Tết Bính Tuất 1946 đến với người Việt trong một tâm thế hiếm có: Hân hoan vì lần đầu đón xuân dưới mái nhà nước mới – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và phấp phỏng vì sau cành đào đầu ngõ vẫn là cái đói, cái rét, là khói lửa chiến tranh chưa kịp tan. Ở tâm điểm mùa xuân ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh – bằng thơ chúc Tết, bằng những bước chân thăm dân đêm ba mươi – biến điều bình dị thành lời nhắc nhở: Chính quyền kiến quốc trước hết phải gần dân, lo cho dân, và tự đặt mình dưới kỷ luật đạo đức.
Tết độc lập đầu tiên: Niềm vui và trách nhiệm
Mồng Một Bính Tuất rơi vào ngày 2/2/1946. Báo chí đầu xuân gọi đó là cái Tết “đầu tiên của nền dân chủ – cộng hòa”. Không khí “đầu tiên” hiện rõ trong ngôn ngữ thời cuộc: Chữ “dân” xuất hiện dày đặc. Dân đi bầu, dân học chữ, dân được kêu gọi tương trợ, tiết kiệm, nhường cơm sẻ áo. Cả xã hội tự nhắc nhau rằng mùa xuân này không chỉ của mỗi gia đình, mà của một quốc gia vừa khai sinh.
Chỉ gần một tháng trước, ngày 6/1/1946, cả nước vừa trải qua cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, bầu ra Quốc hội lập hiến. Hàng triệu lá phiếu lần đầu được bỏ công khai đã nâng người Việt từ thân phận thần dân lên vị thế công dân. Lá phiếu ấy không chỉ chọn người đại diện, mà còn xác quyết quyền làm chủ: Từ nay, “Tết này mới thật Tết dân ta” – Tết của một cộng đồng biết tự định đoạt vận mệnh.
Sự hiện diện của nhà nước mới không chỉ là trụ sở hay văn bản. Nó hiện ra trong câu chuyện thường ngày: Những tấm áp phích kêu gọi bầu cử còn chưa kịp bóc, và tin về sắc lệnh phát hành giấy bạc Việt Nam ban hành ngay trước Tết (31/1/1946). “Tết có tiền Việt” thành câu luận bàn bên ấm trà. Tờ bạc mới, ngoài chức năng giao dịch, còn là dấu hiệu chủ quyền của quốc gia non trẻ đang tập đứng bằng đôi chân tài chính của mình. Trong sự thiếu thốn, một tờ giấy bạc mới cũng mang theo niềm tin đất nước đang cố gắng tổ chức lại đời sống, ổn định lại trật tự, để người dân có thể yên tâm làm ăn.
Nhưng Tết 1946 không phải bức tranh chỉ có màu đỏ đào, vàng mai. Đằng sau mâm cỗ giản dị là nỗi lo cơm áo của một xã hội vừa đi qua nạn đói. Trên cánh đồng Bắc Bộ, lúa mới chưa kịp xanh; gạo cứu đói, nồi cháo sẻ chia vẫn là chuyện ngày thường. Cùng lúc, súng còn nổ ở miền Nam, quân Tưởng còn hiện diện ở miền Bắc. Niềm vui vẫn chưa trọn vẹn, đón Xuân vẫn phải trong tư thế bước vào một năm nhiều thử thách.
Những ngày cận Tết, chợ Hà Nội nhộn nhịp trở lại nhưng mâm cỗ vẫn đơn sơ. Lá dong, đỗ xanh, thịt lợn khan hiếm phải chia nhau từng chút. Trên một vài con phố, băng rôn “Mừng Quốc hội”, “Mừng Dân chủ – Cộng hòa” treo cạnh tranh Tết, nhắc người ta rằng đời sống riêng đã có một “bối cảnh” chung. Báo xuân kịp ra với thơ chúc Tết, ảnh đồng bào đi bầu, ảnh lớp bình dân học vụ. Những hình ảnh ấy làm cái Tết đầu tiên vừa cũ vừa mới, vừa riêng tư vừa công cộng, vừa lễ tiết vừa chính sự.

Trong những gia đình lao động, nồi bánh chưng có thể nhỏ hơn nhưng khoảnh khắc giao thừa lại trang trọng hơn. Người mẹ dặn con đầu năm nói điều lành, giữ ấm. Người cha sau chén trà đầu xuân đọc to câu thơ như lời nhắc việc nước: “Kiến quốc mau thành công/Kháng chiến mau thắng lợi”. Bên bếp lửa, câu chuyện đầu năm không chỉ là chuyện làm ăn, mà còn là chuyện lá phiếu, chuyện lớp học, chuyện người lính đang giữ đất giữ làng. Tết – trong nhiều mái nhà, trở thành dịp để người ta hiểu rõ hơn rằng mình đang sống trong một thời đại mới.
