Sau năm 1975, nền văn học Việt Nam bước vào một thời kỳ mới, từ không khí hậu chiến đến công cuộc đổi mới, từ hội nhập quốc tế đến kỷ nguyên số. Trong tiến trình đó, lý luận, phê bình văn học giữ vai trò quan trọng, có giá trị định hướng thẩm mỹ và tạo không gian đối thoại học thuật. Diện mạo lý luận, phê bình văn học Việt Nam sau 1975 là hành trình đi từ minh họa đến đối thoại, từ đơn tuyến đến đa thanh, từ khuôn mẫu đến sáng tạo.
Lý luận, phê bình văn học nằm trọn trong quỹ đạo hiện thực xã hội chủ nghĩa từ 1975 đến 1986
Có thể chia lý luận, phê bình văn học Việt Nam sau năm 1975 qua bốn giai đoạn: 1975 – 1986, 1986 – 2000, 2000 – 2010 và từ 2010 đến nay.
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, văn học bước vào một thời kỳ mới, vừa phải phản ánh công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa cổ vũ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong không khí đó, lý luận, phê bình văn học được xác định giữ vai trò công cụ tư tưởng. Những định hướng văn nghệ trong các nghị quyết của Đảng đều nhấn mạnh nhiệm vụ của văn học nghệ thuật là phục vụ chính trị, phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước.
Vì vậy trong thập niên đầu tiên sau năm 1975, văn học Việt Nam vẫn theo quán tính cũ, chịu sự chi phối mạnh mẽ của ý thức hệ. Lý luận, phê bình văn học gắn bó mật thiết với nhiệm vụ chính trị, tư tưởng, nhấn mạnh tính giai cấp và tính chiến đấu của văn học nghệ thuật. Nhiều công trình nghiên cứu ra đời nhằm củng cố và minh họa cho khuynh hướng sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, xem đây như là phương pháp sáng tác chính thống.
Một số công trình lý luận, phê bình tiêu biểu có thể kể đến như Hà Minh Đức có công trình “C. Mác, Ph. Anghen, V.L. Lênin và một số vấn đề lý luận văn học” (1982). Đỗ Xuân Hà có công trình “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay” (1987) tuy ra đời sau năm 1986, nhưng về cơ bản vẫn là những quan niệm mang tính tổng kết, nối tiếp. Tương tự như vậy, Phương Lựu có công trình xuất bản năm 1986 “Nhìn lại nửa thế kỉ lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (1936 – 1986)” cũng mang tính tổng kết, đánh giá.
Việc giới thiệu lý luận, phê bình văn học nước ngoài, chủ yếu là Nga – Xô viết cũng được chú trọng. Có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành và báo như: “Cách mạng Tháng Mười và sự phát triển của lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa” của Lê Sơn (Tạp chí Văn học số 5/1977); “Một số tư liệu mới về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” của Hoàng Xuân Nhị (Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật số 4/1978); loạt bài viết “Lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trên thế giới hiện nay” của Nguyễn Đức Nam và Đỗ Xuân Hà (Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật số 2/1980, số 4/1980, số 5/1981, số 3/1982),…
Các diễn đàn lý luận, phê bình chính lúc này là Tạp chí Văn học, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Văn nghệ…, Đó là những nơi xuất hiện nhiều bài phê bình mang tính giới thiệu, khẳng định, cổ vũ sáng tác mới. Các ý kiến trái chiều hiếm khi được công bố. Tranh luận học thuật công khai ít diễn ra, thay vào đó là sự đồng thanh, đồng tình khẳng định giá trị của lối sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Đổi mới và mở cửa tư duy lý luận, phê bình trong giai đoạn 1986 – 2000
Sau Đại hội VI của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 2/11/1987. Nghị quyết nêu rõ: “Văn hóa là một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa, là một động lực mạnh mẽ, đồng thời là một mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Công cuộc đổi mới từ năm 1986 mở ra một thời kỳ dân chủ hóa đời sống tinh thần, khuyến khích tự do tư tưởng và khát vọng cách tân, phá vỡ nhiều khuôn mẫu cũ.
