28.4 C
Vinh
Thứ Tư, Tháng Sáu 19, 2024

Thơ về hổ của hoàng đế Minh Mạng

    Thời phong kiến một số vị hoàng đế khi nhàn rỗi thường có tổ chức đi săn để giải trí và thỏa sở thích của mình. Dưới triều Nguyễn có vua Minh Mạng, vua Tự Đức, vua Bảo Đại thích đi săn. Nếu như vua Tự Đức thích bắn chim, vua Bảo Đại thích săn voi, thì vua Minh Mạng lại thích săn hổ. Lễ đi săn thường tổ chức vào mùa Xuân. Theo lời vua Thiệu Trị cho biết: “Hoàng khảo, Thánh Tổ Nhân Hoàng đế ta, mùa Xuân đi săn, giết được con hổ, để cứu người trong lúc nguy khốn, nhân đặt tên súng ấy là súng ‘sát hổ’”.

Tranh của Trần Thắng.

Việc săn hổ cũng góp phần trừ hại cho dân. Khi xưa ở các cánh rừng tại miền Trung có nhiều dã thú. Theo Đại Nam thực lục thì có việc hổ quấy phá hại người ở huyện Địa Linh, tỉnh Quảng Trị. Năm 1830, quan tỉnh Quảng Trị đem việc tâu lên. Vua sai Biền binh Vệ Võng thành đến bổ vây bắt; lại sai những tay thiện xạ, các đội Hộ vệ, Cảnh tất Kim thương mang súng nhỏ, súng lớn cùng đi. Sau khi đến, giết được 7 con hổ, khu rừng được yên tĩnh. Đặc thưởng cho ngân tiền, bạc lạng rồi rút về. Đến năm 1837, Hiệp lĩnh thị vệ là Vũ Huy Dụng nhận việc công lên núi, nghe nói hổ hại trâu cày ruộng, tâu xin phái thêm quân lính đến vây. Dụng bắn trước giết được 1 con hổ; quan quân nhân thế liền giết chết 3 con nữa.

            殺虎行                         Sát hổ hành

            春菟法古命行圍         Xuân thố pháp cổ mệnh hành vi,

            忽報圍中乳虎肥         Hốt báo vi trung nhũ hổ phì.

            踴躍莫能與汝敵         Dũng dược mạc năng dư nhữ địch,

            咆哮誰敢犯其威         Bào hao thùy cảm phạm kì uy.

            眈眈彼作負嵎勢         Đam đam bỉ tác phụ ngung thế,

            囷囷人亦圓陣計         Khuân khuân nhân diệc viên trận kế.

            勇士令往三子擒         Dũng sĩ lệnh vãng tam tử cầm,

            鳥鎗親發其母殪         Điểu thương thân phát kì mẫu ế.

            追思殺虎少年時         Tuy tư sát hổ thiếu niên thời,

            曾用此鎗一再之         Tăng dụng thử thương nhất tái chi.

            今雖應聲於菟斃         Kim tuy ưng thanh ư thố tễ,

            猶遜前日救人危         Do tốn tiền nhật cứu nhân nguy.

Dịch nghĩa:

            Bài hành giết hổ

            Theo phép xưa mùa Xuân lệnh đi săn hổ,

            Bỗng nhiên được báo có hổ mẹ béo trong vòng vây.

            Nhảy chồm chẳng ai dám địch lại với hổ,

            Khi gầm thét đâu người dám phạm đến vẻ uy nghiêm.

            Rình mồi nó dựa vào thế ở nơi hiểm yếu,

            Người cũng tính kế dàn trận vây xung quanh.

            Lệnh cho dũng sĩ bắn ba phát để bắt,

            Tự mình bắn súng con mẹ ngã xuống.

            Nhớ đến chuyện giết hổ lúc thiếu thời,

            Từng dùng súng này một lần nay lại dùng.

            Nay tuy được báo rằng hổ đã chết,

            Giống như ngày trước để cứu người gặp nguy.

                                    [Ngự chế thi sơ tập, Quyển 3, tờ 32a-b]

            用殺虎鎗復殺虎         Dụng sát hổ thương phục sát hổ

            火若電光聲若雷         Hỏa nhược điện quang thanh nhược lôi,

            於菟[1]早已喪山隈       Ư thố tảo dĩ táng sơn ôi.

            曩三今四無虛發         Nãng tam kim tứ vô hư phát.

            殺虎嘉名不負哉         Sát hổ gia danh bất phụ tai.

Dịch nghĩa:

            Lại dùng súng sát hổ thương để giết hổ

            Lửa như ánh chớp tiếng như sấm,

            Hổ đã sớm bị chết ở góc núi.

            Ngày trước [bắn] ba phát nay bốn phát không trượt phát nào,

            Giết hổ nêu tên hay chẳng phụ lòng kì vọng.

                                                            [Ngự chế thi sơ tập, Quyển 3, tờ 34b]

            嘲虎                            Trào hổ

            斕斑白額嘯風生         Lan ban bạch ngạch khiếu phong sinh,

            顧盻之間百獸驚         Cố hễ chi gian bách thú kinh.

