26.1 C
Vinh
Thứ Hai, Tháng Bảy 15, 2024

Nhà báo Nguyễn Thế Viên: “còn sống là còn viết”

Người ta nói và viết nhiều về ông, một phóng viên đi qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, một cựu chiến binh, thương binh hạng 2/4, là người làm kinh tế giỏi, người có sức khỏe kì lạ và sức làm viêc phi thường… Những điều đó đủ thôi thúc tôi tìm gặp ông, nhà báo Nguyễn Thế Viên, bút danh Trường Sơn vào một ngày cuối năm 2023.

Men theo những con đường uốn lượn quanh co, núi đồi xanh thẳm, qua đập nước thăm thẳm soi bóng cây xanh, tôi đặt chân đến mảnh đất Ngọc Thành của huyện lúa Yên Thành, nơi ông Nguyễn Thế Viên đang sinh sống. Trước mắt tôi là ngôi nhà nhỏ nằm ẩn dưới những tán cây xanh mát, vườn cây, ao cá bao quanh. Phía sau khung cửa sổ, một cụ ông râu tóc bạc phơ đang ngồi chăm chú viết, trên bàn đặt rất nhiều sách, tư liệu. Thấy khách đến nhà, ông vội vàng bước ra bắt tay với một nụ cười niềm nở. Ông bảo, đang viết những trang đầu tiên của tiểu thuyết “Làng Kẻ Mõ”. Ông mời tôi ngồi vào bộ bàn ghế đặt bên hiên nhà, xung quanh là những bài báo, giải thưởng được ông treo rất cẩn thận, cũng là cách ông lưu giữ những kỉ niệm một đời cống hiến.

Nhà báo Nguyễn Thế Viên say mê bên những trang viết ở tuổi 94. Ảnh: Lê Nhung

Tiếp nối truyền thống gia đình

Khó có thể tin được người ngồi trước mặt tôi đây là cụ ông 94 tuổi, người đã đi qua hai thể kỉ nhưng vẫn rất minh mẫn, tai tinh, mắt sáng. Bên ấm trà nhỏ, ông kể cho tôi nghe nhiều câu chuyện cuộc đời mình. Sinh ra trong một gia đình có ba người con trai, người em thứ hai đi bộ đội rồi hy sinh, người em út tật nguyền. Là anh cả, ông gánh trên vai trách nhiệm nặng nề. Mặc dù bố mẹ là nông dân nhưng ông được thừa hưởng năng khiếu viết lách từ ông nội. Đó là cụ Nguyễn Thế Huyên, một nhà nho làng Kẻ Mõ (nay là Hậu Thành) từng lều chõng đi thi hương nhưng không đậu nên về làm thầy đồ dạy học ở quê. Cụ Nguyễn Thế Huyên có nhiều bài vè, giặm được lưu truyền trong dân gian, trong đó bài vè “Kể chuyện đình Mõ” dài 676 câu được rất nhiều người trong làng thuộc lòng và làm bài hát ru con cháu. Bài vè của cụ Huyên đã được in lại cùng với một số bài thơ của ông Nguyễn Thế Viên. Theo PGS Ninh Viết Giao “bài vè không chỉ kể chuyện làng Mõ tức Đức Hậu làm đình mà kể cả phong thổ làng Mõ, lịch sử cái đình Mõ’, “đây là một bài ký sự làm đình Mõ được viết bằng văn vần, văn vè, hát giặm, sau khi làm xong ông đọc cho hội đồng đại hào mục, các quan viên chức sắc và dân làng nghe. Hội đồng kì mục của làng đã thưởng cho ông một ngôi nhà ngói 3 gian bằng gỗ lim”. (trích trong cuốn “Chuyện đình Mõ”).

