa xót vừa hằn học nghi ngờ. Mẹ đã mất, nỗi niềm ấy tôi chẳng thể làm sáng tỏ cùng ai, cứ âm ỉ nhưng nhức như một cái nhọt bọc. Miên gửi thư tay cho tôi qua em San: “Cây ngay không sợ chết đứng. Tại sao Giang không dám vượt lên dư luận để chứng tỏ sự trong sạch của mẹ mình?” Miên ít hơn tôi một tuổi mà tôi có cảm giác cô ấy già dặn gấp đôi mình. Tôi co mình lại trong nỗi cô độc, thấy sợ những lời thanh minh, sợ cả những lời hứa hẹn.

Học xong cấp ba, tôi không thi đại học mà xin làm thuê dưới thị trấn, đợi lịch đi khám nghĩa vụ quân sự. Miên thì thiếu một điểm để vào Ðại học Sư phạm, đành ôm nỗi tiếc nuối cố ôn thi lại năm nữa. Bố tôi cưới “vợ hai” ngay sau ngày tôi nhập ngũ, là một người phụ nữ quá lứa do cô út mai mối. Nhưng tôi vừa kết thúc khóa huấn luyện tân binh thì lại nhận được thư của em San: “dì Phai” đã cuốn gói về quê vì không chịu nổi cảnh bố vẫn đi thâu đêm suốt sáng. Dì ấy đi mang theo cả mấy cái vòng bạc trong chiếc hộp khảm trai của mẹ. Tôi viết thư về động viên em gái: “Coi như dì ấy giữ hộ mẹ, có thể làm trang sức hoặc dùng vào một việc gì có ý nghĩa khác, chứ để đó thì chẳng biết ngày nào bố sẽ đem nó đổi lấy mấy con đề.”

Ngôi nhà cũ chẳng còn dấu tích nào của mẹ ngoài tấm di ảnh với đôi mắt vời vợi mênh mang, đúng như người ta vẫn nói về “cõi tạm”. Hằng năm vào ngày giỗ mẹ, bên tấm di ảnh vấn vít khói hương vẫn có những bông hoa thược dược vàng đến nhức nhối, như một niềm an ủi, lại như một nỗi đau chẳng dễ nguôi yên.

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, tôi đi học tiếp Học viện Biên phòng. Miên không thi lại đại học nữa mà xuống thị trấn học nghề may. Mấy lần tôi nhận được thư của Miên gửi kèm với thư em San. Vẫn là sự chờ đợi tha thiết. Tôi không hồi đáp, nghĩ mình chẳng đủ dũng khí để làm hồi sinh tình yêu đầu đời trong trẻo ấy. Nhưng ánh mắt rười rượi của Miên vẫn khiến tôi chới với trong nỗi nhớ thương vô vọng. Tôi ích kỉ hay tôi nhu nhược, chính tôi cũng không hiểu nổi mình. Những cánh thư thưa dần. Năm sau em San viết thư kể rằng: mẹ Miên lấy chồng bên Nga, chú Hanh đã bán cả ao vườn để về quê miền Trung còn Miên lấy chồng huyện dưới, là một tay chủ đề và đã qua một đời vợ. Tôi gói ghém mọi nỗi niềm chôn chặt vào một góc sâu trong tim. Ra trường, tôi nhận công tác ở một tỉnh biên giới Tây Nam. Những bộn bề công việc, những mâu thuẫn âm ỉ của cuộc sống vợ chồng khiến miền kí ức ấy bằn bặt ngủ yên.

Mấy năm dịch dã tôi không về quê. Tôi cố vùi đầu vào công việc để trốn chạy cảm giác bất lực về cuộc hôn nhân rệu rã thừa sự tự ái nhưng thiếu lòng vị tha. Giờ gặp Miên trong hoàn cảnh này, lòng tôi se lại. Chúng tôi như những hạt phù sa nhỏ nhoi nổi trôi giữa dòng đời cuộn xoáy chẳng thể gượng ép tương phùng. Mọi chuyện đã qua như một chuyến phà đã lỡ, đành lòng để dòng đời chảy trôi cuốn theo những nuối tiếc vẩn vơ.

Quê loi nhoi sắc màu phố thị. Những dự án xây dựng khu công nghiệp cày xới đồng quê sứt sẹo ngổn ngang. Những người thành phố rót tiền về quê mua đất vườn. Ðầu làng, những căn biệt thự kiểu Pháp cổ mọc lên từ những ao sen. Cuối làng, những căn nhà ngói mái uốn cong cầu kì. Trong những khu vườn rợp bóng cây, lác đác vài ngôi mộ giả xây sẵn. Người sống có thể chỉ đạo thợ thuyền xây “ngôi nhà vĩnh cửu” theo ý mình; cả cuộc đời lang bạt tha hương, hi vọng mai này khuất đi sẽ được an nghỉ quây quần bên gia đình người thân. Mặc dù đã biết trước sự thay đổi này mà tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng. Mảnh vườn trước nhà tôi, bố đã sang nhượng cho một người thành phố, là thông gia của bác Khán hàng xóm. Một căn nhà mái Thái kiểu cách sang trọng còn nồng mùi sơn đã che khuất căn nhà cấp bốn ọp ẹp phía sau.

