Chuyến xe khách lướt nhanh trên quốc lộ 7 đưa tôi rời thành Vinh về miền Tây xứ Nghệ. Nắng tháng Chạp ùa xuống núi ngàn trùng điệp. Những triền núi cao 2 bên đường, muôn ngàn cây to, thân bạc trắng, vươn thẳng, xòe những tán lá vàng ửng nối tiếp nhau, vững chãi và kiêu hãnh.
Tương Dương đây rồi. Xe đừng lại trước cổng Ủy ban xã Lượng Minh. Tôi xuống xe. Gió ngàn lạnh buốt của những ngày cuối đông, phả vào mặt. Tôi chợt nhớ những mùa đông hơn chục năm trước tôi đã từng lên dạy học ở đây. Gió lạnh cũng ngày đêm ào ào tràn qua những rừng săng lẻ này cùng những cơn gió độc khác làm cho Lượng Minh xơ xác tiêu điều. Với diện tích 228,8 km2 chủ yếu là núi non hiểm trở, ở vị trí giáp huyện Kỳ Sơn, xã Lượng Minh nằm trên đường chuyển ma túy từ Lào về. Những năm 80, 90 của thế kỷ trước, dân số mới hơn 3600 khẩu, sống trên 10 bản, nhưng bản nào cũng có nhiều người nghiện, nhiều người buôn ma túy. Bản Đửa có đến 82 người nghiện. Trưởng bản Xốp Mạt Lô Văn Tuấn từ con nghiện đã trở thành trùm buôn ma túy với số lượng lớn: 120kg thuốc phiện, 150 bánh heroin, cả nhà bị vào tù. Nhà Trần Văn Khoa và Vy Thị Thanh có 10 nhân khẩu thì đến 8 người phải ngồi tù. Ở nhiều bản như bản Xốp Mạt, bản Đửa, bản Minh Phương, bản Lạ, nhiều đàn ông bị nghiện chết, bị tù, chỉ còn ông bà già và phụ nữ, trở thành “bản không chồng.” Làng quê xơ xác, tiêu điều hơn cả lúc bị những cơn bão lớn, bao nhiêu trẻ em không được học hành! Cuộc sống của các em bây giờ ra sao? Con đường trước mắt của các em có chút ánh sáng nào chăng? Vương vấn câu hỏi ấy, nhận lời mời của người bạn đồng hương, thầy giáo Trần Đức Dương, dù đã những ngày giáp tết, tôi quyết định trở lại nơi này.

Ngỡ ngàng trước một ngôi trường 2 tầng khang trang, có cổng lớn nổi bật hàng chữ: Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Trung học cơ sở Lượng Minh. Bên trái là phòng hội đồng, tiếp đó là hai dãy nhà xây dài và rộng, ký túc xá của các em. Tôi bước vào phòng hiệu vụ. Thầy hiệu trưởng đang đi họp ở huyện. Hiệu phó Trần Đức Dương tiếp tôi. Qua trao đổi, tôi được biết trường có 9 lớp với 308 học sinh, số nội trú là 281 em. Tôi hỏi
– Trong số này, con em những người nghiện hoặc bị tù vì ma túy có nhiều không?
Thầy đưa cho tôi bản danh sách học sinh mồ côi cha mẹ:
– Đây là 42 em khó khăn nhất. Phần lớn có cha, hoặc mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ bị nghiện chết hoặc bị tù không nơi nương tựa. Còn lại, số em có hoàn cảnh khó khăn cũng rất nhiều. Toàn xã hiện nay có 1 157 hộ thì 703 hộ nghèo, chiếm 60,8% dân số.
