29.5 C
Vinh
Thứ Tư, Tháng Sáu 19, 2024

Phát triển công nghiệp văn hóa, những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Năm 2014, Hội nghị lần thứ Chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 33, trong đó xác định một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm để xây dựng một Việt Nam hùng cường là phải phát triển công nghiệp văn hóa, khai thác tối đa các giá trị, tiềm năng, sự đặc sắc của văn hóa Việt Nam, khuyến khích xuất khẩu văn hóa để góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa Việt Nam ra toàn thế giới. Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu đặt ra là năm 2020, phấn đấu doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 3% GDP, năm 2030 là 7% GDP.

Trải qua 8 năm, đây cũng là thời điểm cần nhìn lại việc thực hiện phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam đã được tiến hành thế nào, đạt được kết quả ra sao, đang có những vấn đề gì đặt ra cần tháo gỡ?

Tạp chí Sông Lam đã có cuộc trò chuyện với PGS,TS Bùi Hoài Sơn – Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa của Quốc hội xoay quanh vấn đề này.

Nhận thức đúng về công nghiệp văn hóa

PV: Thưa PGS, TS Bùi Hoài Sơn, ông đánh giá như thế nào về kết quả việc thực hiện chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam được Chính phủ ban hành từ năm 2016?

PGS, TS Bùi Hoài Sơn: Theo số liệu báo cáo, năm 2019, các ngành công nghiệp văn hóa đã đóng góp vào GDP 3,61%. So với yêu cầu 3% trong chiến lược đề ra, chúng ta đã vượt 0,61% vào thời điểm năm 2018, trước 2 năm so với kế hoạch. Khi chúng ta làm báo cáo năm 2019 thì chỉ có thể lấy số liệu năm 2018 thôi. Các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội, chúng ta cũng thấy có sự chuyển biến rất tích cực, từ nhận thức đến hành động với những sự kiện và việc làm cụ thể. Chẳng hạn như điện ảnh, trong thời gian qua có rất nhiều tác phẩm có doanh thu lớn. Trong lĩnh vực âm nhạc hay là các lĩnh vực khác, đều có sự phát triển sôi động hơn. Cũng phải thấy rằng, mục tiêu mà chúng ta đặt ra đã đạt được sớm hơn so với dự kiến. Đó là những tín hiệu rất đáng khích lệ!

Tuy nhiên cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng: những chỉ tiêu đó đạt được nhưng không hoàn toàn bền vững. Những cột mốc mà chúng ta có được không đảm bảo năm sau sẽ tốt hơn năm trước. Tất nhiên, có nhiều lý do chủ quan và khách quan.

PGS,TS Bùi Hoài Sơn – Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội. Ảnh nguồn: quochoi.vn

PV: Thưa PGS, TS Bùi Hoài Sơn, năm 2018 khi ông đang trên cương vị là Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia, ông có một phát biểu là: “Chúng ta đang tồn tại tất cả các ngành nghệ thuật nhưng lại chưa có các ngành công nghiệp văn hóa đúng nghĩa”. Hiện giờ ông còn giữ ý kiến này hay không?

PGS, TS Bùi Hoài Sơn: Thực ra tôi có thể đính chính như thế này. Chúng ta nói có cũng được mà nói không có cũng được. Bởi lẽ mấy vấn đề sau:

Trong chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 chúng ta định nghĩa các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam có 12 ngành thì cả 12 ngành đó đều tồn tại trong thực tiễn cuộc sống. Chúng ta có điện ảnh, thời trang cũng có, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm cũng có, rồi du lịch, âm nhạc… đều có hết.

Thế nhưng tại sao nhiều nhà khoa học quốc tế khi đến trao đổi với chúng tôi bảo rằng mặc dù có như vậy nhưng khó có thể xem là các ngành công nghiệp văn hóa được. Bởi lẽ các ngành công nghiệp văn hóa thì không chỉ là câu chuyện anh có một ngành gì đó mà ngành đó của anh phải chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp ở đây là anh phải đồng bộ được tất cả các khâu. Từ tài năng sáng tạo đến khai thác vốn văn hóa quốc gia, đến câu chuyện sử dụng công nghệ và kỹ năng kinh doanh để tạo ra sản phẩm và dịch vụ cuối cùng.

