Tin nhà thơ Thạch Quỳ đi xa khiến tôi bần thần không tin nổi, cho dù sự đi xa này đã được báo trước nhiều tháng nay, khi biết tin ông bệnh hiểm nghèo. Nhưng tôi mới gặp ông cách nay 2 tuần, mới nghe ông đọc thơ, ông kể chuyện đời đó thôi. Ông vẫn đang vô cùng tỉnh táo, minh mẫn và…ham sống. Ông vẫn đang khỏe lên và tin mình sẽ khỏi bệnh như ông viết trong “Đợi” rằng: Cây đợi tết, cây thăng hoa/ Ta đợi ta, phút thăng hoa, bệnh lùi/ Mùa xuân đợi bước chân người/ Hay chân người đợi chân trời mùa xuân?
Nhưng, ông đã xa thật rồi. Tôi không kịp thực hiện lời hẹn cháu sẽ đến để nghe chú kể tiếp những câu chuyện về làng Đông Bích, những ngày ở nước Nga, những kỷ niệm đã lặn vào trong thơ của ông… Tôi luôn là kẻ không kịp. Tôi đã không kịp làm rất nhiều điều, nhiều mong mỏi, trước khi những người mình thân yêu, quý trọng rời xa cõi tạm này… Giờ đây, ngồi trước máy tính trong căn phòng làm việc, tôi mở lại những đoạn ghi âm mà tôi đã ghi lại trong buổi trò chuyện với ông vào tháng 10. Khi đó, ông vừa đọc thơ, kể chuyện vừa ho. Thỉnh thoảng, ông với tay lấy giấy để lau miệng. Nhưng ông không muốn dừng câu chuyện. Cái nhu cầu để được chia sẻ, được lắng nghe, được người khác thấu hiểu… đã khiến ông như có thêm sức mạnh và niềm hứng khởi. Đôi lúc ông sợ người ta không đủ kiên nhẫn hay vì quá lo cho sức khỏe của ông, ông lại phải “chêm” một câu trấn an: “Để từ từ mình kể cho mà nghe, đang hay lắm”. “Rất tiếc chú Quỳ mà bị tắc ách ở đây thì không kể được nhiều nữa với bạn bè, anh em…”…
Tôi, vì biết mỗi phút giây mà ông còn ngồi đây, còn kể chuyện là những phút giây vô cùng quý giá, nên đã tranh thủ mọi lúc rảnh rỗi để đến nói chuyện cùng ông. Ông cũng biết đây là những phút quý giá của mình dù ông luôn muốn bám vào hy vọng, vào những phép màu. Trong “Bài toán của trời” đề ngày 23.11 trên trang cá nhân, ông viết: “Một phút tim còn thoi thóp thở/ Toán trời còn nhẩm tính trong đêm/ Toán trời không lời giải/ Càng giải càng rối thêm…”. Đúng vậy, ông vẫn có những cái “rối” như ông viết, những cái khối mâu thuẫn trong con người Thạch Quỳ: vừa tỉnh táo, vừa ngây thơ; vừa đầy triết lý sắc sảo, lại bỗng mơ hồ; vừa muốn buông bỏ lại vừa muốn níu giữ; vừa đoạn tuyệt đó, lại hào hứng bắt đầu…
Những ngày cuối cùng, ông về lại căn phòng nhỏ, cái giá sách, lọ hoa, nhành lá xanh vươn bên ngoài cửa, ngọn đèn bàn vàng ấm… Ông yêu quý cái góc nhỏ này. Nơi ấy, ông có cảm hứng để ngồi dậy, ngắm trời đất, dù mảnh trời trước mặt ông chỉ bé xíu xiu qua ô cửa và bị chắn bởi rất những ngôi nhà cao tầng bên cạnh, nơi ông có thể đốt lên một cây trầm nhang hương bồ kết và tĩnh lặng trong đó, bên cạnh cái giá sách, bức tranh chân dung của họa sỹ Hoàng Trung vẽ tặng. Ông hỏi tôi cách viết và gửi email trên điện thoại, ông nói “để tiếp tục sáng tác gửi cho Thùy Vinh, cho Sông Lam, cho báo Nghệ An”, những tờ báo, tạp chí mà ông yêu quý, thiết thân. Cái đáng quý của ông là thế, rất kiêu bạc đấy, nhưng cũng vô cùng nhuần nhị, khiêm nhường, có trách nhiệm với cuộc đời, với những người lớp sau, luôn biết cúi xuống, để thừa nhận, để nâng đỡ…
Những tháng ngày ông còn khỏe, thỉnh thoảng ông vẫn lên văn phòng Hội Liên hiệp VHNT tỉnh để chơi, ngay cả khi không có việc chuyên môn (ông là thành viên ban chuyên môn của Ban Thơ). Lên gặp gỡ, chuyện trò rôm rả, kể ngày xưa làm văn nghệ, làm tạp chí thế nào (ông là hội viên sáng lập Hội, biên tập Tạp chí Văn nghệ Nghệ An xưa). Lên để thủ thỉ những buồn vui của mình. Lên để góp ý, bàn bạc bài vở cho Tạp chí Sông Lam… Uống một ly nước, ngồi xoài trên ghế, cởi nút áo khoác… và cười khoe hết cả hàm răng đã rụng khá nhiều. Giờ đây, hình ảnh thân thiết ấy lại hiện lên trong tôi, như thể, ông mới ngồi đó, mới rời đi chốc lát với lời hẹn: tuần sau chú lên!
