Trước Tết Bính Ngọ khoảng 15 ngày, tôi nhận được tập bản thảo thơ của Hồ Đức Phớc, lấy bút danh Hồ Đức. Bản thảo khá dày dặn, kèm theo phụ lục là những bản nhạc các nhạc sĩ phổ thơ của anh. Khi đó, Hồ Đức Phớc không chỉ là một nhà chính trị (Phó Thủ tướng Chính phủ, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV), mà còn là một chuyên gia tài chính và kiểm toán của đất nước.

Tôi đón nhận tập bản thảo với tâm thế người làm nghề, trân trọng bè bạn. Bởi tôi quen biết Hồ Đức Phớc từ ngày anh mới được bổ nhiệm làm Chủ tịch UBND thị xã Cửa Lò cũ, qua giới thiệu của anh Phạm Văn Thìn. Trải qua năm tháng, tôi và anh vẫn nhớ về nhau qua câu ví giặm. Tôi mừng vì biết thêm một tác giả thơ Hồ Đức.
Và rồi, tôi đã cố gắng biên tập, tổ chức cho anh xong tập thơ trước Tết Bính Ngọ chỉ khoảng 5 ngày. Lúc đó tôi nghĩ, khi về nghỉ Tết, Hồ Đức Phớc có tập thơ thay cho tấm lòng dâng lên tổ tiên, gia tiên và làm quà tặng bạn bè.
Khói lam chiều, NXB Hội Nhà văn, quý I/2026 của Hồ Đức gồm các phần: “Khúc tri ân”, “Khúc cảm dặm đường”, “Khúc suy cảm”, “Khúc tri âm”, “Khúc cộng cảm”, gồm 41 bài thơ và 27 bản nhạc các nhạc sĩ đã phổ thơ anh. Anh nói với tôi: “Em đã có mấy trăm bài thơ, 42 bài được phổ nhạc, nhưng bận quá, không chọn được”.
Hồ Đức làm thơ từ sớm, thơ không chỉ là tiếng lòng mà là “thiên sứ” cứu rỗi tâm hồn.
**
Đọc tập thơ Khói lam chiều, người đọc dễ dàng nhận ra đây không chỉ là tiếng nói riêng của một cái tôi trữ tình nhớ về quê hương miền Trung nói chung, xứ Nghệ nói riêng đầy nắng gió, mà còn là một cuộc trở về tinh thần với cha mẹ, làng xóm, cánh đồng, dòng sông, bờ bãi… những giá trị đời sống bền chặt đã hun đúc nên nhân cách con người, từng sinh ra và lớn lên sau lũy tre làng.

Hồ Đức viết khá nhiều về nơi “chôn nhau, cắt rốn”, về quê hương như: Về quê hương, Tết ở quê, Quỳnh Lưu nỗi nhớ quê hương, Về Thanh Chương, Tân Kỳ miền thương nhớ... cho thấy quê hương trở thành vùng ký ức đẹp trong tâm hồn Hồ Đức. Nhớ đến quê là nhớ mẹ cha, nhớ công ơn sinh thành, dưỡng dục. Người mẹ trở thành hình tượng nghệ thuật, là Kinh Bát Nhã trong thơ Hồ Đức – có thể thấy ở Tri ân mẹ, Thăm mẹ, Về với mẹ, Về quê mẹ cùng anh… Mẹ, với tư cách là tiếng gọi yêu thương, còn xuất hiện trong nhiều bài thơ khác:
“Ăn đi em gánh lá thông mẹ bán
Nhặt hai ngày đổi được gạo hai cân
Đâu no đủ cho mấy đứa chúng mình
Nhớ ngày nào của những đêm thứ Bảy
Lấy quán chợ làm nhà, tiếng hát của ông ăn mày làm nhạc ngủ qua đêm”
(Hoài niệm)
Thơ là tiếng lòng, nơi thể hiện tiếng lòng chân thực nhất. Nói như nhà văn, nhà thơ Bích Ngân, thơ không chấp nhận sự giả dối. Hồ Đức sinh ra trong một gia đình nghèo, bố mẹ lam lũ, mưu sinh vì đàn con thơ. Anh từng lớn lên bằng khoai, sắn, đói lòng lên đồi tìm quả ổi xanh…; “Nồi cháo loãng múc ra không thấy màu của gạo/ Em gái tôi lấy tay lau nước mắt” (Hoài niệm). Thời đó, đứa trẻ nào chẳng ước nguyện có được bát cơm canh; bố mẹ nhiều khi nhặt hết những hạt cơm dính trên đũa cả bỏ vào bát cho con mình.
