26.1 C
Vinh
Thứ Hai, Tháng Bảy 15, 2024

Phan Tường Hy – nhà thơ trào phúng độc đáo của xứ Nghệ

Phan Tường Hy (1938 – 2016) quê Diễn Quảng – Diễn Châu, Nghệ An, phần lớn cuộc đời ông sống và làm việc tại Yên Thành, ông được xem là nhà thơ trào phúng độc đáo của thơ ca Nghệ An đương đại. Với giọng thơ hóm hỉnh, giàu chất trí tuệ, Phan Tường Hy đã phản ánh những tồn tại xã hội thông qua tiếng cười châm biếm đả kích sâu cay. Cười đời, cười người, cười mình… thơ Phan Tường Hy đều ẩn chứa những nỗi niềm về nhân tình thế thái.

Phan Tường Hy - nhà thơ trào phúng độc đáo của xứ Nghệ
Từ trái qua phải, các nhà thơ: Ngô Đức Tiến, Phan Tường Hy, Lê Thái Sơn. Ảnh: Hồ Các.

Sống trong cảnh “hàn nho”, không có tiền để xuất bản, bạn bè đã tập hợp tác phẩm của ông in thành tập Hai ngả đường thơ. Tập thơ thô sơ như chính cuộc đời ông vậy. Người ta vẫn thấy một Phan Tường Hy khiêm tốn, ít nói, đi đâu cũng lầm lũi như một kẻ trốn đời.

Đến nay, ngoài một số bạn viết cùng thời mến mộ, thơ ông vẫn còn ít người biết đến. Nhưng chỉ điểm qua một số bài như “Nhà đôi quan huyện”, “Mồng Ba Tết cháy chăn”, “Con vào đại học” cũng đủ để lịch sử thơ ca xứ Nghệ đương đại điền tên ông với tư cách là một trong những nhà thơ trào phúng hàng đầu.

Tiếng cười tự trào chua xót

Cười mình, Phan Tường Hy cười cái tréo ngoe của số phận, cười những hoàn cảnh dở khóc dở cười, nhưng đằng sau đó ta thấy những vấn đề xã hội, thời cuộc. Nói cách khác, cười mình chỉ là cái cớ, sâu xa vẫn là cười đời, cười người.

Trong bài “Uống rượu một mình” ông thể hiện cái bất mãn với thực tại. Chắc vì phải nghe quá nhiều chuyện thị phi nên ông đã bày tỏ thái độ. Tiếng cười nhẹ nhàng nhưng cũng đủ để người ta hiểu cái dư ba của câu chuyện mà ông phải nghe:

“Bạn thân uống rượu hết rồi
Anh bị dị ứng ngứa người, ngứa vai
May cho tôi chỉ ngứa tai
Thèm rượu lại cứ xuống hoài Cầu Dinh.”

Ngứa người ngứa vai thì có thuốc chữa, ngứa tai thì không và có thể sẽ mãn tính cả đời. Thế nên, ông chỉ uống rượu một mình, nhưng khốn nỗi, các cụ bảo “chè tam rượu tứ”, còn gì tệ hơn phải uống rượu một mình. Thế mới thấy được sự cô độc của ông trong cuộc đời lắm bon chen. Phan Tường Hy buông một câu mà toát lên nỗi bi hài của chính mình:

“Một mình uống rượu với mình
Buồn như ngủ với người tình ngất tai”

Vẫn cái dửng dưng bất cần ấy, vẫn cái ung dung ngạo nghễ ấy, người thơ Phan Tường Hy có chất gàn của một ông già hàn nho xứ Nghệ, ta thấy phảng phất, bàng bạc cái chất Hy Văn – Nguyễn Công Trứ:

“Họ mời nhau đi ăn rằm
Không đi theo họ bác nằm co chân
Rượu trong nhắm với ổi sần
Uống say đỏ mặt chửi quân nịnh phò”

Thế đấy, Phan Tường Hy nghèo nhưng không hèn. Ông vẫn mang dáng dấp của một tao nhân ngay cả khi buồn bực với đời:

“Ngoài thềm bác vẫn nằm co
Không ăn rằm, bác uống no trăng rằm
Họ đạu bụng chạy rì rầm
Bác không ngủ cứ cười thầm với trăng”.
(Ăn rằm)