Ảnh: Hải Vương
Không biết đã bao lần, trong những trang viết, trong câu chuyện của mình, ông kể về làng Đông Bích, về ngọn rú Cuồi nhiều đá mà ông đã gắn cùng tuổi thơ tuyệt diệu, nơi ông kê giấy trên những tảng đá ấy mà viết tác phẩm đầu tay gửi cho NXB Thanh Niên, nơi nuôi dưỡng trí tưởng tượng của mình. “Trên núi Quỳ thì rất nhiều đá. Đủ các loại đá. Có những tảng đá to như tấm dong, tấm phản. Cũng có những cột đá dựng đứng lên trời như những cây cột chống. Dân làng tôi gọi những tảng đá đó là đá xe kéo, đá xe cồ, đá Bụt, đá vụt mo… muôn hình vạn trạng không kể xiết. Tôi rất yêu đá. Đá rất sạch, rất cứng rắn và màu của đá thì âm thầm lặng lẽ rất hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ xung quanh.” Cái bút danh Thạch Quỳ cũng từ đó mà ra: “núi Quỳ (rú Cuồi) nhỏ bé, khiêm nhường, chẳng mấy ai biết đến. Nếu như đó là núi Hồng Lĩnh, hay núi Thái Sơn, hay đỉnh Phan-xi-păng chẳng hạn, thì chắc chắn tôi không dám lấy tên những trái núi lớn lao, hùng vĩ đó để đặt bút danh cho mình. Tôi yêu đá, tuổi thơ chăn trâu, kiếm củi ngày nào chẳng ở cùng đá núi. Tôi cũng ví mình như một hòn đá của trái núi nhỏ bé ấy thôi. Cái tên Thạch Quỳ cũng khiêm nhường và bình dị vậy thôi. Không có gì đặc biệt, không có gì đáng phải để ý cả”.
Ngôi làng nhỏ bé ấy đã làm thành niềm thương, nỗi nhớ và cả niềm tự hào của ông. Nếu như tác phẩm đầu tay của ông gửi NXB là… tiểu thuyết được kê trên đá rú Cuồi để viết, thì bài thơ đầu tay của cậu bé mộng mơ Vương Đình Huấn lại được viết bằng than củi trên bức tường nhà bếp của nhà thơ Vương Trâm, Vương Trọng (chú ruột của nhà thơ Thạch Quỳ) và đã bị ông quên khuấy ngay sau khi viết ra nó. Thế nhưng người làng Đông Bích thì đi qua đọc và vẫn nhớ, và cách đây chừng vài năm, nhà thơ Vương Trâm khi đó còn sống đã đọc lại cho Thạch Quỳ nghe lại, chuẩn xác tới từng dấu chấm, phẩy:“Xuân đến, hoa đào nở trong mưa/ Thoi oanh giục giã, ý nhi chờ/ Hè sang gốc cũ rờn xanh lá/ Thoáng bóng thời gian tan trong mơ…
“Thời gian tan trong mơ” trong tâm hồn non tơ của cậu bé mười mấy tuổi. Thời gian không làm tan nỗi nhớ của ông về Đông Bích, để rồi trong những ngày trọng bệnh, tim ông vẫn nhức lên nỗi nhớ cầu Nẩy, cầu Đá, cầu Vôi, về bàu Bưởi, đền thờ Võ, về những thứ cây trồng trên cánh đồng làng, là lúa: lúa mùa, lúa tép, lúa ba lá, luá ri, lúa ré, lúa lốc, lúa ngự…, là nếp: nếp thơm (nếp rồng), nếp đa, nếp mèn, nếp râu… rồi ngô, khoai, đậu, lạc, vừng… và lễ Thượng Tân cúng mùa lúa mới “Tháng Mười sương móc trời se lạnh / Xôi cốm thơm lừng, lễ Thượng Tân”
Làng quê ấy, đồng bãi ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn ông. Để rồi, nói như thầy giáo Thái Hữu Thịnh chia sẻ trên facebook về cậu học trò ngày xưa: Em Huấn, em học trò nhỏ nhất lớp 10 E trường Huỳnh Thúc Kháng năm xưa nay là nhà thơ lớn của Nghệ An, nổi tiếng cả nước.