Hồ Đức lớn lên trong nghèo khó, cùng nghèo khó nhưng không bao giờ thiếu tình yêu thương, tình cảm bọc đùm. “Con khôn lớn đã đi khắp mọi nẻo đường/ Trong hành trang chỉ tình yêu của mẹ/ Những câu Kiều và dân ca ví giặm/ Gom nhặt từ khi mới nằm ở trong nôi” (Tri ân mẹ).
Hầu như không một thi sĩ nào không có những câu thơ, bài thơ dành cho mẹ. Hồ Đức không ngoại lệ, viết thơ tặng mẹ. Với Hồ Đức, mẹ ám ảnh trong mọi cảm xúc; hình ảnh về mẹ nhiều hơn, anh dành cho mẹ nhiều tình cảm hơn bất cứ tình cảm nào khác.
Trên đời có thể nghi ngờ tất cả, trừ lòng mẹ dành cho những đứa con. Có lẽ vì thế, những câu thơ dành cho mẹ của anh, ngoài tình cảm nhớ thương, tiếc nuối vì cuộc đời làm cán bộ, theo sự phân công của tổ chức, mẹ con ít được gần gũi.
Hình tượng mẹ hiện lên trong thơ Hồ Đức: “tóc bạc màu mây” (tr.11), “sáng mai chạy chợ chiều ra cấy đồng” (tr.12), “bờ vai trĩu nặng cong đòn gánh” (tr.19), “củi tươi kẽo kẹt” (tr.20)… Mẹ anh thường trở về trong ký ức, trong giấc mơ tâm linh.
Không ai chọn được cho mình quê hương và mẹ. Quê hương với vị trí cố thổ, cũng như mẹ thôi, với ai cũng chỉ có duy nhất. Vì thế, cũng như mẹ, Hồ Đức viết về quê hương Quỳnh Lưu với tất cả ân tình, day dứt. Anh tự hào về quê hương, tự hào về nơi sinh ra và lớn lên:
“Ai giấu nỗi nhớ vào dòng sông ký ức
Mải mê tìm kỷ niệm chiều xưa
Chiều xa quê nghe sáo diều bỡ ngỡ
Bờ đê xanh bát ngát những cánh cò”
(Quỳnh Lưu nỗi nhớ quê hương)

Quỳnh Lưu là một vùng đất văn hóa. Từ lâu, mảnh đất này đã lưu giữ trong lòng mình những tầng văn hóa quý giá. Những phát hiện khảo cổ đã khẳng định vai trò quan trọng của Quỳnh Lưu trong tiến trình phát triển văn hóa tiền sử Việt Nam. Nơi đây phát tích dòng họ Hồ trứ danh, bắt đầu từ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, người có công lớn trong lịch sử và được xem là thủy tổ của dòng họ Hồ Việt Nam.
“Cổ nguyệt ngàn năm tươi sáng mãi/ Đại lâm sừng sững đất Tổ tiên/ Vươn cành quả ngọt nhờ ơn gốc/ Sông sâu biển lớn có từ nguồn” (Cổ nguyệt). Hồ Đức tự hào về dòng họ của mình.
Và không chỉ Quỳnh Lưu, Hồ Đức Phớc từng làm Chủ tịch UBND tỉnh rồi Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An trước khi ra Trung ương. Bàn chân anh đã đến nhiều vùng quê trên đất Nghệ An. “Về Thanh Chương”, “Thành phố biển tương lai”, “Tân Kỳ miền thương nhớ” trong thơ Hồ Đức cũng “mênh mông như lòng mẹ” (tr.40):
“Đồng quê anh xôn xao cò gọi bạn
Những câu Kiều, ví giặm đắm say ai
Trong ký ức mẹ còng lưng bên ruộng
Gánh gồng chiều gánh cả cuộc đời anh”
(Về Thanh Chương)
Hồ Đức Phớc là một tiến sĩ kinh tế. Trước khi “trình làng” tập thơ Khói lam chiều, anh đã xuất bản hai tác phẩm Nghệ An – Luận giải và phát triển, Quản lý hạ tầng đô thị, thể hiện tư duy, viễn kiến không chỉ của một người nghiên cứu khoa học mà trước hết là tấm lòng anh mong muốn quê hương phát triển.
Với trọng trách của mình, tháng 3/2025, Hồ Đức có bài thơ thế sự Kỷ nguyên mới. Anh đã thi ca hóa thời đại và con đường thực hiện khát vọng: “Làn gió mới cuốn phăng trì trệ/Đón bình minh công nghệ mới dạt dào/ Trí tuệ Việt Nam sáng bừng lên chói lọi/ Triệu trái tim hồng nhiệt huyết hiến dâng” (Kỷ nguyên mới).