Văn học xuất hiện nhiều tác phẩm gây chấn động như “Thời xa vắng” của Lê Lựu, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Bến không chồng” của Dương Hướng… Những tác phẩm này đặt ra các vấn đề mới như bi kịch con người thời hậu chiến, sự thật chiến tranh, sự tha hóa của đời sống nông thôn… Lý luận, phê bình văn học buộc phải thay đổi cách tiếp cận cho phù hợp với tình hình mới của văn học. Các nhà nghiên cứu bắt đầu vận dụng lý thuyết mới để lý giải các hiện tượng văn học. Nhà văn Nguyễn Minh Châu có bài tiểu luận đình đám “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” năm 1987, nhưng có mầm mống từ trước, cho thấy sự khủng hoảng trong mô hình lý luận, phê bình cũ.

Một số tác giả như Trần Đình Sử bắt đầu dịch thuật, giới thiệu tư tưởng thi pháp học, đặt nền móng cho công trình “Thi pháp Truyện Kiều” (1989), mở đường cho việc nghiên cứu văn học bằng phương pháp thi pháp học, nhấn mạnh các yếu tố kết cấu, ngôn ngữ, hình tượng thay vì chỉ coi trọng nội dung tư tưởng. Sau đó Trần Đình Sử tiếp tục với “Mấy vấn đề thi pháp học hiện đại” (1993), “Dẫn luận thi pháp học” (1998), khẳng định hướng tiếp cận khoa học văn bản trên bình diện nghệ thuật như một cuộc cách mạng phương pháp luận.
Nguyễn Đăng Mạnh với các công trình như “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn” (1994) và “Một thời đại mới trong văn học” (1996), đi theo hướng phê bình văn học sử và phong cách học, trong đó ông nhấn mạnh cá tính sáng tạo và tư duy nghệ thuật riêng của từng nhà văn, xem mỗi nhà văn như một chủ thể sáng tạo độc đáo.
Lại Nguyên Ân lại đi sâu vào khai thác trên khía cạnh văn bản học, tư liệu học, với nhiều công trình sưu tầm, chú giải, tạo nền móng cho nghiên cứu văn học sử hiện đại. Các công trình của ông về báo chí, tư liệu, lý thuyết văn học như “150 thuật ngữ văn học” (1999) góp phần xây dựng nền tảng khoa học cho nghiên cứu văn học. Việc dịch thuật và giới thiệu các lý thuyết nghiên cứu của Nga và phương Tây được đẩy mạnh. Nhiều bản dịch quan trọng xuất hiện trong thập niên 1990, như các tác phẩm của Mikhail Bakhtin về thi pháp tiểu thuyết, Roland Barthes về cấu trúc luận và hậu cấu trúc, Ferdinand de Saussure về ngôn ngữ học hiện đại… Nhờ đó, các khái niệm như “liên văn bản”, “đa thanh”, “cái chết của tác giả”… bắt đầu được giới nghiên cứu nhắc tới, dù còn ở mức sơ khai.
Đây cũng là giai đoạn sôi nổi của các cuộc tranh luận văn học như tranh luận về Nguyễn Huy Thiệp. Với các truyện ngắn như “Tướng về hưu” (1987), “Chảy đi sông ơi” (1988), “Không có vua” (1989) và nhiều tác phẩm khác, Nguyễn Huy Thiệp gây chấn động đời sống văn học thời đó. Ông phơi bày mặt trái của đời sống, đặt ra những vấn đề gai góc về đạo đức, lịch sử, nhân cách con người. Giới phê bình thời kỳ này chia rẽ mạnh, một bên kịch liệt phê phán, cho rằng Nguyễn Huy Thiệp “xuyên tạc hiện thực”, “bôi nhọ lịch sử”; bên khác ca ngợi ông là “người mở đường tinh anh”, khơi dậy tư duy phản biện.
