“Mẹ em sinh em ra khi chưa đầy 10 tháng tuổi thì cùng bố nó đi làm công ty ở Bắc Ninh. Nên từ bé, em sống với ông bà là chính. Mấy tháng mới được gặp mẹ. Có khi cả năm trời. Hàng ngày chỉ thấy mẹ qua điện thoại. Đến Tết về gặp mẹ còn thấy lạ. Cũng thương cháu. Nhưng cuộc sống bây giờ khó khăn. Nương rẫy không còn thì chỉ có đi làm công ty để sống. Con còn nhỏ không mang theo được thì phải để lại cho ông bà chăm thôi”. Đây là lời chia sẻ của một phụ nữ người Thái ở Xá Lượng (huyện Tương Dương) khi đang cõng cháu nội trên lưng dạo chơi. Và đây cũng là câu chuyện của nhiều đứa trẻ ở vùng nông thôn nói chung và vùng miền núi nói riêng, đang lớn lên trên tay những người bà.
Dọc đường đi tìm hiểu về vùng dân tộc thiểu số, tôi được chứng kiến nhiều câu chuyện, nhiều hình ảnh đầy ấn tượng. Dù dành sự chú ý đến nhiều vấn đề trong quá trình khảo sát, nhưng hình ảnh những đứa trẻ người dân tộc thiểu số luôn có sức hút mạnh mẽ đối với tôi. Và có lẽ đối với nhiều người khác cũng vậy. Những đứa trẻ đứng bên đường hồn nhiên giơ tay đón nhận kẹo bánh của du khách trong mùa đông lạnh giá ở cao nguyên Sa Pa, những đứa trẻ ngồi chơi với mẹ trong lúc chờ bố say rượu nằm bên đường sau các phiên chợ ở cao nguyên Bắc Hà, rồi những đứa trẻ tắm bên dòng suối ở miền Tây Nghệ An hay những đứa trẻ chạy nhảy trong sân nhà rong ở Tây Nguyên… Nhưng có lẽ thích nhất vẫn là nhìn những đứa trẻ trên tay những người bà, mở mắt to nhìn những người lạ hay là ngoảnh mặt đi chỗ khác vì e ngại…

Tháng 11/2022, tôi thực hiện một chuyến đi điền dã dài ngày ở Tây Nguyên. Còn nhớ rất rõ, trong chuyến đi đó, tại làng Điện Biên, xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, trong một cuộc khảo sát về cộng đồng người Ba Na bản địa, lại đúng hôm làng tổ chức ngày hội đoàn kết toàn dân ở nhà văn hóa. Không khí thật náo nhiệt. Cả làng mổ một con lợn to để làm lễ, tổ chức cồng chiêng để vui chơi. Mỗi gia đình làm một ché rượu cần mang đến để tham gia góp vui. Trong buổi đó, tôi đã gặp được rất nhiều người phụ nữ bế trẻ em đi tham gia. Đó là những đứa trẻ tầm 1-2 tuổi. Người bế lại không phải là mẹ của các bé mà là những người bà, cả bà nội và bà ngoại. Họ bế ngang nách hoặc địu cháu trước người bằng một tấm khăn choàng qua vai. Khi địu cháu như vậy thì hai tay của họ có thể làm những việc khác, thậm chí khi múa hát, hai bà cháu cũng có thể tham gia vào đoàn múa cồng chiêng một cách vui vẻ.