Cười mình, mà không hẳn là cười mình, có chăng là cười cái hoàn cảnh của mình. Với một gia đình lao động nghèo như ông hay hàng vạn gia đình nông dân khác, việc con đậu đại học vừa vui lại vừa buồn. Niềm vui chưa bén nỗi buồn đã ập đến lấn lướt. “Thi ba trường đậu ba trường” nhưng đó cũng là nguồn cơn những thổn thức của cha, mẹ: “Thức cùng cha cái điếu cày/ Chỗ mẹ nằm sợi khói cay quây quần”. Kể về cảnh nghèo, Phan Tường Hy vẫn cười, nhưng lần này thì tiếng cười kém vui, thay vào đó là nỗi chua chát của những người lao động:

“Cái tặc lưỡi sắc như dao
Con vào đại học, trâu vào chợ Sy”
(Con vào đại học)

Tiếng cười tự trào Phan Tường Hy đạt đến độ thâm thúy thượng thừa trong bài “Mồng Ba Tết cháy chăn”. Chỉ qua một tình huống “cháy chăn”, cái tình huống hy hữu vốn chẳng liên quan gì đến đời, đến người, thế mà Phan Tường Hy vẫn có những liên tưởng thật bất ngờ thú vị. Qua bài thơ, ta thấy được cảnh phong trần của người thơ, cái xót xa của cảnh nghèo. Và trên hết là cái mẫn tiệp của một người lúc nào cũng suy tư logic từ những thứ tưởng như phi logic.

Đầu tiên chỉ là một tiền đề: “Tết vui cho cả mọi người” nhưng trong tiền đề đã hé lộ sự gì đó: “Tết tôi ngắn bằng nụ cười gượng thôi”. Đi vào hoàn cảnh, thấy cảnh sống nhà thơ cũng không đến nỗi, cũng “Mứt cuối tết, rượu đầu năm/ Gói thập cẩm, chai 65 chẳng thừa”. Rồi cái phong trần xen lẫn cốt cách tự tại như thường lệ vẫn toát ra qua phong thái đón Tết hơi khác người của ông: “Quên đời một giấc ngủ trưa/ Thuốc đang cháy dở cũng đưa vào màn”.

Trong cái trớ trêu, trong hoàn cảnh gấp gáp, ông vẫn nhận ra một điều gì đó bất thường:

“Thuốc cháy phổi, rượu cháy gan
Phổi gan không cháy, cháy lan ra ngoài”

Đáng lẽ phải cháy phổi, cháy gan như lâu nay ông vẫn cháy, trớ trêu thay, lần này cháy ra ngoài. Từ đó, cái nghèo, cái phong trần lộ diện:

“Cháy gối mỏng, cháy chiếu dày
Tấm chăn nhác giặt lâu ngày khét hơn”

Trong cơn bĩ cực, nhà thơ đùa với chính mình hay đùa với người đời? Không. Ông đang rất nghiêm túc. Chưa bao giờ tiếng cười Phan Tường Hy lại nghiêm túc đến thế bởi những câu cảm thán, câu hỏi:

“Đi tưới ruộng suốt một đời
Mới hay nước tưới cả người lao đao
Cháy chăn thì tưới nước ao
Nghèo cháy túi tưới nước nào nước ơi!”

Tiếng cười tự trào trong thơ Phan Tường Hy nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng không kém phần sâu sắc. Ẩn sau nụ cười là nỗi niềm xót xa nhưng Phan Tường Hy không bao giờ bi lụy. Ông vẫn hướng tới những gì tốt đẹp cho mình, cho đời như lời khuyên ông dành cho con: “Chạy nuôi con cha quản gì/ Chỉ mong vượt trước bước đi trâu cày (…) Yên lòng học giỏi con ơi/ Mực trên trang sách/ Mồ hôi trên đồng” (Con vào đại học).

Tiếng cười “có ớt cay”

Chủ đề thứ hai trong thơ trào phúng Phan Tường Hy là tiếng cười phê phán những vấn đề, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Nhận xét về thơ trào Phúng Phan Tường Hy, nhà thơ Huy Huyền nhận định: “Giọng cười trong thơ anh có chất uy mua, chất hóm. Không quay quắt độc địa nhưng cũng không kém phần sâu cay. Lưỡi anh có ớt?”