Các cuộc tranh luận trên báo Văn nghệ cuối thập niên 1980 đã trở thành một hiện tượng học thuật, lần đầu tiên thể hiện không khí dân chủ trong phê bình sau nhiều năm “đồng thanh, đồng tình”. Tranh luận về “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh thì một bên cho rằng tác phẩm bôi đen hiện thực, bên khác khẳng định đây là bước tiến nhân bản của văn học. “Nỗi buồn chiến tranh” (1990), xuất bản lần đầu với tên gọi “Thân phận của tình yêu” bị coi là bi quan, u ám, thậm chí từng bị kiểm duyệt. Tuy nhiên, nhiều nhà phê bình trong đó có Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, khẳng định tác phẩm như một bước ngoặt nhân bản, lần đầu tiên chiến tranh được nhìn từ nỗi đau cá nhân, từ ký ức đổ vỡ. Những tranh luận xoay quanh cuốn tiểu thuyết này đã khẳng định sự cần thiết của một đường hướng phê bình đa chiều, không còn áp đặt một chiều.
Như vậy giai đoạn 1986-2000 có thể xem là thời kỳ thức tỉnh của lý luận, phê bình Việt Nam. Từ đây, phê bình văn học thoát khỏi tính minh họa, tiến đến tính khoa học và dân chủ, đặt tiền đề cho sự đa dạng và hội nhập sau năm 2000.

Đa dạng hóa lý thuyết nghiên cứu và khuynh hướng phê bình văn học trong giai đoạn 2000 – 2010
Bước vào thế kỷ XXI, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, phát triển mạnh về truyền thông và mạng Internet. Văn học và lý luận, phê bình cũng chịu tác động từ bối cảnh toàn cầu hóa. Lớp trí thức trẻ có điều kiện tiếp cận các nguồn lý thuyết quốc tế đa dạng hơn; hoạt động dịch thuật được đẩy mạnh; các hội thảo học thuật quốc gia, quốc tế được tổ chức thường xuyên. Trong bối cảnh ấy, lý luận, phê bình văn học ở Việt Nam bước vào một giai đoạn mới, đa dạng hóa lý thuyết, gia tăng tính liên ngành, mở rộng đối tượng nghiên cứu.
Phương Lựu với “Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX” (2001) đã hệ thống hóa nhiều trường phái như cấu trúc luận, ký hiệu học, phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, giải cấu trúc… Công trình này được coi như cẩm nang cho nhiều thế hệ nghiên cứu trẻ. Các khái niệm như “liên văn bản”, “cấu trúc mở”, “hậu hiện đại”, “đa thanh” trở nên quen thuộc trong diễn ngôn phê bình.
Đỗ Lai Thúy nổi bật với công trình “Bút pháp của ham muốn (Phê bình phân tâm học)” (2009), “Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy” (2010),… Ông áp dụng quan điểm của Sigmund Freud, Jacques Lacan… để phân tích Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu… Hướng nghiên cứu này tạo nên nhiều tranh luận, có người khen là đột phá, có người cho là áp đặt lý thuyết ngoại lai.
Nguyễn Văn Dân với công trình “Lý luận văn học so sánh” (2001) khẳng định tính tất yếu của văn học so sánh trong bối cảnh toàn cầu hóa. Văn học được nghiên cứu trong mối quan hệ giao thoa văn hóa, từ đó hình thành xu hướng phê bình liên ngành, kết hợp văn học với văn hóa học, xã hội học, nhân học. Trương Đăng Dung với công trình “Tác phẩm văn học như là quá trình” (2004) nhấn mạnh cái nhìn hệ thống và sự vận động của văn học. Nguyễn Đăng Điệp tập trung đi sâu nghiên cứu hình thức của thơ và một số vấn đề của văn học Việt Nam hiện đại với công trình “Giọng điệu trong thơ trữ tình: qua một số nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới” (2002).

