26.1 C
Vinh
Thứ Hai, Tháng Bảy 15, 2024

Suy nghĩ về việc tiếp thu triết học phương Tây ở Việt Nam     

1. Ở Việt Nam, về tư tưởng và triết học vài thập niên qua, tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất chắc chắn là Trần Đức Thảo. Nhắc, và ca tụng. Một ca tụng đầy huyền thoại. Các bài viết chủ yếu nhấn về giai thoại quanh nhân vật này. Cả bài viết mới đăng của Thái Vũ, cũng hệt. Ông coi “Trần Đức Thảo – nhà triết học lỗi lạc của Việt Nam và thế giới (…) đã có một cuộc tranh luận sôi nổi về triết học Mác với Jean-Paul Sartre – nhà triết học hiện sinh, cũng là nhà văn Pháp nổi tiếng”.

   Vụ “tranh luận” không ít người cho rằng triết gia mang dòng máu Việt đã “thắng”, chứ nó diễn ra ở diễn đàn nào, cụ thể nội dung ra sao thì chưa thấy văn bản nào ghi cả(1). Riêng danh vị được gán cho ông là “nhà triết học lỗi lạc của Việt Nam và thế giới” thì hơi quá. Bởi chính nhà văn này trong bài viết, đã dẫn ý kiến Daniel J. Herman: “Trần Đức Thảo, nhà Mác-xít và nhà hiện tượng học đặc sắc”(2). Khác xa!

2. Về Trần Đức Thảo, trên Talawas ngày 3-3-2007, Thái Vũ có “Những chuyến lữ hành của triết gia Trần Đức Thảo” cũng tập trung về phần đời. Đặng Phùng Quân chuyên sâu hơn qua hai kì “Đọc lại Trần Đức Thảo” (Talawas, 24-4-2004) cho rằng, “do hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh, ông đã trở thành người lạc hậu trong sinh hoạt tư tưởng sau này”.

Triết gia Trần Đức Thảo. Ảnh: Tư liệu

 

Bùi Văn Nam Sơn cũng có cái nhìn tương tự: “Không ai dám phủ nhận chất lượng triết học của bản thân Trần Đức Thảo, nhưng đáng tiếc, có thể nói Trần Đức Thảo là tù nhân của bản thân”(3). Chỗ khác, anh cụ thể hơn: “… nếu hiển nhiên Trần Đức Thảo chưa phải là người xây dựng trường phái thì “chắc chắn ông có tầm vóc ít nhất ngang bằng với các triết gia bản lề giữa chủ nghĩa Marx và hiện tượng học như György Lukács, Maurice Merleau-Ponty, Lucien Goldmann, Enzo Paci, Ludwig Landgrebe, Eugen Fink…”(4)

Alexandre Feron trong một bài viết công phu về triết gia Việt Nam, càng cụ thể hơn nữa: “Trong lãnh vực triết học, thất bại chủ yếu nằm ở chỗ sinh thời ông không có người đối thoại (do đó mà các nghiên cứu thường lặp đi lặp lại) và ở chỗ hầu như công trình của ông không được đọc và nghiên cứu”(5)

Đúng sai, hay dở hậu xét, đáng chú ý, cả ba là các cây bút trong nghề uy tín.

Một công trình hoàn chỉnh về chính triết học Trần Đức Thảo, để người Việt Nam và thế giới nhận diện rõ hơn tư tưởng ông, là điều ta đang thiếu, thiếu lớn(6). Độc giả Việt Nam cần là cần điều đó, chứ không phải những giai thoại.