Tôi ngỏ ý muốn gặp một số em. Thầy đưa tôi xuống ký túc xá. Tôi đi vào một số phòng, hỏi chuyện một số em: Kha Thị Khánh Ly ở bản Minh Phương học lớp 7B, bố nghiện chết, mẹ đi tù, ở với anh trai; Vy Thị Thu La lớp 9A, em là Vy Tuấn Anh lớp 7C, người bản Côi, cha đang ở tù, mẹ lấy chồng; Ngân Thị May Ất ở bản Chăm Puông, mồ côi bố, mẹ lấy chồng; Lương Văn Lý, bố mẹ đang ở tù; Vi Thị Hoài Thương ở bản Đửa, bố mất lúc còn nhỏ, mẹ buôn ma túy, bị 17 năm tù mới thụ án được 1 năm…Mỗi em, một hoàn cảnh nhưng đều chịu nhiều mất mát, buồn tủi. Tôi chia sẻ, an ủi các em đôi điều. May Ất nói với tôi : “Cô Vi Thị Kim Tuyến cũng nói với em như vậy.” Các em khác cũng bày tỏ niềm quý mến, tin tưởng các thầy cô giáo của mình. Điều đó thật đáng trân trọng.
Rời phòng các em, tôi đến gặp các thầy cô ở nội trú tại mấy phòng riêng cuối mỗi dãy nhà. Thầy cô ở vậy để tiện việc quản lý, bày vẽ cho các em. Đó là thầy Trần Văn Thuận quê Yên Thành, cô Đặng Thị Nhàn quê Nam Đàn, cô Bùi Thị Hà quê Anh Sơn, cô Nông Thị Chung quê Lượng Minh nhưng chồng ở Nghi Lộc. Các thầy cô để con ở dưới xuôi, lên công tác tại Tương Dương đã hơn chục năm trời.
– Tất cả học sinh ở đây là con em đồng bào Thái và Khơ Mú. Các em quen sống tự nhiên và tự do. Vào nội trú, kinh tế đỡ hơn nhưng phải luyện cho sinh hoạt nề nếp, học tập chăm chỉ là một điều rất khó. Bao năm qua, các thầy cô ở đây đã mất nhiều công sức và tâm huyết mới có được nề nếp như hôm nay.
Thầy Trần Đức Dương nói vậy rồi kể cho tôi rất nhiều câu chuyện cảm động về các thầy cô giáo trường mình chăm sóc học sinh. Tôi nhìn dáng người nhỏ nhắn của cô Nhàn, quê Nam Đàn, nghĩ đến cảnh nửa đêm mưa gió, cô cùng bác bảo vệ, trên một chiếc xe máy, chở em Hắp Hà Viện, qua hơn chục cây số đường rừng, xuống bệnh viện huyện mà lòng đầy mến phục. Cô Hà, người Anh Sơn, con ốm, xin về chăm con 2 ngày vừa mới lên đầy bụi đường, cô đang chuẩn bị lên lớp. Tôi buột miệng: “Các cô vất vả quá.” Cô vui vẻ: “Có vất vả, nhưng thấy các em còn dại dột, hồn nhiên, thương nó lắm mà cố hết sức mình. Ở đây nhớ con, về xuôi với con vài ngày lại thấy nhớ, thấy lo cho các em trên này.” Nhớ hồi nãy ở phòng hội đồng, một cô giáo chân tình nói với tôi: “Em lên lớp xong là về nhà, có bố mẹ, có chồng đỡ đần, chăm 2 con mà vẫn thấy mệt. Các thầy cô ở nội trú, chăm lo hàng trăm em, mỗi em mỗi tính, suốt 24/24 giờ thì thật vất vả.” Tôi đưa ý nghĩ đó nói với mấy người. Cô Nông Thị Chung nói ngay: “Mệt thật. Lắm lúc còn bực nữa. Nhưng các em cực khổ quá, mình phải lo cho chúng thôi. Các em không bỏ học mà ở lại trường là vui lắm rồi.” Đã từng công tác ở vùng núi, tôi hiểu việc vận động học sinh đến lớp là vô cùng cực nhọc. Mỗi năm, khi vào năm học, rồi sau khi nghỉ tết, số học sinh trong mỗi lớp sụt hẳn. UBND xã đã phải thành lập Ban vận động chống học sinh bỏ học do Chủ tịch xã làm trưởng ban. Bao cán bộ các đoàn thế, trưởng bản, các thầy cô, vượt rừng qua suối, đến từng bản nghèo, tìm đủ mọi cách vận động các em trở lại trường. Cuộc sống của các thầy cô giáo ở đây thực sự là những cuộc chiến giành lại kiến thức cho trẻ thơ bản làng. Niềm vui của cô giáo Chung cũng là niềm vui của các thầy cô nơi đây.