Ứng dụng vào thực tế, nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận và mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss, Wolfgang Iser được giới thiệu, áp dụng vào việc phân tích phản ứng của công chúng với các tác phẩm như “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, “Thiên sứ” của Phạm Thị Hoài… Thậm chí nhiều tác phẩm được phân tích từ nhiều góc độ: nữ quyền, hậu hiện đại, diễn ngôn ký ức. Điều này cho thấy phê bình đã mở rộng biên độ, không còn gói gọn trong mẫu hình chính thống. Nguyễn Ngọc Tư và tác phẩm “Cánh đồng bất tận” (2005) đã tạo nên một cơn sốt tiếp nhận, độc giả say mê, phê bình sôi nổi. Các nhà phê bình áp dụng lý thuyết giới và nữ quyền để phân tích hình tượng người phụ nữ nông thôn Nam Bộ bị tổn thương, bị gạt ra ngoài lề.
Nguyễn Bình Phương và dòng tiểu thuyết tâm linh – huyền ảo cũng rất được quan tâm. Các tiểu thuyết như “Ngồi” (1998, tái bản đầu thập niên 2000), “Trí nhớ suy tàn” (2000), “Thoạt kỳ thủy” (2004)… được phân tích như biểu hiện của xu hướng hậu hiện đại, với đặc trưng mơ hồ, phân mảnh, ngôn ngữ ám gợi. Các nhà phê bình đã áp dụng phân tâm học, ký hiệu học để đọc tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, coi ông như một hiện tượng tìm tòi hình thức thể hiện.
Nguyễn Quang Thiều với tác phẩm “Sự mất ngủ của lửa” (1992, tái bản và tiếp tục ảnh hưởng đầu thập niên 2000) được coi là dấu ấn mở đầu cho thơ hiện đại Việt Nam đương đại. Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh, nhóm Mở Miệng… tạo nên những cú sốc thi ca, được phê bình xem như hiện tượng cách tân táo bạo. Những cuộc tranh luận về thơ trẻ trên báo chí như Văn nghệ Trẻ, Tiền Phong phản ánh sự chuyển đổi giọng điệu, từ sử thi sang cá nhân, từ chính luận sang hiện sinh.
Lý luận, phê bình văn học giai đoạn này chứng kiến sự đa dạng hóa lý thuyết, mở rộng biên độ học thuật. Từ đó tạo ra các công trình nghiên cứu sâu của Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Đăng Điệp… và khơi gợi những cuộc tranh luận mang tính học thuật và xã hội. Tuy vậy, vẫn có hiện tượng “giả lý thuyết”, nhiều công trình chỉ sử dụng lý thuyết như một thứ trang sức học thuật. Thiếu sự hệ thống và tính bản địa nên lý thuyết du nhập vào nhưng chưa gắn kết chặt với thực tiễn văn học Việt Nam. Thiếu công trình tổng kết có tầm cỡ nền tảng và vẫn mang tính phân tán… Nhưng đây là giai đoạn “đa thanh” của phê bình Việt Nam, khi nhiều giọng nói lý thuyết vang lên cùng lúc và tạo tiền đề cho sự bùng nổ và phân hóa sâu hơn của phê bình trong kỷ nguyên số từ năm 2010 đến nay.
Hội nhập quốc tế và lý luận, phê bình trong môi trường số hóa ở giai đoạn từ 2010 đến nay
Thập niên 2010 – 2020 chứng kiến nhiều thay đổi như Việt Nam hội nhập mạnh mẽ vào toàn cầu hóa, mạng Internet và mạng xã hội lan tỏa sâu rộng, đời sống xuất bản thương mại sôi động hơn. Văn học bước vào thị trường mở, độc giả ngày càng đa dạng, còn phê bình phải đối diện với áp lực vừa của học thuật, vừa của công luận.
Đặc biệt, từ sau năm 2010, các diễn đàn trực tuyến, blog văn chương, nhóm phê bình trên Facebook, và gần đây là YouTube, TikTok… đã mở ra không gian phê bình “phi chính thống”, song song với phê bình hàn lâm, học thuật. Điều này tạo ra một công luận văn học mới, nơi độc giả trở thành người tham gia trực tiếp vào định giá văn học.