Ngôi nhà gỗ lim hàng trăm năm tuổi mà cụ Huyên để lại nay vẫn gần như nguyên vẹn, được tu bổ lại làm nhà thờ gia đình. Ảnh: Lê Nhung

Tôi được ông Nguyễn Thế Viên dẫn đi tham quan ngôi nhà ông nội để lại, cũng là nơi ông Viên sinh ra và lớn lên. Thật ngạc nhiên khi đã trên trăm năm nhưng ngôi nhà vẫn gần như vẹn nguyên. Ông Viên cho biết, thợ làm ngôi nhà này cũng là thợ làm đình Mõ. Từ nhỏ ông đã được nghe gia đình, dân làng truyền tai các sáng tác được lưu truyền của ông nội, và rồi chẳng biết từ lúc nào những câu vè đã ngấm vào ông để có một sự kế truyền tuyệt vời và hiếm có. Nói về điều này, nhà thơ Ngô Đức Tiến từng viết về ông Nguyễn Thế Viên trong lời bạt cuốn “Chuyện đình Mõ”: “tuy không nổi trội như ông nội Nguyễn Thế Huyên nhưng đây là sự tiếp nối đáng trân trọng…”, “Thơ ông phần lớn là thơ Đường luật, thơ lục bát… nhiều bài được in trong tuyển tập thơ Đường luật Việt Nam và các chuyên san của câu lạc bộ, của Hội thơ Đường Yên Thành”. Cho đến nay, ông Nguyễn Thế Viên đã xuất bản nhiều cuốn sách sau những ngày tháng miệt mài cầm bút, trong đó có thể kể đến một số cuốn như: Vang mãi bài ca mở đường, Những người mở lối, Truyền thống của Hội Nông dân Yên Thành, Hoa lúa (2 tập), Thơ (2 tập), Âm vang Điện Biên. Ngoài ra ông còn có nhiều sáng tác in chung với các tác giả khác như các tuyển tập của Hội thơ Đường huyện Yên Thành. Lật dở từng trang sách, ông giới thiệu cho tôi nghe hoàn cảnh ra đời từng cuốn. Đa số được ông viết sau khi nghỉ hưu, cũng có những cuốn được viết ngay từ khi còn là phóng viên chiến trường như “Những người mở lối”, “Âm vang Điện Biên’’. Những trang sách mang hơi thở của thời cuộc một lần nữa như sống lại trong ánh mắt long lanh xúc cảm của cụ già  đã trải đời mình qua hai thế kỷ, vào sinh ra tử qua hai cuộc kháng chiến khốc liệt của đất nước.

Một số tác phẩm in chung và riêng của nhà báo Nguyễn Thế Viên. Ảnh: Lê Nhung

Những kỉ niệm sâu sắc với nghề làm báo

Sinh ra trong thời chiến, khi đang học lớp đệ tứ (tương đương lớp 7 bây giờ), cậu học sinh Nguyễn Thế Viên khi đó đã đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Năm 1951, ông tham gia lực lượng thanh niên xung phong phục vụ chiến dịch Cao – Bắc – Lạng. Năm 1953, chiến sự ở Điện Biên Phủ có nhiều biến chuyển ác liệt, ông được chuyển qua quân đội, thường xuyên viết các tin bài về chiến dịch Điện Biên Phủ cho bản tin mặt trận của báo Quân đội nhân dân. Sau năm 1954, ông được cử đi học lớp nghiệp vụ báo chí, học xong được điều động về công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, rồi Thông tấn xã Việt Nam. Ông cho biết, trong thời gian làm phóng viên thường trú, ông rong ruổi khắp mọi nơi. Dường như nơi nào ông cũng đặt chân đến. Tham gia hầu khắp các chiến trường, vào sinh ra tử cùng các chiến sĩ bộ đội, ông đã có vô số bài viết chân thực về hai cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại của dân tộc ta. Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ác liệt, ông được tòa soạn cử vào chiến trường miền Nam và một lần nữa là một phóng viên chiến trường. Năm 1968, ông được điều về làm phóng viên báo Quân giải phóng đưa tin tại các chiến trường ác liệt. Gian khổ, hiểm nguy đến tính mạng nhưng chưa bao giờ ông chùn bước.