Quả thật lưỡi Phan Tường Hy có ớt, nhất là đối với những kẻ tha hóa. Phan Tường Hy cười những gì xấu xa đang diễn ra trước mắt ông, bên cạnh ông, nên đọc thơ Phan Tường Hy ta thấy cuộc sống sinh động đang diễn ra hằng ngày, có tính thời sự.

Phan Tường Hy xót xa trước cuộc gặp giữa một anh thương binh và bạn, một chủ thầu khoán thành đạt mà vô tình. Người đổ xương máu lại thiệt thòi, kẻ có tiền, có quyền lực đã trở thành một đẳng cấp khác. Ông không trực tiếp bày tỏ thái độ, chỉ miêu tả, cách quan sát của Phan Tường Hy thật tinh tường:

“Cũng là đồng học đồng hương
Chủ thầu khoán phó dân thường gặp nhau
Con béc – dê sủa rất lâu
Bạn bước xuống lầu đón khách vào trong
Cái ghế bành ngồi bập bồng
Cái ghế cũng béo như ông chủ nhà”

Số phận éo le, bức tranh phân hóa giàu nghèo có sự tương phản khủng khiếp qua những hoàn cảnh đối lập: anh thương binh với đôi nạng gỗ ngại lún những hàng gạch hoa, những người bạn lính thiệt thòi vì chiến tranh – người bạn, ông chủ thầu béo tốt ngồi ghế bành cười vang. Phan Tường Hy mượn tiếng cười để khỏa lấp nỗi xót xa đó:

“Những thằng bạn cũ học chung năm nào
Đứa bỏ xác trận Nam Lào
Đứa cụt cẳng trận đánh vào Cồn Tiên
Đứa bom ép tỉnh thành điên
Thay đài khí tượng báo tin động trời
Hò – dô – ta pháo lên đồi
Tô – dô – ta mới có người ghế sang.”

Và lần này thì Phan Tường Hy cười trong nước mắt thật. Không phải ông ghen tức với người thành công mà ông xót xa cho những người đã hy sinh tuổi trẻ cho đất nước. Cái họ nhận được là đôi nạng gỗ và cái vỗ vai cùng tiếng cười vô tình của bạn. Người bạn thản nhiên coi đó là số phận, họ số hưởng, còn những người lính kia thì số phận hẩm hiu. Phan Tường Hy chua chát:

“Vỗ vai khách bạn cười vang
Ăn nhau cái số bạn vàng tôi ơi
Số rơi xuống chén rượu mời
Rượu thành nước mắt của người hy sinh
Nạng không chống nổi số mình.”
(Anh thương binh thăm bạn cũ)

Các quan lố lăng, trơ trẽn cũng là đối tượng trong tiếng cười đả kích của Phan Tường Hy. Ông không cười một người mà cười một loại người. Đó không còn là một hiện tượng mà có nguy cơ phổ biến:

“Cúp đỏ chở gái một con
Thủ trưởng chở lính, xinh giòn cả đôi.”

Cái sự bồ bịch không chỉ ảnh hưởng đến luân thường, đạo lý, hạnh phúc gia đình mà còn ảnh hưởng đến xã hội. Những cặp bồ bịch trong tình trường cũng là những thủ phạm gây thất thoát ngân sách nhà nước, ngân quỹ cơ quan: “Khi quyết toán, lúc duyệt chi/ Kêu “em” cũng đúng, gọi “dì” không sai” (Chả và nem); “Mắt bồ liếc, chữ ký xiêu” (Nhà đôi quan huyện).

“Nhà đôi quan huyện” là tiếng cười đả kích những ông quan trơ trẽn, xem thường dư luận và pháp luật. Giọng thơ Phan Tường Hy tửng tưng như chính cái sự dửng dưng của ông quan huyện nọ:

“Ông huyện mập, bà huyện đô
Gối còn ít máu cặp bồ cho vui”

Họ ngang nhiên thể hiện mối quan hệ bất chính của mình. Ông bà quan huyện cặp bồ cùng xây một kiểu nhà, sát kề nhau thật lố lăng:

“Hai nhà như đúc một khuôn
Giống nhau đến cả cái chuồng lợn con
Cũng đầu ngõ quả cầu tròn
Cũng khu bịn hở một hòn gạch xây
Giếng ông đứng xối bên này
Chậu bà ngồi giặt cũng bày bên kia”

Phan Tường Hy dẫn dụ độc giả vào những chi tiết buồn cười như: cái chuồng lợn con; quả cầu tròn; bịn hở; giếng ông; chậu bà… tất cả như những trò trẻ con, trò hề để thiên hạ cười. Nhưng ông bà quan huyện đâu có quan tâm. Cái hình ảnh “đạp dư luận” vào lúc “cuồng si” ấy lại đi với những từ tượng hình “cẳng ông co cứng kém chi chân bà” không biết Phan Tường Hy muốn diễn tả điều gì!?

