29.1 C
Vinh
Chủ Nhật, Tháng 4 12, 2026
Trang chủ Làng văn xứ Nghệ Nhà thơ Ngô Đức Tiến, mô phạm, đa đoan và đáo để

Nhà thơ Ngô Đức Tiến, mô phạm, đa đoan và đáo để

Nhà thơ Ngô Đức Tiến sinh năm 1945 tại xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành (cũ), tỉnh Nghệ An. Ông là giáo viên dạy học cấp 2, năm 1969, Ngô Đức Tiến được ngành giáo dục điều động đi B, đến năm 1975 mới trở về công tác tại Ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Tỉnh ủy Nghệ An. Năm 1985 – 2004, ông chuyển về công tác tại Huyện ủy Yên Thành. Ngô Đức Tiến từng là Ủy viên Thường vụ Huyện ủy Yên Thành liên tiếp 3 nhiệm kỳ. 
Trong lĩnh vực văn nghệ, ông nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Nghệ An khóa VIII; Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Yên Thành từ năm 2002 đến 2022.

Nhà thơ Ngô Đức Tiến.

Ngô Đức Tiến đã xuất bản các tập thơ: Giọng Nghệ; Nước mắt gừng. Ông từng 3 lần được tặng thưởng Văn học Nghệ thuật Hồ Xuân Hương và 3 lần được tặng thưởng về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ông cũng được tặng Bằng khen của Ủy ban Toàn quốc các Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho bộ 3 tuyển tập: Thơ Yên Thành, Văn Yên ThànhThơ ca dân gian Yên Thành.

Ngô Đức Tiến làm thơ từ những năm còn học cấp 3. Nhưng có lẽ, sau khi bài thơ “Tản mạn dọc đường 38” xuất hiện trên tuần báo Văn nghệ số Tết Canh Ngọ năm 1990, ông mới thật sự gây được sự chú ý trong giới bạn đọc, bạn viết cả nước, đặc biệt là tại địa phương nơi ông sinh sống.

Nhà thơ Ngô Đức Tiến là người không ngại đụng chạm, dũng cảm hạ bút viết ra những trăn trở, bức xúc của người dân trong việc đấu thầu các dự án xây dựng hồi bấy giờ. Mọi xầm xì, khen chê, bàn tán về bài thơ rồi cũng theo thời gian dần lắng lại. Nhưng cũng nhờ thế mà bạn thơ, bạn đọc mỗi dịp gặp Ngô Đức Tiến lại có cớ để hỏi:
– Từ bấy đến nay, đường 38 có liệt sĩ nào về tái đấu thầu chưa, nhà thơ?

Ngoài đời, cũng như trong công việc thường ngày, Ngô Đức Tiến luôn giữ được phong thái đĩnh đạc, mô phạm, chuẩn mực của một thầy giáo, một nhà tuyên huấn. Nhưng khi đã thả hồn, nhập vía cùng nàng thơ, thì ông cũng không kém phần sắc sảo, phiêu diêu và đáo để.

“Con gái làng Nồi
Tháng ngày Bộng, Vẹo
Đêm đêm miệt mài bên bàn xoay
Nồi đất thì tròn
Mà vồng ngực em bên đầy bên lép.
Bên đầy để cho con
Bên lép để cho chồng
…Ai chưa chồng để thiên hạ nhìn nghiêng”

Không chỉ thạo nghề làm nồi đất – gái làng Nồi còn có tài bếp núc, đặc biệt: “Con gái làng Nồi nấu thịt chó ngon nhất Đông Dương”.

Bước qua tuổi 70, Ngô Đức Tiến ít làm thơ mà chuyển sang “làm sách”. Ngoài việc tập hợp, tuyển chọn, biên soạn, xuất bản cùng lúc 3 tuyển tập sách đồ sộ gồm thơ, văn và chuyện vui dân gian Yên Thành, ông còn tham gia biên soạn, đóng góp bài vở cho 12 đầu sách về lịch sử, trong đó có lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chương và Đảng bộ huyện Yên Thành.

Trừ trái sang phải: nhà thơ Cao Xuân Thưởng, nhà thơ Ngô Đức Tiến, PGS – TS Đinh Trí Dũng.

Khoảng mươi năm nay, Ngô Đức Tiến chuyển về sinh sống cùng con cháu ở thành phố Vinh (cũ). Thỉnh thoảng gặp nhau, tôi vẫn được ông ngỏ lời khen “soái ca thơ Facebook”. Ông hứa sẽ có dịp đưa tôi về làng Nồi mục kích, sở thị “gái làng Nồi ngực bên đầy bên lép”, lại có biệt tài “kho thịt chó ngon nhất Đông Dương”.

Bài thơ dưới đây chỉ là vài nét phác thảo về người thơ Ngô Đức Tiến:

Con gái làng Nồi kho thịt chó ngon nhất Đông Dương
Lão cũng chỉ nghe thiên hạ đồn, chơ mô đã chộ
Lão không dám đến làng Nồi, sợ trẻ con gọi bố
Tôi cũng nghe đồn và đoán đại thế thôi!

Nhà giáo, nhà thơ, nhà báo một thời
Sau đợt “Bê dài”(*) thành trưởng tuyên giáo huyện
Vào Google gõ Ngô Đức Tiến
“Không thấy liệt sĩ nào về đấu thầu đường 38”
Tuyệt nhiên không!

Dân Yên Thành ai cũng khoái chuột đồng
Bánh “nhân cá rô” – là di-a-rô bạn nhé
Thì tôi cũng nghe người ta nói thế
“Áo may ô mặc ngoài” tùy thích, chết ai đâu!

Vì nàng Thơ không ít kẻ phờ râu
Lão đếch sợi nào, đành cam bề trắng tóc
Nghe nói có lần lão toan cạo trọc
Lại sợ kẻ độc mồm sàm tấu giống ai kia.

Lành làm gáo – vỡ làm môi, hay quá lắm thìa
U tám mươi, thừa chua cay mặn ngọt
Chuyện phồn thực lão kể cười đau ruột
Có mỗi từ LUỒNG cứ đòi bớt chữ u, rê (U-G)

(*) Trước 30-4-1975, cán bộ, bộ đội được điều động vào miền Nam công tác và chiến đấu không thời hạn gọi là đi Bê dài.

Tùng Bách