Qua các phòng học, thấy nhiều bộ bàn ghế mới đóng quy cách, thầy Dương cho tôi hay: Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư Thương mại Đông Tây ở Hà Nội vừa vào tặng trường 200 bộ bàn ghế này. Cả những miền xa xôi nơi Thăng Long chung tay lo cho việc học của các em vùng rẻo cao này. Tôi hỏi thầy tình hình, chất lượng học sinh mấy năm qua:
– 3 năm nay, hơn 90% học sinh được ở nội trú, có đội ngũ giáo viên vừa nhiệt tình, vừa giàu kinh nghiệm, chất lượng học sinh đã khá hơn trước nhiều, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp vào loại cao của huyện
Nhớ đến những bản nghèo dưới núi cao, tôi nghĩ: nếu không có sự đầu tư của nhà nước, các nhà hảo tâm, con em đồng bào ở đây sẽ sống ra sao?
Thầy Trần Hưng Thái, Hiệu trưởng của trường đã về, vui vẻ mời tôi lên phòng. Thầy Hiệu trưởng trẻ này đã cùng cộng sự đưa 2 trường Trung học cơ sở Tam Thái rồi Trung học cơ sở xã Lượng Minh đạt trường chuẩn quốc gia.
– Đã thành công ở 2 trường, được anh em đồng thuận, địa phương và cả nhiều nơi xúm tay vào chắc Trường sẽ nhanh chóng đạt chuẩn quốc gia nữa.
Tôi bảo, tin thầy sẽ hào hứng nói với tôi về chủ đề này. Thế nhưng, thầy lặng giây lát rồi nói với tôi:
– Đạt chuẩn quốc gia thì quý thật nhưng có ý nghĩa gì khi các em học sinh ở đây học xong Trung học sơ sở lại quay về nương rẫy, gái thì lấy chồng hoặc bị rủ rê vào các ổ tệ nạn xã hội hay bị bán sang nước ngoài, nam thì lấy vợ, sinh con, nghèo đói lại càng đói nghèo. Số còn lại phải đi làm công việc cực nhọc, có khi bỏ mạng tại các mỏ vàng hoặc nghiện ngập, thậm chí thành tội phạm. Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở miền núi cũng không đạt mà mục tiêu củng cố xây dựng lực lượng quốc phòng, giữ vững an ninh cũng khó thực hiện.
– Thế trên đã có chủ trương gì để giải quyết tình trạng này?
– Có chứ. Từ tháng 5-2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển dạy nghề đến năm 2020. Năm 2015, Chính phủ đã có Nghị định về miễn giảm học phí trong hệ thống giáo dục quốc dân và Quyết định chính sách nội trú cho học sinh, sinh viên cao đẳng, trung cấp. Tháng 7-2015, Uỷ ban nhân dân Nghệ An cũng đã phê duyệt kế hoạch “Phân luồng hướng nghiệp dạy nghề học sinh sau Trung học cơ sở và Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh”…
– Khó khăn gì mà đến nay chúng ta vẫn chưa làm được?