Ví dụ trong ngành điện ảnh, điện ảnh đúng là một ngành công nghiệp văn hóa. Luật vừa ban hành cũng nói như vậy. Tuy nhiên, khi phân tích kỹ thì hoàn toàn có thể nói là điện ảnh hiện nay không phải ngành công nghiệp văn hóa vì nó không đồng bộ từ đầu đến cuối. Nhà sản xuất hay đạo diễn chỉ biết làm ra bộ phim thôi. Nếu là công nghiệp điện ảnh thì không chỉ sản xuất ra bộ phim, anh còn biết phải làm thế nào để xây dựng thương hiệu cho bộ phim, làm thế nào để có thể phát triển khán giả cho bộ phim, làm thế nào để từ bộ phim này tạo ra các sản phẩm và dịch vụ khác, làm thế nào để bộ phim này khai thác những vốn văn hóa của đất nước và từ đó tạo ra những sản phẩm phụ khác.

Chúng ta cần có một câu chuyện đồng bộ, khai thác vốn văn hóa để từ đó tỏa sáng những giá trị của dân tộc. Đó là những điều mà chúng ta cần lồng ghép vào các sản phẩm văn hóa nghệ thuật để thực sự biến nó thành công nghiệp văn hóa, thành lợi thế để phát triển văn hóa và phát sinh ra lợi ích kinh tế, rồi lợi ích chính trị – xã hội.

PV: Tôi thấy rất thú vị với một quan điểm của ông rằng: ví dụ trong điện ảnh, một nhà đạo diễn không chỉ cần sản xuất nội dung mà còn phải biết xây dựng thương hiệu cho bộ phim của mình. Tôi nghĩ đấy chính xác là công việc của các nhà làm truyền thông mà nhiều chuyên gia văn hóa cũng đã khẳng định rồi, truyền thông của ta yếu lắm. Vậy phát triển công nghiệp văn hóa phải đi kèm với công nghiệp truyền thông, thưa PGS?

PGS, TS Bùi Hoài Sơn: Tất nhiên là như vậy! Nhưng có một số lưu ý khi làm truyền thông văn hóa. Đó là câu chuyện nhận thức về công nghiệp văn hóa nói chung chưa đúng và chưa đầy đủ.

Ở đây vì công nghiệp văn hóa liên quan đến văn hóa, liên quan đến sản phẩm và dịch vụ văn hóa, nên có hai thái cực mà nếu chúng ta rơi vào một trong hai đều sai cả.

Một thái cực thì cho rằng văn hóa là những gì tinh túy nhất. Nó phải ở một trạng thái là giãn cách so với thị trường. Không nên để những yếu tố của thị trường làm vẩn đục sự tinh tế của văn hóa. Thái cực thứ hai là mọi sản phẩm văn hóa đều là sản phẩm hàng hóa nên bị chi phối hoàn toàn bởi thị trường. Cả hai nhận thức này đều không đúng, mà nó phải nằm ở ranh giới giữa cả hai. Tức là sản phẩm văn hóa vừa có những nét tinh tế, chứa đựng giá trị đạo đức, chân thiện mỹ nhưng đồng thời vẫn phải là sản phẩm hàng hóa nên phải đi theo quy luật cung cầu của xã hội. Chúng ta phải coi các sản phẩm văn hóa là sản phẩm hàng hóa nhưng có logic đặc biệt để ứng xử phù hợp trong nền kinh tế thị trường. Từ đó, chúng ta khai thác được những tiềm năng kinh tế của văn hóa và đưa được những yếu tố văn hóa vào trong kinh tế. Đó chính là sự phát triển văn hóa và phát triển đất nước một cách bền vững từ sự điều tiết của văn hóa.

