Tết ở quê tôi

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa cỗ Tết

Quê tôi là một ngôi làng nhỏ, một giáo họ ở huyện Yên Thành. Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, còn bao cấp, làng tôi gần như nhà nào cũng thiếu ăn. Những đứa trẻ mới lên 5-6 tuổi như tôi quanh năm chỉ mong chờ Tết đến. Tết có bánh tét, có thịt, có cơm ăn không phải độn khoai, sắn. Ngoài 6 lạng thịt lợn (600g) được hợp tác xã phân phối cho nhà tôi (3 người) để ăn Tết từ ngày 27 tháng Chạp, mẹ tôi phải chật vật xoay xở để sắm Tết.

Sáng 28 tháng Chạp. Mẹ tôi dẫn em tôi và tôi đi chợ Tết. Mưa phùn, đường lép nhép bùn đất. Mẹ bưng mủng dắt em đi trước, tôi háo hức nhảy chân sáo theo sau. Chợ Vẹo phiên cuối năm người đông như trẩy hội. Mẹ tôi sắm cho tôi và em tôi mỗi đứa một bộ quần áo mới. Rồi mẹ mua cau, chừng chục quả cam, ít cá biển, khoảng một cân thịt lợn, mấy bông hoa xếp bằng giấy và đôi câu đối. Cái Tết của 3 mẹ con (lúc đó cha tôi còn trong quân ngũ) nằm lọt thỏm trong cái mủng. Mẹ tôi đội mủng về, Tết cũng ùa về nhà.

Mấy bông hoa giấy mẹ tôi đặt lên bàn thờ thờ Chúa và Đức Mẹ Maria. Hai câu đối treo hai bên bàn thờ. Cam, cau mẹ tôi dành để mồng Một Tết đi mừng tuổi người thân. Mấy con cá thửng, mẹ kho mặn, đặt vào cái gióng rồi treo tít vào cái ngoắc tận trên rui mái nhà nhằm đề phòng mấy con mèo đói. Miếng thịt lợn mẹ cắt lấy mỡ, cất vào bồ muối đặt ở góc bếp để ra Giêng xào rau, còn chừng 5 lạng thịt nạc thì kho lên để ăn Tết. Nhà ít người nên mẹ tôi không gói bánh tét mà gửi gạo nhờ ông ngoại hoặc cậu tôi gói giúp. Vài cái bánh tét treo trong nhà là thấy Tết, không khí Tết ngập tràn.

Sáng mồng Một Tết, mẹ tôi lọ mọ chuẩn bị cau, cam để đi mừng tuổi. Người Công giáo chúng tôi không làm mâm cỗ cúng tổ tiên trong các ngày Tết nên không phải chuẩn bị gì. Các sản vật cau, cam mẹ tôi bỏ vào cái túi cước. Mẹ đi trước, tôi và đứa em theo sau. Chúng tôi đến nhà ông bà, các bác, o, dì, cậu, mự… để mừng tuổi. Tục ở quê tôi là người vai vế thấp hơn trong quan hệ anh em, họ hàng thì mới mang lễ vật đến người có vai vế cao hơn để mừng tuổi và thường mang theo quà là ít quả cau hoặc một vài quả cam. Hồi ấy, người già và kể cả nhiều người trẻ cũng ăn trầu nên cau rất quý.

Đến nhà ai, mẹ tôi cũng lễ phép nói: “Hôm nay mồng Một Tết, mẹ con nhà con có quả cau/ cam đến mừng tuổi…”. Năm tôi lên 6 tuổi, mẹ tôi “ủy quyền” cho tôi làm “trưởng đoàn”. Cái câu chúc Tết ngắn gọn ấy tôi đã thuộc nên nói rất tự nhiên, được mọi người có mặt tán thưởng, rất vui.

Mồng Hai Tết, chúng tôi đến nhà những người bà con ở xã khác. Gần thì đi bộ, xa thì đi xe đạp. Người ở làng tôi ít khi lấy chồng, lấy vợ ở xã khác nên chúng tôi ít anh em, họ hàng ở xa. Đi mừng tuổi sướng nhất là được người lớn mừng tuổi lại bằng tiền. Dù chỉ là tờ tiền lẻ không mấy giá trị nhưng với đám trẻ chúng tôi, đó là một thành quả. Vui nhất là được mừng tiền xu để mang ra đánh đáo. Làng tôi có thằng Kỳ, bằng tuổi tôi, đánh đáo cực giỏi, kiểu gì nó cũng thắng. Nó rất mẹo, thi thoảng cũng giả vờ thua để giữ chân bạn chơi. Tết là dịp “làm ăn” của nó, hết Tết nó mang một bọc đồng xu ra đếm, chúng tôi ngồi quanh nhìn cứ thèm nhỏ dãi.

Tục mừng tuổi ở quê tôi vẫn giữ cho đến ngày nay. Sáng mồng Một Tết, sau thánh lễ cầu bình an cho năm mới ở nhà thờ, con cháu các gia đình kéo đến nhà để mừng tuổi bố mẹ, tổ chức ăn uống. Sau đó, mọi người tỏa đi mừng tuổi anh em, họ hàng, hàng xóm láng giềng. Trẻ con thì mang theo hộp bánh, người lớn không mang quà, chỉ mang theo tiền để mừng tuổi, giúp đỡ những người già, những người bị bệnh tật, nghèo khó. Ngày Tết, đường làng nhộn nhịp người đi chúc Tết, mừng tuổi, nhà nào cũng vang tiếng cười nói râm ran, rất vui.