Đoàn nhà báo Trung ương bên xác máy bay Mỹ thứ 100 bị bắn rơi ở Hà Tĩnh. (Ông Viên thứ 3 từ trái sang). Ảnh: TL

Ông bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm của những ngày tháng pháo dội bom rơi nơi chiến trường. Giọng ông hào sảng, kể rành rẽ từng chi tiết tựa như ông đang chiếu những thước phim chiến trường trước cặp mắt tò mò của cô phóng viên sinh ra trong thời bình. Khi đó, gia tài của người phóng viên là bút, giấy và chiếc máy ảnh thô sơ. Người được giao nhiệm vụ chụp ảnh, người viết tin bài. Khi ra trận, người phóng viên cũng như một chiến sĩ, cầm bút thay cầm vũ khí để chiến đấu. Lúc tác nghiệp là kê đầu gối để viết, mặc bom đạn rầm rĩ kề bên tai. Tôi tò mò, “những lúc cận kề sinh tử như vậy ông có sợ không?”. Ông trả lời dứt khoát “khi đó chỉ mong hoàn thành nhiệm vụ, đâu nghĩ đến sống chết”. Khi ngồi kể lại hành trình của cuộc đời mình, ông quả quyết mình thật may. Nhiều đồng đội phóng viên chiến trường đã gửi thân xác nơi chiến trường ác liệt. Còn ông, vẫn được vui hưởng hòa bình. Thật kỳ diệu, đôi mắt ông đang ngày ngày được ngắm nhìn muôn vẻ đẹp của cuộc sống thanh bình, thì một con được thay ghép trong thời chiến tranh do bị thương. Con mắt thật hiện đã mờ, bên còn sáng là con mắt ông được ghép sau một lần ông bị thương nặng thực hiện nhiệm vụ phải chụp được cảnh máy bay bị cháy tại trận đánh ở đèo An Khê (Bình Định). Trong trận đó ông tác nghiệp cùng các phóng viên nước ngoài, không may bị thương nặng và hỏng một con mắt. Ông được đưa qua Miên (Căm Pu Chia) điều trị, thời gian sau được đưa về nước điều trị tiếp và được ghép mắt, sau một thời gian dần sáng trở lại. Như có phép màu nhiệm, vào tuổi xế chiều con mắt thật của ông mờ hẳn thì con mắt được ghép lại sáng lên giúp ông vẫn tiếp tục sự nghiệp cầm bút của mình cho đến giờ.

Ông vui lắm, bảo đời mình dù chịu nhiều gian khổ, trải nhiều hy sinh, nhưng cuộc đời cũng ưu ái nhiều cái may. Trong sâu thẳm ánh nhìn chợt sáng ấy, tôi dường như đọc được một niềm vui lớn, một niềm tự hào thầm lặng khi ông kể về 4 lần gặp Bác Hồ. Lần thứ nhất là vào năm 1961, khi ông đang là phóng viên thường trú ở Quảng Ninh, Bác ra thăm đảo Cô Tô. Sau lần gặp đó ông về đưa bài qua Phủ Chủ tịch gặp thư ký của Bác . Bác từ trong nhà bước ra bảo: “Cháu có biết ở đây là đâu không?”. “Dạ, thưa Bác đây là Phủ Chủ tịch ạ!”. Nhìn thấy cậu phóng viên nhỏ nhắn, chân đi dép mà không xỏ quai, Bác nói: “Là một nhà báo khi làm việc trang phục phải gọn gàng, nghiêm chỉnh”. Đó cũng là lần ông được gặp và nói chuyện trực tiếp với Bác, được nghe Bác chỉ dạy những điều quý báu  giúp ông rèn dũa môt tác phong làm việc nghiêm túc, chỉn chu. Ba lần khác ông lại được gặp Bác khi Người về thăm Vĩnh Thành vào năm 1961; năm 1962 Bác về chỉ đạo chống úng ở Hải Dương và Bác gặp mặt đoàn phóng viên tại Hà Nội trước khi vào Nam phục vụ kháng chiến.