Giọng thầy Thái đượm buồn:
– Có hàng trăm lý do không làm được và không làm…
Câu nói dừng lại nửa chừng. Lát sau, thầy nhìn tôi, chậm rãi:
– Gắn bó với Tương Dương đã 18 năm rồi, tôi rất buồn khi thấy học sinh mình ra trường rồi quay lại đói nghèo. Nhiều tháng ngày, tôi trăn trở muốn làm mà không làm nổi, có lúc rơi vào bế tắc…
Thầy dừng lại. Tôi thoáng nghĩ “Có lúc rơi vào bế tắc”, chứ không phải là “tất cả đều bế tắc.” Thầy đã tìm ra cách gì chăng? Tôi nói :
– Và nay, thầy đã tìm ra lời giải cho bài toán đó chưa?
Thầy mỉm cười, mở cặp, đưa cho tôi một tập giấy. Đó là: Nghị quyết về việc ban hành đề án phân luồng học sinh sau tốt nghiệp Trung học cơ sở trên địa bàn xã Lượng Minh giai đoạn 2019- 2024 của Hội đồng nhân dân xã và bản đề án thực hiện của Uỷ ban nhân dân xã Lượng Minh ký ngày 1-1-2019. Tôi đọc nhanh trước những luận cứ rất khoa học rút ra từ thực tiễn của địa phương, những mục tiêu cụ thể và từng bước đi thích hợp. Thế nhưng, tôi cũng hiểu rằng để thực hiện được điều này không dễ dàng gì. Tôi hỏi:
– Thưa thầy, thực hiện đề án này khó khăn nhất là gì?
– Khó khăn nhất là làm sao cho địa phương ủng hộ và toàn thể giáo viên đồng lòng tham gia. Không có được điều này thì không làm nên gì cả.
Thầy dừng lại. Tôi lặng yên chờ đợi.
-Tôi nghĩ điều này từ mấy năm trước nhưng tham mưu không thành. Về đây, tôi sợ nhất là gặp cách nghĩ của những người không đồng lòng, cứ nghĩ mình là giáo viên Trung học sơ sở lo cho các em tốt nghiệp là hoàn thành nhiệm vụ rồi. May sao, khi đưa ra chi bộ, được cả chi bộ ủng hộ. Đưa ra Hội đồng giáo viên, toàn thể anh chị em tán thành. Tôi nghĩ, bao năm dạy ở miền núi, thấu hiểu nỗi khổ cực thiệt thòi của các em, các thầy cô mới có tấm lòng ấy. Tôi cảm ơn các đồng nghiệp của tôi nhiều. May mắn nữa, khi sang trao đổi với Bí thư Đảng ủy Cụt Xuân Ninh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Vi Đình Phúc ủng hộ ngay. Các đồng chí nhanh chóng đưa ra Hội đồng nhân xã. Đề án được nhiệt liệt ủng hộ. Tôi mừng quá. Chúng tôi đã đáp ứng đúng điều mong muốn thiết tha của nhân dân. Tôi hăng hái bắt tay vào thực hiện. Điều quan trọng tiếp theo là phải tìm được nơi tin cậy để đưa các em vào học tập và rèn luyện.
-Và thầy đã tìm được? Tôi tiếp lời hào hứng
– Đúng vậy. Sau nhiều tháng ngày, đi nhiều nơi, tìm hiểu nhiều người, tôi quyết định chọn Trường Cao đẳng nghề số 4 của Bộ Quốc phòng đóng tại thành phố Vinh.
Thầy cho tôi hay, trường rất nhiệt tình ủng hộ thực hiện đề án này. Thượng tá Hà Kiên Cường, Phó Hiệu trưởng cùng các cộng sự lên tận xã Lượng Minh, gặp các lãnh đạo ban ngành ở địa phương, toàn bộ phụ huynh và học sinh, giới thiệu các hoạt động của trường. Mọi người mừng lắm.
