Nhà thơ Trần Hữu Thung (1923 – 1999), quê làng Trung Phường, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (nay là xã Minh Châu, tỉnh Nghệ An). Ông là cán bộ tiền khởi nghĩa và từng giữ nhiều chức vụ lãnh đạo, chủ yếu trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ. Từ trước đến nay, công chúng biết đến ông chủ yếu với tư cách một nhà thơ, nổi tiếng với bài “Thăm lúa” đến nỗi tên tác phẩm đã trở thành biệt danh “Ông Thăm lúa”. Trần Hữu Thung còn được gọi bằng biệt danh “Ông Đồ Nghệ”, một người am hiểu sâu sắc văn hoá xứ Nghệ. Nhà nghiên cứu văn hoá Thái Kim Đỉnh từng trân trọng nhận xét: “Trần Hữu Thung, một người Nghệ”.

Tôi may mắn được gặp gỡ nhà thơ Trần Hữu Thung nhiều lần và có những kỷ niệm đáng nhớ. Khi ông còn công tác tại Hội VHNT Nghệ Tĩnh, tôi làm Thủ thư Thư viện tỉnh Nghệ An và nhiều lần phục vụ ông tìm đọc, mượn tài liệu. Sau này, khi ông nghỉ hưu và sống tại khu tập thể Bệnh viện huyện Diễn Châu – nơi vợ ông công tác – tôi thỉnh thoảng đến thăm mỗi khi đi công tác ở huyện (sau thời kỳ Nghệ Tĩnh chia tách). Lần đầu đến thăm, tôi mua một hộp sữa Ông Thọ và gói đường kính trắng. Ông mắng yêu:
– Lần sau đến thăm tau, tuyệt đối mi không được mang đường sữa, bánh trái gì cả! Thứ tau cần là giấy trắng và báo chí để đọc…
Tôi ghi nhớ điều đó. Những lần sau, tôi chỉ mang cho ông mấy xấp giấy trắng và vài tờ báo, nhất là báo liên quan đến văn hoá, nghệ thuật. Ông mừng lắm, cảm ơn rối rít rồi mời tôi nhấp chén rượu nhỏ để trò chuyện. Có lần, ông lấy từ trên vách xuống một cái tráp đen hình chữ nhật (khoảng 20 x 30 cm), đặt lên bàn viết rồi mở cho tôi xem những tờ giấy trắng ông đã viết chữ. Ông khoe, mỗi buổi sáng, sau khi ăn sáng và uống bát nước chè chát (rót từ ấm tích trong giỏ), ông dành 30 phút đến 1 tiếng để ngẫm ngợi và ghi chép tiếng Nghệ – mỗi từ trên một tờ giấy riêng – rồi bỏ vào tráp. Vì vậy ông rất cần giấy trắng.
Vài năm sau, ông phân loại các từ theo thứ tự A, B, C… một cách khoa học, rồi cùng gộp với bản thảo của người bạn vàng Thái Kim Đỉnh (Hà Tĩnh) thành Từ điển tiếng Nghệ (NXB Nghệ An, 1998, 325 trang). Công trình được bạn đọc trong và ngoài xứ Nghệ đón nhận, trở thành tài liệu tham khảo cho nhiều công trình, luận án, luận văn của sinh viên và nhà nghiên cứu.
Cuộc sống gia đình ông vô cùng đạm bạc trong gian nhà tập thể cấp 4, đồ đạc chỉ vài thứ cần thiết. Có lần đến thăm, tôi thấy ông còn trèo lên mái fibro xi măng để sửa chỗ dột. Thời bao cấp, đời sống cán bộ, viên chức như gia đình ông rất khó khăn. Ông tranh thủ sáng tác, viết báo bằng niềm đam mê, trong khi thù lao viết lách vô cùng ít ỏi. Có lần, ông kể về bài thơ “Anh vẫn hành quân”, sáng tác năm 1973, được một nhạc sĩ trung ương phổ nhạc và nổi tiếng trong thời chống Mỹ. Thế nhưng mãi đến gần chục năm sau khi nghỉ hưu, ông mới nhận được chút nhuận bút nhỏ nhoi gửi từ Hà Nội về.
Tuy vậy, ông vẫn sống vui vẻ. Mỗi ngày, ông nhâm nhi chén rượu nhỏ, vài củ lạc luộc hoặc rang, đọc sách, viết lách. Khi có khách, ông cũng chỉ đãi bấy nhiêu, nhưng câu chuyện thì luôn thoải mái, chân tình. Gia đình ông ấm cúng, đặc biệt là những năm ông ốm yếu; vợ ông chăm sóc hết mực. Dù bác sĩ cấm uống rượu, nhưng chiều nào bà cũng lặng lẽ mua cho ông một can bia hơi nhỏ để ông vui.
Tôi còn nhớ ông từng phàn nàn chuyện lèn Hai Vai bị phá khai thác đá làm hỏng núi. Ông cùng nhà thơ Võ Văn Trực và một số nhà văn khác kiên quyết đấu tranh với lãnh đạo huyện, tỉnh cũng như trên báo chí trung ương, địa phương. Nhờ đó, lèn Hai Vai mới được giữ lại, tránh bị phá huỷ danh thắng của Diễn Châu. Mỗi lần trò chuyện, tôi lại học thêm nhiều điều từ ông: điển tích, kinh dịch, câu đối Hán Nôm, văn hoá dân gian xứ Nghệ… Ông thuộc rất nhiều thơ văn cổ, nhất là của các danh nhân Nghệ. Chính ông đã có công ghi chép hệ thống đại tự, câu đối trong Đền Cuông thờ An Dương Vương, ghi rõ tên tác giả từng câu và vị trí đặt trong đền. Những tư liệu quý ấy giúp chúng tôi (Cảnh Nguyên, Nguyễn Thanh Hải, Đào Tam Tỉnh) hoàn chỉnh mục “Câu đối đền Cuông” trong sách Câu đối xứ Nghệ (2 tập, NXB Nghệ An, 2025). Khi Đền Cuông được tu bổ, các đại tự, câu đối bị dỡ bỏ mà không ai ghi chép, chụp ảnh lưu trữ; nhờ di sản của cố nhà thơ Trần Hữu Thung, đền mới được phục hồi nguyên vẹn.
Khi kể tôi nghe về tình thầy trò giữa Đại danh sư Nguyễn Thức Tự và Giải San Phan Bội Châu, ông nhớ và viết lại bằng chữ Hán mấy câu điếu mà Phan Bội Châu gửi từ Trung Quốc về khi không kịp dự tang thầy:
Đạo thông thiên địa / Học bác cổ kim
Kinh sư dĩ đắc / Nhân sư nan tầm.
Dịch nghĩa:
Đạo thông cả trời đất / Học rộng khắp xưa nay
Thầy dạy chữ dễ gặp / Thầy dạy làm người khó tìm.
Ông còn tặng tôi bút tích chữ ký. Văn bản này tôi đã trao lại cho Bảo tàng Văn học Việt Nam vào đúng dịp Bảo tàng mới thành lập.
Đào Tam Tỉnh