Bác Hồ đạp guồng nước trong lần về chỉ đạo chống úng tại Hải Dương. Ảnh: TL

Nhấp một ngụm trà, ông bồi hồi nhớ lần Bác về chỉ đạo chống úng ở Hải Dương. Tỉnh đã chuẩn bị đón Bác rất trọng thể, nhưng Bác lại đi thẳng xuống địa phương bị ngập úng nhiều nhất là huyện Ninh Giang. Mọi người hay tin chạy đến nơi thì thấy Bác đã xuống đạp nước chống úng với người dân rồi. Thấy cán bộ ăn mặc, giày dép chỉnh tề, Bác nói “Các chú đi xem văn công hay đi chống úng với dân mà ăn mặc như thế”. Cán bộ nghe xong ngại ngùng vội cởi giày dép xuống đạp nước cùng Bác. Còn lần gặp Bác trước khi vào Nam cũng được nghe Bác đúc kết những lời thấm thía. Thời kỳ đó các phóng viên trong đoàn phải rèn luyện sức khỏe, tập mang đá sau lưng vì vào chiến trường phải mang balo và nhiều vật dụng khác. Thấy vậy Bác bảo: “Các chú có đổ mồ hôi nhiều sau này mới đỡ đổ máu”. Những căn dặn máu thịt đó của Bác như là kim chỉ nam đi cùng ông suốt cuộc đời.

Sáng phẩm chất “bộ đội cụ Hồ”

Năm 1986, ông nghỉ hưu và về địa phương. Cha mẹ đã mất, người em thứ hai đã hy sinh ở chiến trường, người em thứ 3 bị tàn tật, vợ chồng nheo nhóc với đàn con thơ. Để có tiền giúp đỡ em trai, ông lăn lộn làm kinh tế và làm rất giỏi. Dường như bản lĩnh, ý chí người phóng viên chiến trường, phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ một lần nữa tỏa rạng. Đôi tay cầm bút nay dẻo dai cầm cuốc, xẻng, cái đầu tư duy những bài báo sắc bén và đầy sức truyền cảm nay nhạy bén và quyết đoán trong làm kinh tế, biến những vùng đồi hoang hóa thành mảnh đất sinh sôi nuôi cả gia đình. Năm nào ông cũng được tỉnh và huyện tặng bằng khen là tấm gương làm kinh tế giỏi.

Căn nhà tình nghĩa do Hội Cựu chiến binh tỉnh Nghệ An tặng nay dược ông Viên làm thư viện cho làng. Ảnh. Lê Nhung

Ông còn hoạt động rất sôi nổi, từng có nhiều năm là Chủ tịch Hội thơ Đường luật huyện Yên Thành. Ông vừa là trưởng ban, cũng là người duy nhất còn sống trong Ban liên lạc chiến sỹ Điện Biên Phủ huyện Yên Thành. Căn nhà tình nghĩa do Hội Cựu chiến binh tỉnh Nghệ An tặng nay ông trưng dụng làm thư viện cho làng với hơn 500 đầu sách, cùng hàng trăm tờ báo và tạp chí được ông sưu tầm. Căn phòng nhỏ kế bên cạnh là nơi ông sinh hoạt hàng ngày. Vào thứ Bảy, Chủ nhật hàng tuần, các cháu học sinh ở quê vẫn thường ghé đọc sách bên hiên nhà ông. Bạn bè văn chương, làng xóm vẫn tới lui thường xuyên. Khi tôi đang ngồi trò chuyện với ông thì nhà thơ Trần Lan, là láng giềng vừa là thành viên  Hội thơ Đường Yên Thành ghé chơi. Nhà thơ Trần Lan góp chuyện “Hội thơ Đường của huyện có 3 chi hội với hơn 100 thành viên, mỗi chi hội sinh hoạt giao lưu một tháng một lần. Mỗi năm ra hai tập thơ với hơn 200 bài. Để làm được điều đó bác Viên đã có nhiều đóng góp, thường xuyên đi lại, liên kết anh em và giúp đỡ, khuyến khích anh em sáng tác. Bác còn tham gia biên tập bài. Bản thân chú cũng học hỏi được nhiều điều từ bác Viên”. Câu chuyện văn chương, chuyện đóng góp cho xã hội như kích thích niềm hứng thú trong ông.  Ông Viên phấn khởi chia sẻ rằng, sắp tới huyện nhà sẽ tập huấn cho các thành viên trẻ tuổi làm thơ Đường. Đây là điều ông rất trăn trở, vì hầu như lớp trẻ đã không còn mặn mà với thể thơ này. Còn tôi thì mừng thầm bởi vẫn còn những người như ông Viên, đau đáu với các giá trị tinh thần của công đồng và cố gắng từng tí một vì niềm lo đó. Đây cũng là điều không phải ở đâu cũng làm được.