Phải xuất phát từ nhận thức như thế chúng ta mới làm truyền thông cho công nghiệp văn hóa được. Nếu không thì mọi sự truyền thông sẽ bị lệch sang phía bên này hay lệch sang phía bên kia. Tất cả sẽ gây tai hại cho sự phát triển công nghiệp văn hóa. Đó cũng là một trong những lý do khiến nhiều người vẫn nghi ngại về câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa chưa thực sự thúc đẩy những giá trị quan trọng để đất nước phát triển.

Hoàn thiện thị trường văn hóa

PV: Thưa PGS, khi văn hóa trở thành một sản phẩm hàng hóa chịu tác động của quy luật thị trường thì rõ ràng việc phát triển các doanh nghiệp văn hóa là rất quan trọng. Chúng ta sẽ không thể có công nghiệp văn hóa nghìn tỷ nếu như không có doanh nghiệp văn hóa nghìn tỷ. Tuy nhiên, theo PGS, có những vấn đề gì đang đặt ra trong phát triển các doanh nghiệp văn hóa hiện nay?

PGS, TS Bùi Hoài Sơn: Doanh nghiệp văn hóa là doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực sáng tạo – văn hóa, bản quyền, giải trí…, thuộc khu vực kinh tế – văn hóa vốn đã ra đời ở phương Tây cuối thập niên 60 của thế kỷ XX. Nhưng ở nước ta làm sao để có được doanh nghiệp văn hóa lại là một câu chuyện vô cùng khó khăn, vì nó động chạm đến quá nhiều các yếu tố khác nhau.

Không phải ngẫu nhiên Nghị quyết số 33 của Ban Chấp hành TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng với yêu cầu phát triển bền vững đất nước đề ra nhiệm vụ thứ năm là phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đi đôi với việc hoàn thiện thị trường văn hóa. Bây giờ chúng ta làm sao có được một thị trường văn hóa; cụ thể ở đây là thị trường, các sản phẩm và dịch vụ văn hóa thực sự phát triển, tạo điều kiện cho chúng ta phát triển tốt hơn các ngành công nghiệp văn hóa?

Chúng ta cần có môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh, tạo điều kiện cho sự phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Khi nghiên cứu chúng tôi thấy rằng chúng ta không thiếu các tài năng sáng tạo – yếu tố căn cốt để tạo ra ngành công nghiệp văn hóa. Điều chúng ta thiếu là môi trường, chính sách pháp luật để tạo điều kiện cho các tài năng sáng tạo ra sản phẩm thực sự phù hợp với bối cảnh xã hội, phù hợp với nền kinh tế thị trường. Đó là yếu tố vô cùng quan trọng.

PV: PGS có thể phân tích cụ thể những điểm nghẽn đang đặt ra đối với cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa hiện nay?

PGS, TS Bùi Hoài Sơn: Hiện nay, hệ thống pháp luật của chúng ta cần phải có những cải thiện để tạo điều kiện phát triển công nghiệp văn hóa nói riêng hay là văn hóa nói chung. Không chỉ là quy định trực tiếp đến lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật đâu mà tất cả các luật có liên quan đến văn hóa, nghệ thuật phải có sự đồng bộ theo hướng tạo thuận lợi cho sự phát triển văn hóa, nghệ thuật nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng.

Tôi lấy ví dụ, chúng ta cần phải có những tháo gỡ Luật về thuế để từ đó tạo ra sự quan tâm của toàn xã hội đối với sự phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa giống như kinh nghiệm của các nước trên thế giới. Ở Mỹ hay nhiều nước phát triển khác, các doanh nghiệp chi tiêu cho lĩnh vực văn hóa sẽ được giảm thuế. Từ đây, tạo thuận lợi cho nhiều doanh nghiệp đầu tư, hỗ trợ cho văn hóa, từ đó mà văn hóa cất cánh. Luật về đất đai cũng tương tự như vậy. Chúng ta cần những ưu đãi để có được quỹ đất dành cho các cơ sở phát triển công nghiệp văn hóa.