            不在深巖資兔鹿         Bất tại thâm nham tư thố lộc,

            敢來曠野擾編岷         Cảm lai khoáng dã nhiễu biên mân.

            自誇彊狼誰能對         Tự khoa cường lang thùy năng đối,

            堪笑身軀已早橫         Kham tiếu thân khu dĩ tảo hoành.

            如此實惟爾作孽         Như thử thực duy nhĩ tác nghiệt,

            非予量狹莫容情         Phi dư lượng hiệp mạc dung tình.

Dịch nghĩa:

            Giễu hổ

            Hổ vằn sặc sỡ uy phong gầm thét sinh ra gió,

            Khoảnh khắc [hổ] quay lại nhìn, khiến bách thú kinh sợ.

            Không ở trong núi sâu, của cải là hươu là thỏ,

            [Hổ] dám đến nơi đồng bằng để mà quấy nhiễu.

            Tự khoe sức mạnh tàn bạo ai có thể đối chọi lại được,

            Đáng cười thân thể đã sớm biết là không được tốt lành.

            Như thế thực là chỉ có [hổ] làm loài yêu nghiệt,

            Chẳng phải ta đã cân nhắc chẳng thể nào khoan dung.

                                    [Ngự chế thi sơ tập, Quyển 3, tờ 35a-b]

            自笑                            Tự tiếu

            上山殺虎下吟詩         Thướng sơn sát hổ hạ ngâm thi,

            自笑何須多事為         Tự tiếu hà tu đa sự vi.

            均是偶然非著意         Quân thị ngẫu nhiên phi trứ ý.

            深防堯舜不如嗤         Thâm phòng Nghiêu Thuấn bất như xuy.

Dịch nghĩa:

            Tự cười

            Lên núi giết hổ, xuống [núi] ngâm thơ,

            Tự cười [mình] cớ sao làm nhiều việc.

            Đều là việc ngẫu nhiên chẳng hề có ý sắp đặt,

            Bắt bẻ so bì với vua Nghiêu vua Thuấn không bằng như tự cười mình.

                                                            [Ngự chế thi sơ tập, Quyển 3, tờ 35b]

 

            虎逸終擒殺                 Hổ dật chung cầm sát

            斕斑林裏捉生回         Lan ban lâm lí tróc sinh hồi,

            卻被庸夫復放開         Khước bị dong phu phục phóng khai.

            縱虎歸山誠失算         Túng hổ quy sơn thành thất toán,

            飛舟截獸亦稱才         Phi chu tiệt thú diệc xưng tài.

            固知偶脫象圍外         Cố tri ngẫu thoát tượng vi ngoại,

            終莫能逃天網恢         Chung mạc năng đào thiên võng khôi.

            惡物必除何足道         Ác vật tất trừ hà túc đạo,

            愚人可惱可憐哉         Ngu nhân khả não khả liên tai.

Dịch nghĩa:

            Hổ sổng ra cuối cùng bắt và giết

            Hổ ở trong rừng bị bắt sống mang về,

            Lại bị người ngu thả hổ chạy mất.

            Thả hổ về núi thành thực là ngoài dự tính,

            Chèo thuyền như bay chặn thú cũng gọi là tài giỏi.

            Vốn biết rằng ngẫu nhiên mà thoát có voi vây bên ngoài,

            Cuối cùng chẳng thể chạy khỏi lưới trời lồng lộng.

            Vật ác ắt hẳn bị diệt trừ cớ sao nói nhiều,

            Người ngu dốt thật đáng buồn, đáng thương thay.

                                                            [Ngự chế thi sơ tập, Quyển 3, tờ 49b-50a]

     Qua một số bài thơ về hổ mà vua Minh Mạng sáng tác, nhân dịp năm Dần nói chuyện hổ để cảm nhận người xưa đã từng miêu tả con hổ như thế nào, cả về diện mạo, đặc tính của nó, cho dù con hổ là loài dã thú, nhưng cũng có những hình ảnh biểu tượng đặc trưng. Đó là hình ảnh con hổ tượng trưng cho sự mạnh mẽ, uy quyền, thường dùng cho các võ tướng. Cũng vì vậy mà vua Minh Mạng đã ban cho đại thần một con hổ bằng vàng: Sách Đại Nam thực lục chép: “Vua ngự điện Cần Chính, cho Trương Minh Giảng làm lễ ôm gối, tự tay rót rượu ban cho, lại cho một hình con hổ bằng vàng và bảo rằng: “Tướng quân dẹp yên giặc cướp, trị yên biên cương, để trẫm không phải lo ở phía tây, nên đặc cách cho con hổ vàng này, là lấy nghĩa hổ thần mạnh mẽ. Ngươi phải cố gắng để cùng nước cùng hưởng phúc””.

     Ngoài thơ viết về con hổ, vua Minh Mạng còn cho khắc hình ảnh hổ trên Cao đỉnh triều Nguyễn, biểu tượng cho sức mạnh của đất nước và vương triều.

Chú thích:

  1. Ư thố là tên gọi khác của hổ

Nguyễn Huy Khuyến

VIDEO