Hỏi chuyện một phụ nữ tầm khoảng 50 tuổi, người cao lớn, mặc áo đỏ, da ngăm đen nhưng có hàm răng rất trắng, tay đang địu một bé trai kháu khỉnh. Chị cho biết, cháu mới được 15 tháng, là con của vợ chồng đứa con trai. Bố mẹ cháu là công nhân làm ở khu công nghiệp Hòa Khánh, Đà Nẵng nên để cháu lại cho ông bà nội chăm sóc. Bên cạnh chị cũng là một người phụ nữ cùng lứa tuổi đang bế một em bé có làn da ngăm đen và kháu khỉnh không kém. Chị này chia sẻ đây là cháu ngoại mới tròn 17 tháng, con của cô con gái thứ hai của chị. Hai vợ chồng con gái đang đi làm tại một công ty ở Bình Dương nên từ khi cháu chưa đầy một tuổi đã để ở nhà cho ông bà trông, mấy tháng mẹ mới về một lần thăm con. Rồi chị chỉ qua một bé gái khác, tầm 4 tuổi và bảo: “Kia là chị gái của cháu bé này, từ nhỏ cũng sống với ông bà, đã hơn 4 tuổi nhưng thỉnh thoảng mới được gặp bố mẹ”…

Đang trò chuyện thì có một người phụ nữ khác cũng địu một em bé đang cười rất tươi, kéo tay tôi vào bảo: “Lấy vợ có con chưa mà cứ đi hỏi chuyện về em bé thế. Qua đây uống rượu cần cho vui đã”. Với người Ba Na ở đây, khi tổ chức hội làng như thế này, mỗi gia đình đều làm một ché rượu cần mang đến. Cả làng xếp thành hai hàng dài những ché rượu cần. Khách bạn ghé thăm thì phải mời nhau uống rượu. Nhà nào đông bạn bè, rượu hết sớm thì vui lắm. Thế nên khi chủ nhà có lời mời thì khách cũng không thể từ chối. Làm một hơi rượu cần xong thì chị chỉ vào đứa bé vào bảo: “Cháu ngoại đấy, mẹ nó đi làm công nhân ở Đà Nẵng, lấy chồng là người xuôi, nhưng sau khi sinh con được mấy tháng thì ly dị. Bé được hơn 6 tháng chút thì mẹ để lại cho bà ngoại để đi làm tiếp kiếm tiền nuôi con. Giờ bập bẹ tập nói nhưng vẫn chưa mấy khi được mẹ bế”…
Những câu chuyện như vậy tôi cũng gặp nhiều ở vùng dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An. Ngay tại cộng đồng Ơ Đu ở xã Nga My, huyện Tương Dương, nơi tôi đã tiến hành hàng chục cuộc khảo sát trong nhiều năm qua thì những trường hợp cháu lớn lên với bà cũng trở nên phổ biến. Bản Văng Môn – nơi tập trung chủ yếu của người Ơ Đu hiện nay, hầu hết thanh niên đều rời bản đi làm ăn xa. Những cháu bé trong nhà đều lớn lên bằng sự chăm sóc của ông bà nội, ngoại là chính. Như nhà vợ chồng anh Lo Văn Tuấn thì trông hai đứa cháu ngoại cho vợ chồng con gái đang đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản. Vợ chồng anh Lo Văn Hà thì đang trông một cháu nội, một cháu ngoại cho hai người con đang đi làm việc ở Hải Phòng. Nhà ông Lo Văn Cường hay bà Lo Thị Nga cũng trông một hai đứa cháu giúp con cái đang đi làm ăn xa… Gần như trong xóm, hầu hết các gia đình đều có trường hợp bố mẹ đi làm ăn xa gửi con lại cho ông bà chăm sóc.

Khi hỏi chuyện những người mẹ phải để con lại cho ông bà chăm sóc còn mình tha hương để kiếm sống, tôi tình cờ gặp được một cô gái còn trẻ. Cô sinh năm 2002, có bố là người Ơ Đu còn mẹ là người Thái. Năm 2018, khi đang học lớp 11 thì cô phải xin nghỉ học về cưới chồng vì lỡ mang bầu với bạn trai. Hai gia đình đồng ý tổ chức một lễ cưới đơn giản nhưng không đi đăng ký kết hôn được vì cô chưa đủ tuổi. Sau khi sinh con thì cô về ở với bố mẹ đẻ và các em. Thỉnh thoảng chồng cô cũng đón mẹ con cô về nhà nội chơi. Cô cũng về đi làm mùa với gia đình chồng hoặc những dịp có việc cần thiết. Con được gần 2 tuổi thì vợ chồng bỏ nhau, cô để lại con cho bố mẹ đẻ và bắt đầu đi Thái Nguyên làm việc. “Lúc đó con gọi mẹ rõ rồi, và rất bám mẹ, em thương con lắm, không muốn đi xa. Nhưng ở nhà không có việc gì làm thì lấy đâu ra tiền nuôi con. Nên em vẫn để con lại cho bố mẹ và rời đi. Trước khi đi em mượn 6 triệu đồng, đưa cho mẹ 3 triệu để lo cho cháu, còn lại em cầm để trang trải. Nhân tháng lương đầu tiên, em gửi cho mẹ và mua một cái điện thoại mới, gửi về cho mẹ cái điện thoại cũ để hàng đêm gọi video về mới được nhìn thấy con”. Đó là lời tâm sự não lòng của một cô gái mới bước qua tuổi đôi mươi, làm mẹ bất đắc dĩ và phải xa con vì cuộc sống.