Nhìn gương mặt tươi tỉnh của thầy, tôi tin rằng đề án sẽ thành công. Thầy Thái nói :
– Điều đó rất cần nhưng chưa đủ đâu. Bà con các dân tộc ở đây phải biết rõ sự thật thì mới chấp thuận hay không. Chúng tôi đã bàn với Trường Cao đẳng dạy nghề số 4 tổ chức cho học sinh khối 9 cùng phụ huynh đến thăm trường, thấy tận mắt nơi ăn rộng rãi, nơi ở, nơi học tốt, các phòng thực hành các nghề đầy đủ, gặp được các thầy giáo, cô giáo tốt bụng tận tình, gặp các học sinh đã và đang học ở đây vui vẻ, trưởng thành, các cán bộ, phụ huynh mới tin. Dân có tin, mới hành động cùng trường được.
– Và thầy đã thành công?
Thầy Trần Hưng Thái không nói gì, lặng lẽ mở tủ, lấy một cặp hồ sơ. Tôi mở ra một tấm ảnh chụp ngày lễ khai giảng đón học sinh sinh viên vào trường, một danh sách học sinh học nghề tại Trường Cao đẳng nghề số 4 của Bộ Quốc phòng. Tôi nhìn vào danh sách có 31 em. Thầy nói với tôi:
– Trong 31 em đó có 13 nam, 18 nữ, con em dân tộc Thái 14, dân tộc Khơ Mú 17. Có 16 em học nghề may, 6 em học nghề sửa chữa ô tô, 3 em học điều dưỡng, 2 em học nghề hàn, 2 em học vận hành máy xây dựng. Nếu tính theo vùng thì có học sinh của 7 bản, bản Lạ, bản Minh Thành, bản Cà Moong mỗi bản có 5 em, các bản khác từ 1 đến 3 em.
– Đã qua một học kỳ, tình hình học tập của các em ra sao?
– Rất khá anh ạ. Việc học đã đi vào nề nếp, nhiều em đã tiếp thu được, thích học. Chỉ có 1 em bỏ học. Niềm tin của phụ huynh và học sinh được củng cố. Điều quan trọng là học sinh và phụ huynh đã tìm được một hướng đi tốt. Việc học hành ở trường cũng tốt hơn. Anh chị em giáo viên chúng tôi cũng vui vẻ phấn khởi, say sưa với nghề vì thấy việc làm của mình ngày càng sai hoa, trĩu quả, sự vất vả hy sinh của mình càng có ý nghĩa lớn, anh ạ.
Có tiếng xe dừng lại trước cổng trường, ồn áo. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn ra, một chiếc ô tô khách vừa dừng lại. Mấy chục người trẻ trung, quần áo đủ màu sắc, vai mang túi bước xuống, gương mặt thầy Hiệu trưởng Trần Hưng Thái rạng rỡ:
– Các em học sinh học nghề đã về. Trường dưới đó nghỉ tết sớm hơn
Thầy bước tới đón các em. Tôi đi theo. Học sinh ríu rít xúm lại bên thầy.Vừa lúc trống báo hết tiết thứ 3. Học sinh từ các lớp ùa ra. Các em vui mừng gặp lại những người anh, người chị thân thiết. Sân trường với muôn bộ quần áo đủ màu sắc tươi tắn, đầy ắp những tiếng reo, những tiếng cười với bao gương mặt rạng rỡ. Nắng mùa Đông vàng tươi. Sân trường rực rỡ như gấm trên một tấm thổ cẩm lớn. Các thầy giáo cô giáo đứng trước cửa lớp, đứng trong phòng hội đồng nhìn ra, mỉm cười tươi tắn.

Tôi nhìn ra phía cổng trường. Những rừng săng lẻ muôn cây lực lưỡng, thân sáng màu ánh bạc, lá vàng khươm vươn thẳng lên trời xanh kiêu hãnh. Chúng đang mùa thay lá. Tôi cảm nhận rất rõ, mùa Xuân đã về trên miền rẻo cao xứ Nghệ.
Nguyễn Thế Quang
(Bài đăng trên tạp chí Sông Lam, Số 3/ Bộ Mới/ 2020)