Tôi đi qua đoạn ngõ khấp khểnh để về lại căn nhà chứa chất bao kỉ niệm đau buồn. Trong nhà le lói ánh đèn khiến tôi thoáng giật mình. Bước vào đến sân, tôi bỗng lặng người. Trên mảnh chiếu cói nhăn nhúm tơ tướp, bố tôi ngồi im lìm như một pho tượng. Từ vạt sáng lờ nhờ trong nhà hắt ra, bóng bố đổ xuống khoảnh sân gạch lồi lõm nhập nhòa thẫm tối một hình thù vừa kì dị vừa thê lương. Thoảng trong gió có mùi rượu cay nồng. Tôi bần thần ngồi xuống góc chiếu. Giọng bố trầm đục như những tiếng cầu kinh sám hối…

Nửa năm nay bố sống kiểu già nhân ngãi với cô Loan. Em San từng kể bố tỏ ra đắc ý khi được cô Loan đồng ý cho về ở cùng. Cô ấy chọn bố trong đám đàn ông mỗi chiều chụm đầu vào cái bàn nước để đợi đề về rồi đến đêm lại lê la bệt bạt trên các chiếu bạc. Vì bố độc thân không vướng bận con cái, vì bố vẫn còn mảnh vườn ở vị trí đắc địa khi có con đường liên tỉnh sắp chạy qua, hay vì điều gì tôi cũng chẳng muốn lý giải cho rõ ngọn ngành. Và bố đã bán tiếp mảnh vườn phía trước, chỉ giữ lại căn nhà cũ và khoảnh sân gạch nhỏ. Vì những lời khẩn cầu tha thiết của em San hay vì bố vẫn còn nghĩ đến đứa con trai tha hương? Bố đã dốc số vốn liếng cuối cùng của mình vào canh bạc cuối đời. Nhưng rồi bố lại trắng tay. Người đàn bà tứ chiếng ấy đã gom đám hụi của cả làng rồi bỏ trốn. Thảo nào từ lúc ở chợ Cội về đến đầu làng, tôi nghe những tiếng lao xao bàn tán, tôi lại cứ ngỡ đó là những xôn xao nhộn nhịp của Tết quê.

Em San đã giấu tôi chuyện ấy. Phải chăng em sợ tôi lòng tôi đang bải hoải rã rời lại phải chứng kiến thêm sự đổ vỡ cay đắng này mà không đủ dũng khí để bước tiếp? Hay em muốn tôi cứ về nhà như dự định, để tôi tận mắt trông thấy cái bóng của bố tiều tụy hiu hắt trong chạng vạng chiều cuối năm, để mềm lòng nguôi bớt đi cảm giác tủi cực giày vò suốt bao năm mà thông cảm bao dung cho chính người đã sinh ra mình?

Mối tình đầu dở dang của tôi và Miên, sự ra đi đột ngột oan ức của mẹ, sự tan vỡ của cuộc hôn nhân mười năm rệu rã của tôi hay tình cảnh cô độc của bố giống như bóng chiều cuối năm chạng vạng, như những góc tối của cuộc đời mênh mông này. Tôi từng ôm nỗi cay đắng tủi hờn bao nhiêu năm nay, chỉ thấy tự làm khổ mình và khổ cả những người thân. Tất cả bỗng loãng tan khi tôi bắt gặp ánh mắt u ám bất lực của bố. Tôi rụt rè đặt tay lên vai bố. Ðôi vai gầy run lên. Những người đàn ông cô độc thấu hiểu nỗi niềm của nhau trong tuyệt cùng vô ngôn.

Tôi đi vào nhà. Trên ban thờ, một lọ hoa thược dược dè dặt nở bên tấm di ảnh của mẹ. Ánh mắt thăm thẳm của mẹ vẫn nhìn tôi trìu mến, rưng rưng. Tôi châm ba nén nhang rồi khom người tìm trong khoang tủ gỗ ọp ẹp chiếc lọ gốm cũ để cắm bó hoa mình vừa mang về. Những bông thược dược vàng mượt khiến gian nhà dường như ấm lên…

Ngoài sân, gió lạt xạt thổi bay đám lá vừa rụng, cuốn theo cả những tàn dư ngổn ngang xa xót miên man…

Tạ Thị Thanh Hải