Như người Ơ Đu, người Thái, người Khơ Mú, người Mông, người Thổ ở miền núi Nghệ An cũng có tình trạng tương tự. Một số lượng khá lớn những đứa trẻ phải xa bố mẹ lúc còn nhỏ và sống trong sự bao bọc, chăm sóc của ông bà. Tháng 1/2025, ngay trước tết Nguyên đán, tôi có một chuyến đi về xã Xá Lượng, huyện Tương Dương, để trao một số suất quà Tết cho trẻ em mồ côi nơi đây, và cũng là dịp dạo chơi xem đồng bào chuẩn bị đón Tết như thế nào. Khi đi vào bản Khe Ngậu, nơi đồng bào dân tộc Thái sinh sống cũng thấy khá nhiều người phụ nữ tầm 40-50 tuổi đang bế cháu chờ con. Tại một quán tạp hóa nhỏ ở trung tâm bản, có dăm bảy người đang trò chuyện thì có đến ba người phụ nữ đang bế cháu. Họ đều là bà nội, bà ngoại chăm cháu cho con cái đang đi làm ăn xa. Một người phụ nữ trong số đó cho biết: “Thanh niên trong bản đi làm ăn xa cả. Sinh con ra thì để cho ông bà chăm là chính, còn vợ chồng rủ nhau đi làm công ty. Nên trong bản, mỗi khi có họp hành hay lễ lạt gì thì toàn các bà bế cháu đến tham gia”. Hay tại bản Hợp Thành, nơi người Mông sinh sống, tôi được gặp một nhóm 5 đứa trẻ đang vui chơi tại hè nhà ven đường. Có 4 trong 5 bé sống xa mẹ từ nhỏ do bố mẹ đi làm ăn xa, chỉ một bé là con cán bộ bản nên được ở gần mẹ. Nhìn bọn trẻ, già làng Lỳ Xia Chớ bảo: “Vì miếng cơm manh áo cả, bố mẹ đi biền biệt quanh năm, con nhỏ chỉ biết đến ông bà. Nghĩ cũng tội…”.

Những đứa trẻ xa mẹ lúc còn nhỏ, lớn lên trong vòng tay ông bà không chỉ xuất hiện ở miền núi, mà đó là thực trạng phổ biến ở cả vùng nông thôn rộng lớn của nước ta. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc làm ở nông thôn ngày càng hạn chế và lao động tập trung về các đô thị ngày càng đông hơn, thì số lượng những đứa trẻ sống xa bố mẹ cũng ngày càng nhiều hơn. Thậm chí, ngay cả những vợ chồng ở gần con cái thì do bộn bề công việc mà rồi trẻ em vẫn phải nhờ ông bà đưa đón, chăm sóc. Thời gian con tiếp xúc với ông bà còn nhiều hơn bố mẹ. Sự phân công lao động thay đổi, lao động nông nghiệp ngày càng giảm xuống, lao động ở nông thôn thiếu việc làm nên phải đổ về các đô thị. Vùng nông thôn dần trở thành không gian sinh sống chủ yếu của người già và trẻ nhỏ, những đối tượng vốn khó rời khỏi quê nhà.
Những đứa trẻ lớn lên cùng ông bà, vốn là những thế hệ khác xa nhau, thật sự khiến người ta không khỏi lo lắng. Đó là sự thiếu vắng tình thương yêu của mẹ dành cho con, là sự đứt quãng trong giáo dục gia đình, là sự hình thành nhân cách của con trẻ… Giống như cô mẹ trẻ người Ơ Đu tâm sự: “Ở quê, mỗi lần con bé không chịu ăn cơm hay khóc thì bà ngoại lại gọi điện cho nó gặp mẹ. Cứ như vậy mà đến khi ai hỏi mẹ đâu thì nó chỉ vào điện thoại bảo “mẹ ở trong này”. Khi em về nó còn không cho em bế mà cứ đòi “mẹ” trong điện thoại. Những lúc như vậy tự dưng thấy tủi thân quá đỗi và nằm khóc. Em đang cố tính toán xem có việc gì làm kiếm sống gần nhà để được gần con chứ không tình cảm mẹ con sẽ phai nhạt mất bởi lâu nay nó cứ tìm “mẹ” trong điện thoại và giờ thành mê điện thoại, ăn ngủ gì cũng đòi xem điện thoại mới chịu. Nếu cứ như vậy, rồi mai mốt lớn lên không biết con em sẽ ra sao nữa!”.
Trang Tuệ















