Về quê lần này, không hiểu vì sao trong lòng tôi lại trĩu nặng. Nỗi mừng và nỗi lo cứ đan xen khó tả: mừng vì sắp được hòa vào không gian ấm cúng của gia đình – nơi tôi đã sinh ra, lớn lên trong vòng tay yêu thương của cha mẹ; được hít hà thứ hương quê nồng nàn, bình yên mà nơi phố phường náo nhiệt không bao giờ có được. Nhưng xen lẫn niềm vui ấy là nỗi lo lắng khôn nguôi, bởi cha mẹ tôi nay đã ngoài tám mươi tuổi – cái tuổi “thất thập cổ lai hy” đã đi qua từ lâu. Những đứa con làm ăn xa xứ như tôi càng thêm xót xa khi chẳng thể ở bên nâng giấc cha mẹ những lúc trái gió trở trời.
Gần đây, cha tôi tóc đã bạc trắng, làn da sạm đi, dáng đi không còn nhanh nhẹn như trước. Một linh cảm mơ hồ dậy lên trong tôi: hẳn cha đã mang bệnh, chỉ vì sợ con cháu lo lắng nên ông giấu kín mà thôi.
Ký ức về cha lại ùa về. Suốt bốn mươi năm cầm phấn, cha tôi hiếm khi được dạy học gần nhà, nhưng tháng nào ông cũng trở về. Mỗi lần như thế, cả nhà vui như Tết. Đó là dịp để mấy anh em tôi khoe những môn đạt điểm cao, mong được cha thưởng.

Phần thưởng của ông giản dị lắm: những chiếc bút chì, những quyển vở nhám để chúng tôi luyện chữ. Có khi là những bài thơ cha viết về định luật, định lý, hình vẽ giúp con dễ học, dễ nhớ. Phương pháp học ấy được ông đúc kết thành thơ, thật giản dị mà hữu ích. Nhờ vậy, anh em chúng tôi đứa nào cũng học tốt. Tôi luôn tự hào về cha – một người thầy, một người bạn, và hơn hết, một thi sĩ trong đời thường.
Tôi không bao giờ quên hình ảnh người cha gầy gò, đêm đêm bên ngọn đèn dầu mải mê soạn giáo án. Có lẽ với ông, ngọn đèn và ngòi bút là hai người bạn tri kỷ.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mọi ưu tiên đều hướng về tiền tuyến, song hoạt động giáo dục, văn hóa không vì thế mà ngừng lại. “Làm gì, ở đâu, ai cũng là chiến sĩ” – cha tôi cũng là chiến sĩ, nhưng trên mặt trận giáo dục. Khẩu hiệu ông luôn nhắc: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt” trở thành động lực suốt hơn bốn mươi năm đứng lớp. Ông kiên trì vượt qua mưa bom bão đạn, mang con chữ đến những vùng sâu, vùng xa, gieo hạt giống tri thức cho bao thế hệ học trò.
Tôi nhớ những câu thơ ông thường đọc trong câu lạc bộ thơ, nghe mà thấm thía vô cùng:
“Đuổi bắt cái chữ hụt hơi,
Bảng đen phấn bạc, nói lời trắng tay.
Ai dè hồn vẫn cứ say,
Mỗi giờ lên lớp đong đầy mắt em…”
Tôi từng chứng kiến những đêm cha trầm ngâm bên bàn học, nhớ lại quãng thời gian gieo chữ cho trẻ vùng thôn quê. Khi ấy đất nước còn khốn khó, bao đứa trẻ cơm chẳng đủ no, áo chẳng đủ ấm mà vẫn đến trường. Giữa những đêm đông lạnh cắt da, tiếng lập cập từ hàm răng trò nhỏ khiến lòng cha tôi se sắt…
Khi nghỉ hưu, cha tôi vẫn chẳng chịu ngơi tay. Việc đồng áng, việc nhà đều do mẹ tôi cáng đáng. Bà thương ông, lại sợ ông vụng về việc nhà nên để ông được vui sống cùng thơ ca, hội họa.
Bất ngờ một hôm, cha tôi xin mẹ tiền. Khi bà hỏi, ông chỉ nói: “Sáng tạo nghệ thuật, phục vụ nhân dân.” Hóa ra, ông định làm hoa giấy để bán. Suốt mấy tháng liền, căn phòng của ông biến thành một “xưởng hoa” với giấy xanh đỏ tím vàng. Tết cận kề, hoa ông làm rực rỡ, ai đến cũng trầm trồ khen khéo tay. Khuôn mặt ông giãn ra, rạng rỡ niềm vui. Nhưng mẹ tôi thì không yên lòng. Bà lo, giữa cái làng quê nghèo khó này, mấy ai có tiền mua hoa chơi Tết.