“Đạp dư luận lúc cuồng si
Cẳng ông co cứng kém chi chân bà
Bồ thóc dân giấu trong nhà
Sao bồ quan huyện giăng ra ngoài đồng.”
(Nhà đôi quan huyện)

Tồi tệ hơn, một số là những kẻ máu lạnh chỉ chực “ăn” cả những lúc thiên tai: “Kênh chính vỡ một đoạn to/ Người trong xí nghiệp ai lo ai mừng”. Hỏi thế, nhưng Phan Tường Hy thừa biết ai lo, ai mừng. Cấp bách là thế, nhưng họ vẫn “dọc”, “ngang” chè chén:

“Chủ thầu thì nhảy tưng tưng
Trước thềm giám đốc một rừng xe sang
Người ngồi dọc, chai dựng ngang
Cốc bia trào bọt chủ hàng cười duyên.”

Phan Tường Hy chỉ hạ một câu thôi, cả đám đã ngang hàng nhau, cái thâm nho của ông là đây:

“Trên nuôi dưới, dưới nuôi trên
Lặng im đàn chó ngoài thềm gặm xương.”

Không gian “mưa xối xả, màn đêm buông” khép lại bài thơ trong nỗi xót xa tuyệt vọng. Mưa lũ vẫn xối xả, còn họ bán mua trao đổi những gì chỉ có trời mới biết: “Kín như tờ bạc căng vuông phong bì”.

Rồi thì cái cảnh “kiểm thảo thủ trưởng” trông thật hài hước. Bề ngoài rùm beng nào là “Toe toe xe sở còi dài”, nào là “Dạ dạ điện thoại trưa mai bộ vào”. Còn hậu trường thì rôm rả “Dưới sân tiếng vịt kêu đau”. Sợi dây kinh nghiệm càng rút càng dài Phan Tường Hy nói đã từ lâu: “Trong phen đấu đá thanh trừng/ Thủ trưởng tôi hóa dây thừng kéo co”.

Phan Tường Hy nhìn trong cõi nhân gian lắm chuyện tréo ngoe. Từ chuyện sếp mới sắp xếp lại nhân sự lạm quyền đẩy người ta đi; từ chuyện o bán cửa hàng thực phẩm “sướng giữa hàng tranh với cướp” đến chuyện “trật cái chấp hành thành trật khớp”… đều gây cười, tiếng cười chua chát của thời lắm sự nhố nhăng.

Thơ Phan Tường Hy tạo tiếng cười từ lối tư duy bất ngờ, đang nói chuyện này ông chơi chữ mà liên tưởng đến chuyện kia mà thật có duyên: bồ thóc – bồ quan huyện; hò dô ta – Tô dô ta; cháy phổi, cháy gan – cháy nhà – cháy túi; ăn rằm – trăng rằm; ngứa người, ngứa vai – ngứa tai… Mặt khác Phan Tường Hy khai thác triệt để lối tiểu đối trong thơ Đường luật để làm nổi bật những cảnh huống éo le: “Con vào đại học, trâu vào chợ Sy”; “Thuốc cháy phổi, rượu cháy gan”; “Ông huyện mập, bà huyện đô”…

Thơ trào phúng Phan Tường Hy giàu tính chất tự sự, mỗi bài thơ là một câu chuyện, ông như người kể chuyện quan sát bằng cặp mắt ranh mãnh, thi thoảng háy mắt để rồi dù có xót xa người đọc vẫn không thể nhịn được cười. Tiếng cười giễu nhại trong thơ Phan Tường Hy như gàu nước lạnh vừa thức tỉnh nhân sinh vừa làm sạch những thói hư tật xấu, những hiện tượng tiêu cực của người đời.

Trần Hữu Vinh – Thanh An