3. Về việc phổ cập triết học Tây phương cho độc giả Việt Nam, trước 1954 tình trạng còn đìu hiu. Nếu thời ấy, những người yêu mến triết học tìm đọc trực tiếp những gì mình yêu thích bằng tiếng Pháp, thì sau đó – ở miền Nam, tình hình đã rất khác. Các trào lưu triết học với không ít triết gia được giới thiệu: Socrates, Descartes, Kant, Bergson, Sopenhauer, Heidegger, Nietszche, Sartre … nhiều tác phẩm triết học căn bản và lớn được chuyển dịch: Zarathoustra đã nói như thế, Hữu thể và Thời gian, Chủ nghĩa hiện sinh là một nhân bản thuyết,… qua những tên tuổi quen thuộc: Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Trần Công Tiến, Thụ Nhân… Tựu trung tất cả hãy còn tản mác, thiếu tập trung, dù từ năm cuối trung học, học sinh miền Nam đã được tiếp cận triết học Tây phương qua một chương trình khá căn bản.

Trong khi đó ở miền Bắc, chủ đạo và bao trùm vẫn là triết học Mác-Lênin. Phần còn lại đều bị đẩy về phía triết học duy tâm đáng bị phê phán. Tình trạng kéo dài qua hơn thập kỉ sau khi đất nước thống nhất, để phải đến thời Đổi mới, các tác phẩm triết học Tây phương qua bản Việt ngữ mới rón rén xuất hiện trở lại. Dù lác đác, nhưng có còn hơn không.

Cho đến khi xuất hiện “hiện tượng” Bùi Văn Nam Sơn vào đầu thế kỉ XXI.

4. Bùi Văn Nam Sơn là “một người uyên bác, biết thành thạo nhiều thứ tiếng: Hy Lạp, Đức, Anh, Pháp, Hoa; một bộ óc khổng lồ về tri thức triết học.” – như Chungta.com cho biết. Học triết học ở Đại học Văn khoa Sài Gòn, sau đó sang Đức học tại một đại học lớn với các triết gia hàng đầu. Về nước, anh dịch, chú giải, hoặc giới thiệu, hiệu đính các tác phẩm triết học và khoa học xã hội. Có thể kể: Phê phán lý tính thuần túy (2004), Phê phán năng lực phán đoán, Phê phán lý tính thực hành (2007) của I. Kant, Hiện tượng học Tinh thần (2006), Khoa học Lôgíc (2008) của G.W.F. Hegel, vân vân. Đây là các tác phẩm triết học nền tảng quan trọng, được làm rất công phu bởi bàn tay của một dịch giả và là người hiểu biết triết học bậc thầy, điều mà trước đây hiếm có tác giả ở Việt Nam làm được.

Sách “Hành trình của Trần Đức Thảo”, NXB Đại học Sư phạm

Năm 2016, Bùi Văn Nam Sơn cho ra mắt: Chat với John Locke, Chat với Hannah và Ý niệm hiện tượng học (E. Husserl). Rồi hàng loạt ấn phẩm Trò chuyện triết học do nhà xuất bản Tri thức và Công ty Sách Thời đại ấn hành. “Chat” là tán gẫu, là “tán” về triết học. Ngoài giảng đường, trên vỉa hè, trong cuộc lai rai, hay bất kì đâu có thể. Để bàn về triết học. Không thực tế và độc đáo sao?

Chưa tác giả Việt nào viết về triết học vừa sâu, vừa đơn giản, dễ hiểu và hấp dẫn thế. Lê Tôn Nghiêm hay Trần Đức Thảo thì hàn lâm quá; Phạm Công Thiện tài hoa, lôi cuốn nhưng đọc rồi… ít ai hiểu ông nói gì! Còn Bùi Giáng thì ôi thôi, chỉ có kẻ nhập cuộc chơi với ngôn ngữ ông mới chịu được ông. Bùi Văn Nam Sơn thì khác, hàn lâm rất mực, mà vẫn gần gũi kì lạ. Có đọc hàng trăm thuật ngữ triết học của Heidegger mà anh dịch lại sau bốn thập niên các tác giả khác đã dịch, mới biết anh hàn lâm và kĩ lưỡng cỡ nào.