Nỗi lo ấy chẳng sai. Suốt cả tuần, cha mang hoa ra chợ bán mà gánh hoa vẫn gần như nguyên. Phiên chợ cuối năm đã vãn, ông thẫn thờ đặt gánh hoa bên mé cầu, rồi lặng lẽ thả từng bó xuống sông. Những bông hoa dập dềnh trôi tạo nên một thảm hoa rực rỡ trên dòng nước lạnh – hoa giấy trôi sông.
Mẹ tôi nhìn thấy, chỉ khẽ thở dài, rồi nhẹ nhàng dọn lại căn phòng như cũ và động viên:
“Người tính không bằng trời tính mà ông. Thôi, vui lên cho con cháu về ăn Tết đỡ buồn.”
Nhờ lời bà, lòng ông cũng dần nguôi ngoai.
Tưởng sau lần thất bại ấy, cha sẽ thôi ý định kiếm tiền. Nào ngờ năm sau, có người biếu ông bức tranh “Mã đáo thành công” rất đẹp. Ông liền nảy ý vẽ tranh ngựa để bán Tết. Ông bảo thằng Kiên – cháu ngoại – ra chợ mua bút màu: “Mi mua cho ông đủ loại, để ông còn vẽ tranh cho kịp bán vào dịp Tết.”
Ông miệt mài vẽ ngày vẽ đêm, đến khi những bức tranh ngựa hoàn thành – đẹp, sống động chẳng kém gì tranh bán ở hiệu sách. Có lẽ ông mơ một cái Tết rủng rỉnh, để tự mình in tập thơ đã ấp ủ bao năm. Nhưng rồi lần này, ông lại thất bại. Ông thở dài, nói với mẹ tôi: “Bà ạ, tôi chỉ muốn tự mình kiếm tiền in tập thơ, không động đến tiền bà, tiền con cháu… Ai ngờ cũng chẳng nên cơm cháo gì. Giờ tôi mới thấm câu bà nói: người tính không bằng trời tính.”
Hơn hai chục năm nghỉ hưu, cha tôi chưa bao giờ sống hoài, sống phí. Ông đem lại niềm vui cho hội người cao tuổi bằng những bài thơ khuyên con dạy cháu, những lời răn dạy làm người. Các huân, huy chương vì sự nghiệp giáo dục mà Đảng và Nhà nước trao tặng chính là minh chứng rõ nhất cho cuộc đời cống hiến của ông.
Không chỉ thế, ông còn là hội viên các câu lạc bộ thơ ở xã, huyện. Ở đâu, ông cũng được bạn bè quý trọng. Những bài thơ của ông đăng trên các tạp chí văn nghệ địa phương và Trung ương trở thành ngọn lửa lan tỏa phong trào sáng tác, góp phần tạo nên một nếp sống đẹp, nhân văn trong cộng đồng.
Tôi nhớ bài thơ “Chiều sông Hương” của ông từng được đăng trên Tạp chí Sông Hương, viết sau một chuyến đi Huế:
“Chiều nghiêng mái quán đơn sơ,
Vắng em, cô quạnh nẻo chờ riêng tôi.
Lơ thơ vài vạt nắng rơi,
Vương lên tán lá chơi vơi sắc vàng.
Dòng sông sương tỏa mơ màng,
Thẫn thờ cô gái đò ngang buông chèo.
Đâu là bóng dáng người yêu,
Hòa trong sắc nước trời chiều Hương Giang…”
Với vài trăm ngàn tiền nhuận bút, ông mở tiệc chiêu đãi bạn bè, người thân. Cả nhà rộn ràng như ngày cưới, tiếng cười nói, chúc tụng vang khắp nhà. Gương mặt ông khi ấy như trẻ lại.
Từ ngày nghỉ hưu cho đến khi ngã bệnh, anh em chúng tôi nhiều lần định đưa ông đi khám, nhưng ông đều từ chối, sợ làm phiền con cháu. Với ông, thước đo của lòng tốt là sự thành đạt, tình yêu thương, đùm bọc trong mỗi gia đình. Mãi sau, chúng tôi mới thuyết phục được ông về tỉnh khám. Không ngờ, đó là lần đầu tiên – và cũng là lần cuối cùng.

Khi bác sĩ báo cha tôi bị ung thư phổi giai đoạn cuối, tôi bàng hoàng, ngực như nghẹn lại. Tôi muốn hét lên hai tiếng: “Cha ơi!” – nhưng nghẹn đắng trong cổ.
Những ngày trong bệnh viện, thay vì để chúng tôi động viên, ông lại an ủi ngược lại:
“Tau có sao đâu mà chúng bay cứ làm to chuyện. Để mẹ bay mất ăn mất ngủ thì khổ.”
Rồi ông lại cười, giọng vẫn ấm áp như chẳng có điều gì xảy ra. Cũng chính lúc ấy, lần đầu tiên ông kể cho chúng tôi nghe chuyện tình của ông bà – như một khúc cổ tích giữa đời thường.
Từ ngày cha đổ bệnh, tôi về thăm thường xuyên hơn. Những liều thuốc giảm đau chỉ giúp ông vơi bớt cơn hành hạ, còn tinh thần thì vẫn lạc quan. Tôi hiểu ngày chia xa chẳng còn xa nữa. Bao bản thảo thơ của ông, tôi đã chép cẩn thận vào sổ tay, coi như báu vật.
Khi ấy, giọng ông đã yếu, nhưng ánh mắt vẫn sáng, vẫn ấm. Hai tay ông ôm tập thơ mà chúng tôi vừa nhận từ nhà xuất bản. Bìa sách in hình những bó hoa giấy lững lờ trôi trên dòng sông, phía xa là những áng mây mang dáng hình đàn ngựa phi nước đại về trời. Phải chăng đó là chú ngựa tiễn ông về cõi trường sinh?
Và chính giây phút ấy, ông khẽ trút hơi thở cuối cùng – nhẹ như chiếc lá cuối thu, rụng về với đất mẹ.
Truyện ký của Đường Hùng