Nhà nước “đi cùng dân ăn Tết” – Lãnh đạo bằng biểu tượng văn hóa
Giữa tiếng pháo, tiếng chợ, tiếng chúc tụng, tiếng nói của nhà nước mới vang lên không phải bằng diễn văn dài, mà bằng những biểu tượng văn hóa gần gũi. Thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo đầu xuân mạch lạc, giản dị: “Muôn nhà chào đón xuân Dân chủ/Cả nước vui chung phúc Cộng hòa”. Hai câu thơ gợi một cách “ăn Tết” mới: Vui xuân nhưng hướng về cộng đồng quốc gia, mừng tuổi nhưng cũng mừng nền cộng hòa non trẻ. Khi lời chúc gắn với “Dân chủ” và “Cộng hòa”, Tết được kéo gần hơn với ý thức công dân, vui không tách khỏi việc nước, sum họp không tách khỏi trách nhiệm.
Đêm ba mươi, Hà Nội sáng đèn. Người đứng đầu nhà nước rời Bắc Bộ phủ, xuống phố thăm dân. Câu chuyện “Bác đi thăm vài gia đình nghèo” sống lâu trong ký ức bởi sự bình dị: Hỏi thăm bữa Tết, dặn trẻ nhỏ giữ ấm, nhắc người già giữ sức. Những cử chỉ nhỏ như tắt đèn trước khi ra, khép cửa sau khi vào nói thay nhiều lời kêu gọi về cần kiệm, liêm chính. Trong khoảnh khắc giao thừa, hình ảnh vị Chủ tịch hòa vào dòng người đi lễ cũng là một cách “lãnh đạo bằng nếp sống”: Làm gương trước khi yêu cầu.
Cùng thời điểm ấy, Chính phủ ban hành các quy định về ngày nghỉ Tết, về các ngày lễ kỷ niệm và tôn giáo. Điều tưởng chừng thuần hành chính lại mang ý nghĩa văn hóa, nhà nước trẻ không phủ định truyền thống, mà định danh và bảo trợ nó trong khuôn khổ pháp lý mới. Việc định danh ấy cũng giúp xã hội có nhịp chung để nhớ, để mừng, để hứa. Cái mới của nền cộng hòa nhờ vậy không đối lập với cái cũ của phong tục; nó điều chỉnh truyền thống theo hướng tiết kiệm, kỷ luật, văn minh.
Báo chí xuân 1946 phản chiếu sự chuyển động ấy qua những phóng sự “Tết trong vài gia đình Hà Nội”. Đó là căn phòng nhỏ quanh hồ Gươm, gánh hàng rong nơi đầu phố, tiếng cười ở cửa ô. Có nhà chỉ bày vài trái cây, cành đào mảnh; có gia đình mở bản nhạc đón xuân… Trước bàn thờ, cạnh câu đối đỏ là tờ giấy ghi lịch học Bình dân học vụ như một lời hẹn với năm mới. Chính những chi tiết nhỏ ấy cho thấy nhà nước mới đang đi vào đời sống bằng đường văn hóa nhẹ nhàng mà thấm đẫm.
Thông điệp “ăn Tết tiết kiệm, giúp đồng bào thiếu đói” được lan truyền nhất quán. Nhiều nơi vận động “Tết không rượu chè linh đình”, “đầu xuân đi học, đi làm”. Các Ủy ban cứu đói, lớp Bình dân học vụ không nghỉ hẳn. Tinh thần ấy đặt văn hóa vào vị trí nền tảng đạo đức của kiến quốc; Bộ máy đang gây dựng sẽ khó vận hành nếu thiếu kỷ luật mềm của nếp sống mới. Tết, theo cách đó, trở thành dịp tập dượt cho một xã hội biết tự kiềm chế để cùng vượt khó.
Tết trong gọng kìm thử thách: Bàn chân vững trên đường kiến quốc
Tết 1946, vì thế, vừa là lễ tiết, vừa là phép thử. Miền Bắc còn quân Tưởng; miền Nam còn khói lửa; tài chính eo hẹp; nạn mù chữ dằng dặc; hậu quả nạn đói chưa kịp nguôi… Trong khoảng hơn một tháng quanh Tết, nhà nước mới phải cùng lúc xử lý nhiều việc trọng đại: Củng cố chính danh sau Tổng tuyển cử, thiết kế thể chế, phát hành tiền tệ, ổn định đời sống, và mở những cánh cửa ngoại giao để tháo thế gọng kìm.