Xuất hiện những xu hướng lý thuyết mới như nghiên cứu ký ức, hậu thực dân, nhân học văn học, nghiên cứu liên văn hóa… Ví dụ, nhiều nghiên cứu phân tích tiểu thuyết Việt Nam hải ngoại (Linda Lê, Monique Truong, Thuận…) từ góc nhìn hậu thực dân và di dân, nhấn mạnh tính lai ghép, bản sắc di động. Việc tổ chức các hội thảo quốc tế về văn học hải ngoại tại Việt Nam đã tạo cơ hội cho lý luận, phê bình kết nối với nghiên cứu toàn cầu.
Văn học nữ với những tác giả như Nguyễn Ngọc Tư, Y Ban, Lê Minh Hà, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh… tiếp tục được phân tích qua lăng kính nữ quyền. Những năm gần đây, một số nghiên cứu bắt đầu tiếp cận và đặt câu hỏi về giới, bản dạng, tình dục trong văn học trẻ. Các nghiên cứu về văn hóa đọc, thị trường xuất bản, đời sống hậu văn bản cũng phát triển mạnh.
Nhiều nhà phê bình đã tạo dựng được tên tuổi như Phạm Xuân Nguyên trong vai trò một “thủ lĩnh công luận văn học” trên mạng, Inrasara với phê bình văn học Chăm và thơ trẻ; Nguyễn Văn Thuấn với các nghiên cứu liên văn bản, Trần Ngọc Hiếu với những nghiên cứu về lý thuyết trò chơi, hậu hiện đại. Xu hướng liên ngành nổi bật khi phê bình kết hợp với nhân học, nghiên cứu văn hóa. Ví dụ, Inrasara không chỉ phê bình thơ Chăm mà còn đặt nó trong bối cảnh bảo tồn văn hóa tộc người. Nhiều nhà phê bình đang sung sức như Đoàn Ánh Dương, Phùng Ngọc Kiên, Phạm Phương Chi, Hoàng Thụy Anh, Hoàng Đăng Khoa, Nguyễn Hoài Nam, Đỗ Hải Ninh… có nhiều đóng góp cho phê bình văn học trong giai đoạn này, trong khi đó, những nhà nghiên cứu thành danh như Trần Đình Sử, La Khắc Hòa, Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Đăng Điệp… vẫn tiếp tục cho ra mắt những công trình mới.
Các hiện tượng đáng chú ý có tranh luận về “thơ trẻ” trên mạng xã hội, tạo ra nhiều tiếng vang trong công chúng. Tác phẩm “Mình và họ” (2014) của Nguyễn Bình Phương được xem là tiểu thuyết quan trọng của văn học chiến tranh giai đoạn mới, được phân tích từ nhiều góc độ: ký ức, phân tâm học, hậu hiện đại. Đây là tác phẩm được bàn luận nhiều trong hội thảo, báo chí, cho thấy vai trò trung tâm của văn học ký ức. Bên cạnh đó, các tác phẩm “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” (2014) của Trần Mai Hạnh, “Đội gạo lên chùa” (2011) của Nguyễn Xuân Khánh được đọc dưới góc độ văn học ký ức và tự sự hậu chiến, phản ánh sự thay đổi trong diễn ngôn phê bình.
Văn học mạng (tản văn, light novel, webtoon) phát triển, mở ra không gian tiếp nhận mới. Đặc biệt, sự lên ngôi của review (bình luận) sách trên các nền tảng số, tác động đến thị trường xuất bản và hình thành lớp “phê bình phi chuyên nghiệp” nhưng có ảnh hưởng rộng đến độc giả và làm tăng doanh số bán sách. Bên cạnh các công trình khoa học hàn lâm, thì phê bình trên báo chí, blog, mạng xã hội như Facebook, YouTube, TikTok đang tạo nên “công luận văn học” mới, mang tính đại chúng.