Gắn bó với thơ, rời nghề giáo để chuyên làm văn nghệ và Thạch Quỳ cũng có những phen lên bờ xuống ruộng vì thơ. Đã có những bài thơ ông nói mình đã phải “viết trong bóng tối” đúng nghĩa. Đó là những tháng năm sinh viên, với kỷ luật khắt khe của nhà trường bắt đồng loạt sinh viên phải đi ngủ và thức vào một khung giờ nhất định. Thạch Quỳ đã phải dùng bút chì và những mẩu giấy ghi lại những cảm xúc, nhưng suy nghĩ nung nấu của mình trong đêm tối và sáng mai ra tranh thủ chép lại. Rồi sau này, khi ra dạy học, ông lại sống cuộc sống tập thể, ăn cơm tập đoàn: “Ngày hai buổi đi dạy, đêm cũng phải soạn bài tập thể đến 11 giờ mới được đi ngủ, ngủ cũng ngủ tập thể, 4 người trong 1 phòng, kỷ luật gò bó lắm. Tôi lại dạy toán, nếu để các đồng nghiệp biết mình làm thơ thì rất dễ bị phê bình. Mà nghiệp làm thơ thì tôi không bỏ được. Vậy nên, tôi không thể để tên mình in dưới các bài thơ. Tôi cần phải có bút danh để giữ bí mật về việc viết lách của mình. Đấy là nguyên cớ vì sao tôi phải có bút danh”.
Nhìn lại bài thơ “Với con” đình đám một thời, khiến ông lao đao, ông chỉ kể: Sự thật là bài thơ của tôi, bị “đại phẫu” ngay tại tỉnh nhà, khi mà người ta, vì “cái ghế” mà đánh vào các tác phẩm văn học trong khi cái đích người ta muốn nhắm là ở con người của phe này, phái khác. Đơn giản vậy thôi! Tuy nhiên, khi ở Nghệ An tổ chức “kiểm điểm” bài thơ thì Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn ngâm, báo Nhân Dân vẫn in lại bài thơ, có sao đâu. Thực chất thì bài thơ cũng chẳng có tội tình gì, như hôm nay chúng ta đã thấy rõ. Vậy nên, tôi nghĩ, khi các nhà văn, khi những người làm nghề viết lách không chuyên lo tác phẩm mà chỉ nhăm nhăm nghĩ đến chức vị, đến ghế ngồi, nhăm nhăm tìm cách đưa thủ lĩnh của mình lên cầm quyền để lợi dụng, để nhờ vả thì văn nghệ khó tránh khỏi rối loạn, khó tránh khỏi xẩy ra những điều đáng tiếc, có thể nói là đáng xấu hổ nữa. Ngoài ra, sự việc cũng để lại bài học cho những người được phân công trách nhiệm cầm quyền, quản lý văn học nghệ thuật: hãy thận trọng với các sự việc nằm ngoài văn học!”
Ảnh: Hải Vương
Năm 1967, Thạch Quỳ ra tập thơ đầu tiên: “Sao và đất”. Tiếp đó, là “Tảng đá nhành cây” (1973), “Điệu hát nguồn sống và đất” (1978), “Nguồn gốc cơn mưa” (1978), “Con chim tà vặt” (1986), “Cuối cùng vẫn một mình em” (1986), “Đêm Giáng sinh” (1990); “Bức tường” (2009), “Người lặn biển” (2018) “Tuyển thơ Thạch Quỳ” (2019)… Đêm ra mắt tuyển thơ Thạch Quỳ (vào tháng 1 năm 2019) là một đêm ấn tượng và thành công ngoài mong đợi. Người ta đã đội giá rét để đến nghe thơ ông và nghe ông nói về thơ. Thạch Quỳ có tài diễn thuyết, có giọng đọc thơ rất lôi cuốn. Chẳng thế mà mọi đoàn văn nghệ sỹ các tỉnh bạn đến thăm Nghệ An đều muốn mời bằng được Thạch Quỳ tham dự, đọc thơ và nói chuyện về sáng tạo văn chương. Người thơ ấy, cả một đời đã chọn quê hương để ở lại, gắn bó dù ông đã có nhiều cơ hội bay cao, xa hơn…
Chú Quỳ, giờ thì chú Quỳ của tôi đã rời xa thật rồi. Chú nhận mình thuộc “về phe với cây xanh” như trong bài thơ chú gửi cho Sông Lam mới đây. Thuộc về “phe cây”, “phe lá”, “phe tuyết trắng, bùn lầy” “phe bia đá trắng không tên tuổi gì…”. Vâng, giờ thì chú đã về với đá trên núi Quỳ của chú, về làng Đông Bích sau: “Trăm năm mấy cuộc khóc cười/ Buồn vui người đã cùng người sẻ san/ Mây bay hạc giá trên ngàn/ Biết đâu Thiên ngục, Niết bàn là đâu…”. Tiễn biệt chú – chú Quỳ!