Lá phiếu 6/1/1946 bầu “sự tin” cho thể chế mới. Mùa xuân sau đó là mùa của dự thảo hiến pháp, lập ủy ban. Trong trật tự ấy, mọi quyết sách đều cần được giải thích và thuyết phục, bởi nền dân chủ non trẻ sống bằng sự đồng thuận của dân. Việc phát hành giấy bạc Việt Nam cũng vậy. Đó là lời khẳng định quốc gia muốn đứng vững phải có công cụ kinh tế của riêng mình, đồng thời là lời kêu gọi người dân cùng chia sẻ khó khăn chung.
Ngay sau Tết là những động tác ngoại giao nhằm kéo giãn thời gian, giảm áp lực vũ trang, tạo điều kiện củng cố nội trị. Những thỏa thuận trong Hiệp định Sơ bộ Pháp – Việt (6/3/1946) có thể chưa làm yên lòng tất cả nhưng là một “cái cầu tạm” để dân tộc vượt qua suối dữ. Nhìn từ Tết, đó là sự nối dài của nguyên tắc “vui xuân không quên việc nước”, linh hoạt để giữ điều cốt lõi, bình tĩnh để giữ thế chủ động.
Tết cũng là bài kiểm tra thực tế về năng lực quản trị. Chợ búa, giá cả, an ninh trật tự, vệ sinh công cộng, phòng cháy khi đốt pháo là nơi người dân nhìn thấy nhà nước “làm việc” rõ nhất. Nhiều địa phương tổ chức “Tết cho người nghèo” bằng nguồn vận động trong dân và phần ngân sách ít. Đó là dấu hiệu của một chính quyền biết dựa vào sức dân. Khi người dân thấy sự công bằng và sự chăm lo cụ thể, niềm tin vào thể chế mới sẽ được bồi đắp.
Mồng hai, mồng ba Tết, phố phường vẫn đông, nhưng đã có người quay lại công sở sớm để làm việc. Các lớp Bình dân học vụ “khai bút” đầu xuân. Nhịp điệu của xã hội mới bắt đầu định hình từ những điều nhỏ như thế. Tết qua đi, guồng việc nước lại chạy, nhưng không xóa đi ý nghĩa của những ngày đoàn tụ; nó biến đoàn tụ thành sức bền.
Ở bình diện tinh thần, Tết 1946 tạo ra những biểu tượng mới. Những câu chúc “Dân chủ – Cộng hòa muôn năm”, “Kiến quốc – Kháng chiến” bước vào lời nói đầu năm; tranh Tết in thêm hình lá phiếu, lá cờ; báo xuân kể chuyện lớp học chữ, chuyện người lính ở Nam Bộ. Yêu Tết, trong mùa xuân ấy, cũng là yêu nước bằng việc làm cụ thể từ học chữ, tiết kiệm đến thương người.
Trở lại với đêm ba mươi Tết Hà Nội. Ngọn đèn dầu trong các ngách phố, mùi khói bếp quyện gió hồ, vài tràng pháo nổ nơi đầu ngõ. Một người mẹ già rút phong bao nhỏ mừng tuổi cháu, dặn “năm mới học chữ cho giỏi”. Ngoài phố, mấy thanh niên gỡ dàn đèn của “ngày bầu cử” ghép thành cổng chào “mừng xuân dân chủ”. Những chi tiết không lớn, nhưng cộng lại thành chân dung một mùa xuân mới – mùa của một quốc gia trẻ, vừa học làm chủ vận mệnh, vừa học giữ gìn điều thân thuộc nhất.
Tết 1946 vì thế là phép thử đầu tiên, là bài học quý của nền dân chủ – cộng hòa Việt Nam. Ở đó, nhà nước hiểu rằng quyền lực công phải dựng bằng đạo đức và văn hóa, không chỉ bằng mệnh lệnh; người dân hiểu rằng mâm cỗ đầu năm khó trọn vẹn nếu thiếu chữ nghĩa, thiếu kỷ luật, thiếu nhường nhịn. Tám mươi năm sau, khi bày mâm ngũ quả và thắp nén nhang đêm giao thừa, ta vẫn có thể nhận ra bóng dáng Tết 1946: Vui để vững lòng, sum họp để thêm sức, nhớ cội nguồn để đi tiếp trên con đường dựng xây đất nước.
Vĩnh Khánh