Nội hàm “Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới chính là Đại hội XIV của Đảng.
“Cờ Tổ quốc đang rợp trời thắng lợi/ Việt Nam hùng cường tỏa sáng tương lai/ Thành tựu lớn khiến trời xanh khâm phục/ Giữ hồn thiêng sông núi vững bền thêm” (Kỷ nguyên mới). Bài thơ có âm hưởng tráng ca, đã được nhạc sĩ Xuân Thi phổ nhạc thành ca khúc cùng tên với giai điệu tươi sáng, tự hào, tin yêu.
Tâm hồn Hồ Đức dạt dào tình cảm, con người Hồ Đức đầy ắp ưu tư, suy tư. Cảm xúc về quê hương, đất nước bật lên thành thơ. Cuộc sống, hiện thực, từ số phận con người những nơi anh đến, trong hành trình công tác khúc xạ qua tâm hồn, được anh ghi lại trong nhật ký công tác.
Có thể kể đến: Về Hà Giang, Chiều Côn Đảo, Côn Sơn, Hưng Yên quê mình, Ninh Thuận miền đất yêu thương, Cao Bằng cố đô xưa, Về Lai Châu, Thái Nguyên miền thương nhớ, Phú Yên quê hương em… Hồ Đức đã ghi lại cảm xúc bằng thơ.
Đặc biệt, thơ Hồ Đức còn là những rung chấn trước nỗi đau thân phận. Bài thơ Tình yêu trong bão lũ anh viết trong chuyến công tác kiểm tra, chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả mưa lũ ở Cao Bằng (tháng 9/2024) và Lạng Sơn (tháng 10/2024) theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ. “Cứu dân là trách nhiệm/ Giúp dân là yêu thương” (Tình yêu trong bão lũ), không ai bị bỏ lại phía sau là nguyên tắc của hành động, vẻ đẹp nhân văn của chiến lược phát triển.
**
Khói lam chiều là tập thơ vừa trữ tình, vừa giàu chất tự sự. Phần cuối của tập thơ có những bài như Khôn và dại, Con dốc cuộc đời, Xế chiều đầy tâm trạng vẩn vơ. “Tìm kiếm làm chi danh lợi ở đời/ Khi hết thời chữ còn nơi tình nghĩa/ Đừng trách ai sớm chiều mặn ngọt/ Buông tay rồi hãy thấu đáo vô vi” (Xế chiều).

Ở tuổi được nghỉ công tác, Hồ Đức đã sống kỹ, sống trọn vẹn với chính cuộc đời mình, giữa cuộc đời và thế giới “xô lệch”, nên thơ giàu chất triết lý. Đọc những bài thơ này, tôi nhớ đến quan niệm về tỉnh thức của Thiền sư Thích Nhất Hạnh và triết lý vô thường trong cõi nhân sinh.
Hồ Đức là người chân thành. Tôi nhớ một lần về Vinh công tác, sau đó cùng ra Hà Nội với anh. Dạo đó Hồ Đức Phớc còn làm Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An. Hai anh em chia sẻ với nhau bằng sự chân thành Nghệ, tự hào Nghệ và trắc ẩn Nghệ. Sau này tôi biết tâm tư của anh được cụ thể hóa trong tác phẩm Nghệ An – Luận giải và phát triển. Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung – một người Nghệ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đánh giá rất cao tác phẩm.
Đời sống thế nào thì thơ thế ấy. Thơ Hồ Đức nổi bật ở sự chân thành, đằm sâu, mang đậm hồn vía miền Trung và ý thức cội nguồn. Thơ anh, dẫu lần đầu xuất hiện, nhưng người đọc nhận ra độ lắng của trải nghiệm, ánh sáng của ký ức.
Với Hồ Đức, quê hương không phải là khái niệm trừu tượng mà là một thực thể sống, vùng ký ức nóng ấm, một phần máu thịt của đời người. Tôi từng hỏi anh: “Sau này nghỉ công tác sống ở đâu?”; không cần suy tư, anh trả lời ngay: “Em về Nghệ An!”.
Những ngày Chính phủ mới (Quốc hội khóa XVI) ra mắt, tôi nhắn tin hỏi anh về cảm xúc. Anh trả lời cũng rất thi ca. Theo anh, cuộc sống như một dòng chảy, mỗi người được tham gia một “đoạn ngắn” trong dòng chảy đó đã là quý lắm, phúc lắm rồi. Đúng như vậy, tôi trân quý thêm tác giả Hồ Đức.
Thơ xác tín, Hồ Đức thuộc về xứ Nghệ!
Ngô Đức Hành