5. Điều Bùi Văn Nam Sơn quan tâm trước hết là “Khai minh” (Sapere aude! (Latin: “Hãy dám biết!”) – hiểu theo nghĩa của Kant. Đó “là việc con người đi ra khỏi sự không trưởng thành” tự thân, hay do chính mình chuốc lấy. Việt Nam chưa có triết học, chúng ta còn chưa nhận rõ sự thiếu khuyết ấy, và càng không chuẩn bị để vượt qua tình trạng “chưa trưởng thành” kia. Do đó chúng ta cần bắt đầu, ở đây và ngay bây giờ. Và phải biết bắt đầu: Học từ nền tảng, không đi đường vòng, càng không nóng vội đi tắt đón đầu.

Trong buổi trao đổi với Nguyễn Hữu Liêm – Giáo sư Triết học tại San Jose City College, California, người đã in vài tác phẩm triết học, trong đó có tác phẩm khá đồ sộ: Thời tính, hữu thể và ý chí – Một luận đề Siêu hình học(7), tôi hỏi:

– Nếu dạy triết học ở đại học Việt Nam, anh bắt đầu từ đâu?

– Từ tư duy phản biện (critical thinking)! – anh nói.

Câu hỏi đặt ra, là: Khi chúng ta còn chưa có hiểu biết căn bản, thì làm sao ta có ngón nào đó để mà phản biện? Cần phải học là vậy. Tuy nhiên đại học chúng ta đến hôm nay vẫn chưa chuẩn bị cho sinh viên kiến thức triết học cơ bản đó. Làm gì? Và làm thế nào?

Bùi Văn Nam Sơn đã khá rành mạch:

“Ngày nay, triết học không còn là đặc sản của những “thiên tài” cô độc hay của những triết gia chuyên nghiệp. Triết học sẽ dần dần trở thành món ăn tinh thần quen thuộc cho mọi người (tất nhiên người ta vẫn có thể sống mà không cần triết học cũng như có thể hô hấp và tiêu hóa mà không cần biết đến môn sinh lý học!). Nó gắn liền với sự phát triển của khoa học và với lối sống hiện đại, tức với lối sống có suy nghĩ và có cái nhìn toàn diện. Lý thuyết khoa học là sự trừu tượng cấp một; triết học là sự trừu tượng cấp hai, thế thôi. Càng có năng lực tư duy trừu tượng, càng dễ tự định hướng trong mớ bòng bong của cuộc đời muôn mặt”.

Tôi cho đó là một hiện tượng hiếm trong cuộc chữ nghĩa Việt Nam hôm nay.

  Với nhà nghiên cứu triết học họ Bùi, triết học không đâu xa mà ở ngay cạnh mỗi người chúng ta; triết học không [được quyền cho phép mình] đứng cao hay thấp hơn con người.

__________

(1) “Sự kiện Trần Đức Thảo kết thúc cuộc tranh luận với nhà hiện sinh Jean-Paul Sartre trên thế thắng đã đi vào huyền thoại trong nhiều thế hệ trí thức Việt Nam.”, Tiền phong Chủ nhật, 8-4-2006.

(2) “Giữa đám sinh linh, thầy trở thành ảo ảnh”, hồi ức của nhà văn Thái Vũ về Giáo sư Trần Đức Thảo, Vanviet.info, 4-7-2019.

(3) Bùi văn Nam Sơn. “Cuộc đời vui quá không buồn được”, Cát Khuê, Đại học Sư phạm Hà Nội, 4.4.2013.

(4) Theo Sài Gòn tiếp thị, Chungta.com đăng lại, 18-11-2010

(5) Alexandre Feron, “Trần Đức Thảo là ai ? Cuộc đời và sự nghiệp một triết gia Việt Nam”, bản dịch của Nguyễn Ngọc Giao https://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/tran-duc-thao-la-ai-cuoc-doi-va-su-nghiep-mot-triet-gia-viet-nam

(6) Ngay cả cuốn sách công phu: Trần Đức Thảo, Di cảo, khảo luận, ký niệm dày gần 1.700 trang do Nguyễn Trung Kiên thực hiện, cũng không đáp ứng yêu cầu.

(7) Giấy Vụn in 2014, sau đó Nxb Đà Nẵng tái bản năm 2018.

Inrasara

(Bài đăng trên Tạp chí Sông Lam, số 10/2021)