Chúng ta cũng cần phải thay đổi mô hình giáo dục sáng tạo. Giáo dục sáng tạo phải bắt đầu từ trong nhà trường. Ở đó, các môn nghệ thuật là vô cùng quan trọng chứ không phải là môn phụ để bồi đắp tinh thần sáng tạo, tình yêu đối với văn hóa nghệ thuật. Khi chúng ta yêu nghệ thuật thì chúng ta mới sẵn sàng chi cho nghệ thuật. Khi chúng ta yêu nghệ thuật thì chúng ta mới sáng tạo và từ đó trở thành nghệ sĩ chân chính.

Các kỹ năng về chuyên môn, kỹ năng kinh doanh, truyền thông, xây dựng thương hiệu phải được xem là quan trọng. Một ca sĩ hay họa sĩ, họ không chỉ biết hát hay biết vẽ mà cần phải hiểu các kỹ năng về xây dựng thương hiệu.

Chúng ta cũng phải hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất cho công nghiệp văn hóa. Chúng ta muốn có bộ phim đoạt giải Oscar như là bộ phim “Parasite” (Ký sinh trùng) của Hàn Quốc thì phải có một Liên hoan phim quốc tế tương tự như là Liên hoan Phim quốc tế Busan. Thế thì Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội liệu có thể đảm bảo được vị thế như thế hay không? Hay các bảo tàng của chúng ta cần phát triển để lưu giữ những giá trị văn hóa dân tộc. Ở đó không chỉ giảng dạy lịch sử mà còn để mọi người hiểu rõ hơn về những giá trị văn hóa, từ đó hình thành nên yếu tố đầu vào giúp các tài năng sáng tạo những sản phẩm văn hóa của người Việt Nam, cho người Việt Nam, vì người Việt Nam và sau đó là cho tất cả nhân dân thế giới.

Xuất khẩu văn hóa ra thế giới

PV: Trong chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa còn một vấn đề nữa cũng khá quan trọng là xuất khẩu văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa Việt Nam ra thế giới. PGS đánh giá như thế nào về kết quả, mức độ thực hiện công việc này trong thời gian qua?

PGS, TS Bùi Hoài Sơn: Hiện nay, xuất khẩu văn hóa có thể thấy trong âm nhạc, điện ảnh nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ le lói ở một vài cá nhân mà chưa định hình thành một một nhóm tác giả hay là một một đơn vị nào đó đứng ra để xuất khẩu các các tác phẩm. Tức là từ quan hệ cá nhân, từ một nhóm các nhạc sĩ hoặc là các nghệ sĩ người Việt ở hải ngoại có kết nối với nhạc sĩ trong nước để đặt hàng, sáng tác những tác phẩm biểu diễn ở nước ngoài hoặc một vài tổ chức âm nhạc quốc tế họ đặt hàng trực tiếp. Tất cả chỉ mới manh nha thôi.

PV: Vậy việc xuất khẩu văn hóa cần nhiều hơn sự hỗ trợ từ phía Nhà nước để có thể đi từ sự manh nha đến sự phát triển, thưa PGS?

PGS. TS Bùi Hoài Sơn: Đúng vậy! Đó là sự tổng hợp của nhiều giải pháp với những bước đi đồng bộ. Chúng ta cần phải có sự hỗ trợ cho ngành văn hóa bài bản và quyết liệt hơn nữa. Hiện nay, việc tiêu thụ các sản phẩm văn hóa nước ngoài ở nước ta nhiều đến mức đã tạo nên nguy cơ về một cuộc “xâm lăng văn hóa” hay “nhập siêu văn hóa”. Chúng ta thấy rằng cứ mở tivi buổi tối là tràn lan phim Hàn Quốc, Trung Quốc hay là các bộ phim nước ngoài. Âm nhạc cũng tương tự như vậy. Sẽ ra sao nếu chúng ta chỉ tiêu thụ các sản phẩm văn hóa nước ngoài? Lúc đó, việc tiêu thụ các sản phẩm văn hóa nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến lối sống, hành vi, định hướng giá trị của chúng ta. Mong ước của chúng ta không những là tạo ra một hệ đề kháng mà còn phải vươn ra khẳng định sức mạnh ở bên ngoài biên giới quốc gia.

PV: Xin cảm ơn những chia sẻ của PGS, TS Bùi Hoài Sơn!

Quỳnh Hoa (thực hiện)

VIDEO