Ông Nguyễn Thế Viên lấy tư liệu viết bài. Ảnh: Phan Tất Lành

Ở tuổi 94, ông vẫn đi và say viết. Chiếc xe đạp điện cà tàng vẫn bền bỉ cùng ông đều đặn đi họp, đi sinh hoạt ở các câu lạc bộ: thơ ca xã do ông làm chủ nhiệm, các cụm thơ Đường trong huyện và giao lưu với bạn bè văn chương. Tôi hiểu vì sao người ta tặng ông danh hiệu “người đàn ông có đôi chân không mỏi”. Đôi chân ông còn làm nên điều kỳ diệu khi ông là đại biểu của Hội Cựu chiến binh tỉnh Nghệ An tham gia đoàn CCB Việt Nam thăm và báo công tại đền Hùng. Ông đã băng băng một mạch hàng trăm bậc lên báo công Vua Hùng trong sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người. Hóa ra những chuẩn bị cáng, người cáng và dịch vụ y tế đoàn đưa kèm thành sự lo xa, thừa thãi. Mọi người đã không hiểu, cảm hết sức sống mạnh mẽ và nghị lực bền bỉ, dẻo dai của cựu chiến binh ấy.

Tôi nghĩ ông không chỉ có đôi chân không mỏi, mà đôi tay ông cũng bền bỉ vô cùng. Đôi tay ấy một đời cầm bút, đôi tay ấy khai hoang biến vùng đất cằn khô  thành 2 ha màu mỡ xanh rợp cây trái, cá đầy ao. Những trái bưởi, cam tôi được ông mời ăn, rồi túi quả ông chạy vội vào nhà lấy biếu tôi mang về chất chứa bao mồ hôi và tình yêu lao động trong con người chân chất ấy.

Dù biết là thừa, nhưng trước lúc ra về, tôi vẫn hỏi ông: “Bao giờ thì bác ngừng viết ạ”? Vẫn nụ cười hiền mà hào sảng làm khuôn mặt ông trở trên rạng ngời, ông đáp: “Trời cho còn được sống, tai còn tinh, mắt còn sáng là còn viết thôi cháu”. Và lại như không muốn dứt câu chuyện, ông chia sẻ  rằng, bây giờ ông vẫn viết đều đặn, khi thấy một tấm gương nào đó là lại muốn tìm hiểu để viết về họ với tâm niệm “viết để phục vụ đời sống, để con cháu nhìn đó mà học tập, cuộc đời có nhiều cái hay cái tốt để học lắm”. Năm 2022, ông là tác giả cao tuổi nhất khi ở tuổi 91 vẫn tham gia giải Báo chí Búa liềm vàng của tỉnh Nghệ An. Quả là một điều đáng để chúng tôi – thế hệ trẻ cầm bút phải học tập. Chia tay tôi, ông lại trở vào viết những trang sách về “Làng Kẻ Mõ”, cũng như viết tiếp những câu chuyện của cuộc đời.

Lê Nhung, Phan Tất Lành