Giai đoạn từ 2010 đến nay thật sự là bức tranh “đa trung tâm” của phê bình Việt Nam, vừa hàn lâm, vừa đại chúng; vừa quốc tế hóa, vừa bản địa hóa. Đây là bước chuẩn bị để lý luận, phê bình bước vào kỷ nguyên số sâu hơn, với dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và văn hóa toàn cầu.
Xu hướng và triển vọng của lý luận, phê bình văn học Việt Nam trong thời gian tới
Một trong những đặc điểm nổi bật của lý luận, phê bình văn học Việt Nam sau 2010 là tính liên ngành ngày càng mạnh. Văn học không còn được nghiên cứu như một hệ thống khép kín mà đặt trong mối quan hệ với nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn khác như lịch sử, nhân học, văn hóa học, ký ức học, truyền thông, điện ảnh, nghệ thuật thị giác…
Kỷ nguyên số hóa cũng mở ra những phương thức phê bình mới như: Phê bình văn học số (digital literary criticism), sử dụng dữ liệu lớn (big data), kho văn bản điện tử để phân tích xu hướng sáng tác, ngôn ngữ, mạng lưới liên văn bản. Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể hỗ trợ xử lý văn bản, tìm motif, cấu trúc tự sự, từ đó mở ra phê bình định lượng.
Đội ngũ phê bình trẻ ngày càng đông đảo, xuất hiện trên nhiều nền tảng số. Họ có những ưu thế như thạo ngoại ngữ, tiếp cận lý thuyết quốc tế nhanh, và quen thuộc với môi trường số, thể hiện bản lĩnh riêng, góp phần “trẻ hóa” diễn ngôn. Ngoài ra, phê bình không còn tập trung ở một vài tạp chí hay báo chính thống mà phân tán trên báo chí, mạng xã hội, blog, booktube, booktok. Điều này tạo nên sự “đa cực” cho phê bình Việt Nam là vừa học thuật, vừa công luận đại chúng. So sánh với thế giới, thì đây cũng là xu hướng chung khi phê bình văn học không còn độc quyền của giới học thuật, mà chia sẻ quyền lực với cộng đồng đọc.
Một thách thức lớn của phê bình Việt Nam là làm sao “Việt hóa” lý thuyết quốc tế, tránh tình trạng “giả lý thuyết”. Sau năm 2000, việc tiếp nhận các tác giả như Sigmund Freud, Jacques Derrida, Michel Foucault, Mikhail Bakhtin… chủ yếu mới dừng ở mức độ bản dịch. Thập niên từ 2010 đến nay cần đặt ra yêu cầu kết hợp lý thuyết toàn cầu với đặc thù văn hóa, lịch sử Việt Nam, để xây dựng một “trường phái bản địa”. Ví dụ khi nghiên cứu văn học ký ức chiến tranh, cần kết hợp khung lý thuyết quốc tế của Aleida Assmann, Nora Khan… với trải nghiệm riêng của Việt Nam, một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến dài trong thế kỷ XX. Đây cũng là con đường các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã đi để tạo dấu ấn riêng trong nghiên cứu toàn cầu.
Đáng mừng là Việt Nam đang ngày càng tham gia nhiều hơn vào các diễn đàn quốc tế về văn học và lý luận như các hội thảo quốc tế, xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ, hợp tác nghiên cứu. Nhiều công trình nghiên cứu của tác giả Việt như Trần Đình Sử, Nguyễn Hưng Quốc, Đoàn Cầm Thi, Nguyễn Thị Bình… đã xuất hiện trên báo chí, tạp chí quốc tế. Bên cạnh đó, văn học Việt Nam với những tên tuổi như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Ngọc Tư… ngày càng được dịch ra nhiều ngôn ngữ, kéo theo sự quan tâm của giới nghiên cứu quốc tế.
Do vậy, có thể mạnh dạn khẳng định rằng triển vọng trong 10 – 20 năm tới là sự hình thành một “không gian đối thoại Đông – Tây”, nơi phê bình Việt Nam vừa tiếp nhận, vừa đóng góp vào lý luận toàn cầu.
Hà Thanh Vân