Sáng mồng Hai Tết, mọi người đến nhà thờ đọc kinh, dự thánh lễ cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Đây là thánh lễ được duy trì từ hàng trăm năm qua của Hội thánh Công giáo Việt Nam để tưởng nhớ tổ tiên thay cho hình thức cúng tế bằng mâm cỗ. Sau thánh lễ là lễ mừng thọ những người cao tuổi, được tổ chức ngay tại nhà thờ. Con cháu mang hoa lên tặng, chúc mừng ông bà, cha mẹ rồi chụp ảnh lưu niệm, đăng Facebook. Hết lễ, mọi người lại về nhà tiếp tục đi mừng tuổi, thăm hỏi nhau, chơi thể thao, trò chơi dân gian do giáo họ tổ chức.

Mồng Ba Tết là thánh lễ thánh hóa công việc làm ăn. Mọi người đến nhà thờ, dự lễ, cầu nguyện cho một năm mới làm ăn phát đạt, thuận buồm xuôi gió. Đây cũng là ngày cuối cùng của Tết, vì hôm sau, nhiều người đã lục tục ra đồng, trở lại các công việc hằng ngày.

Ở quê tôi, lương giáo sống chung trong làng. Hàng chục năm qua, kể từ khi tôi lớn lên, đã thấy lương giáo sống hòa hợp, rất đoàn kết. Khi giáo họ xây lại ngôi nhà thờ, bà con lương dân tự nguyện đóng góp rất nhiều ngày công lao động. Ngày giỗ, rằm, bà con lương dân cũng mời người Công giáo đến dự. Lễ Giáng sinh, lễ Chầu lượt, người Công giáo mời bà con lương dân đến nhà ăn uống, chung vui. Tết cũng đi đến nhà mừng tuổi, thăm hỏi nhau, rất nghĩa tình.

Dòng họ tôi có hai chi, xuất phát là hai anh em ruột. Khoảng đầu thế kỷ XIX, người em ở lại quê nhà, con cháu đều theo đạo Công giáo còn người anh di cư lên huyện Đô Lương sinh sống, không theo đạo. Con cháu của hai anh em không hề biết nhau cho đến khoảng cuối năm 60 của thế kỷ trước, vào một ngày giáp tết Nguyên đán, con cháu hai nơi vô tình gặp nhau khi cùng đến sửa sang mộ tổ. Kể từ đó, chi em, chi anh thường xuyên liên lạc, qua lại thăm hỏi nhau.

Những năm đầu 80 của thế kỷ trước, khi tôi là đứa trẻ 4-5 tuổi, vào ngày mồng 4 tết Nguyên đán hằng năm, tôi được cha tôi chở bằng xe đạp cùng với nhiều người trong chi vượt gần 20 cây số đến nhà thờ dòng họ ở Đô Lương thăm, chúc Tết các bác chi trưởng. Thời đói kém ấy, có xôi, có thịt gà để ăn là điều mơ ước. Tiếp chúng tôi, các bác phải làm thịt thêm gà, hông nồi xôi riêng vì lúc đó chúng tôi không được ăn những thức ăn đã đem cúng tế. Theo giáo lý Công giáo, người Công giáo không ăn đồ cúng vì việc ăn đồ cúng là một hành vi thể hiện sự tôn kính đối với các thần linh, điều này trái với giáo lý của Giáo hội Công giáo khi chỉ tôn thờ duy nhất Thiên Chúa. Cách hiểu ăn đồ cúng sau đó đã được thay đổi nên bây giờ, việc người Công giáo dự tiệc ngày giỗ, rằm đã trở nên bình thường. Khoảng cách lương – giáo trong phong tục này cũng không còn ranh giới khi nó được xác định thờ cúng tổ tiên là phong tục tưởng nhớ chứ không phải hình thức mê tín. Ngày nay, nhiều gia đình người Công giáo vẫn lập bàn thờ để thờ ông bà, cha mẹ và điều đó là được phép. Những ngày Tết, không làm mâm cỗ cúng tế nhưng trên bàn thờ tổ tiên của người Công giáo vẫn hương khói, bày biện hoa quả thể hiện lòng kính nhớ.

Những giáo sĩ, tu sĩ đến nước ta truyền giáo là những người mang văn hóa phương Tây. Nhiều phong tục trong thực hành văn hóa của nước ta ban đầu bị hiểu nhầm là hành vi mê tín dị đoan, tuy nhiên, thời gian đã minh chứng đó chỉ là phong tục. Ngày nay, người Công giáo sống hòa nhập trong nền văn hóa của dân tộc, việc ăn tết Nguyên đán dù có một số nghi lễ khác nhau về hình thức nhưng đều giống nhau về nội dung, đó là hướng về nguồn cội và sum họp gia đình.

Khánh Hoan