“Tôi thực sự bị hấp dẫn khi nghe nghệ nhân Nguyễn Văn Yêm ở xã Đức Sơn (huyện Anh Sơn) hát một bài dân ca Nghệ Tĩnh kể về người lính mộ Việt Nam thời thuộc Pháp. Tôi nghe thấy quen quen lại có cái gì đó rất lạ, cộng thêm giọng hát ngọt, vang của nghệ nhân Yêm khiến tôi bị hấp dẫn thực sự. Tôi thầm thốt lên “ngọc quý, đã tìm thấy rồi””!
Câu chuyện của tôi với nhạc sĩ Văn Thế được bắt đầu bởi sự trầm trồ ấy của ông khi ông say sưa kể về bối cảnh tìm ra làn điệu giặm Đức Sơn, một làn điệu đặc sắc trong kho tàng dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh.

Cùng với nhạc sĩ Thanh Lưu, Văn Thế là một trong những người đầu tiên gánh vác trọng trách nặng nề trong việc thể nghiệm sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh. Năm 1973, khi đó nhạc sĩ Thanh Lưu là nhạc trưởng Đoàn Chèo, Văn Thế là nhạc trưởng Đoàn Cải Lương Nghệ An được Ty Văn hóa điều về thành lập Đội thể nghiệm dân ca Nghệ Tĩnh.
Nhiệm vụ đầu tiên của Đội thể nghiệm là tăng cường công tác sưu tầm dân ca để có “vốn” mà “xào nấu”. Lúc này Đội thể nghiệm dân ca bắt đầu tổ chức 2 mũi đi sưu tầm: tuyến đường 7 và tuyến đường 48. Nhóm của Văn Thế phụ trách có ca sĩ Hồng Năm, diễn viên Bích Hồng, nhạc công thổi sáo Cảnh Xuân, nhạc công bầu Đình Luyện về huyện Anh Sơn sưu tầm. Nhóm “ăn dầm nằm dề” ở các xã của Anh Sơn tới 10 ngày trời, trong đó có xã Đức Sơn.
Nhạc sĩ Văn Thế bảo, ông khá ấn tượng với quang cảnh và người dân của xã Đức Sơn. Đức Sơn là một xã miền núi thuộc phía tả ngạn sông Lam, cách trung tâm huyện Anh Sơn 5 km, có địa hình dạng đồi núi và dạng địa hình đồng bằng ven sông. 100% bà con nơi đây là người dân tộc Kinh, chủ yếu làm nông nghiệp, chủ lực là cây ngô. Thời bấy giờ, những cánh đồng ngô mướt mát ven sông xen với đồi núi tạo cho Đức Sơn vẻ bình yên, thơ mộng. Đặc biệt, không chỉ bấy giờ mà Đức Sơn vốn từ xa xưa đã có truyền thống về văn hóa văn nghệ. Tại đây người dân rất yêu thích và thường hát dân ca, đặc biệt là tuồng khá phát triển. Bởi thế Đức Sơn là xã có phong trào hát giặm, diễn tuồng và cả hát nhà tơ (ca trù) rất sôi nổi. Những ngày đi sưu tầm là những ngày tổ của ông cùng ăn cùng ở cùng làm việc với nhân dân. Ban ngày tổ công tác đi tìm hiểu, tiếp xúc với bà con, với các nghệ nhân. Buổi tối thì tổ chức sinh hoạt văn nghệ. Chương trình lúc nào cũng có các tiết mục của tổ và các tiết mục của nhân dân địa phương tạo nên không khí ấm áp và sôi động. Buổi tổng kết đợt sưu tầm cũng là buổi biểu diễn văn nghệ chung của tổ công tác và của bà con. Ai ai cũng phấn khởi và bịn rịn. Ngày chia tay, nhiều người dân đã tiễn tổ ra tận bến đò Đức Sơn để sang bên kia sông xuôi về Vinh mang theo những điều bà con gửi gắm về một di sản quý giá của quê hương. Dường như những con người tâm huyết, yêu quý di sản văn hóa của cha ông, đã gặp được nhau trong niềm trăn trở bảo tồn và phát huy tinh hoa ấy để cùng chia sẻ và trân quý nhau.
Trong thời gian này, nhạc sĩ Văn Thế may mắn tiếp cận được nghệ nhân Nguyễn Văn Yêm. Ông Yêm trước đó thường hay dẫn một nhóm (thời đó người ta gọi là gánh hát) đi lưu diễn khắp vùng: nào là Cây Chanh, Ngũ Vó, Cầu Đất, khe Lòa (tức Thọ Thành, Bình Thành – điểm cuối vùng tả ngạn huyện Anh Sơn), rồi sang huyện Con Cuông. Ông có năng khiếu về văn nghệ và hết sức say sưa với sinh hoạt văn hóa này. Lúc nhạc sĩ Văn Thế gặp nghệ nhân Nguyễn Văn Yêm, ông Yêm chừng 56-57 tuổi. Biết mục đích của đoàn công tác, ông Yêm đã nhiệt tình vừa đàn (đàn đáy) vừa hát cho nhạc sĩ nghe rất nhiều bài dân ca Nghệ Tĩnh. Văn Thế đã đặc biệt chú ý một bài hát kể về người lính mộ có làn điệu vừa quen vừa lạ (thời Pháp đô hộ, thực dân Pháp tuyển mộ người Việt trẻ khỏe đưa sang Pháp làm thợ trong các công ty phục vụ ngành quốc phòng) làn điệu vừa quen vừa lạ. Quen bởi có dáng dấp của hát giặm Cửa Quyền. Tuy nhiên, ông rất ngạc nhiên bởi cái khác, lạ của bài giặm này và hết sức thú vị khi thấy chất tài tử xuất hiện trong bài hát. Bài hát không cấu trúc theo thể hát giặm phổ thông. Thường thì hát giặm Nghệ Tĩnh mỗi trổ có 5 câu, mỗi câu có 5 chữ và câu cuối được hát nhắc lại lần nữa. Nhưng làn điệu này hoàn toàn khác: các khổ không nhất thiết đều phải là 5 câu; vào đầu bài (còn gọi là thủ) có manh nha của hát cải lương (trong hát cải lương thường phải có 2 – 3 câu nói lối rồi mới sang hát vọng cổ), hay hát chèo (trong chèo luôn phải có vài ba câu hát sử rồi mới vào hát bài bản). Làn hát giặm này cung cách theo kiểu cấu trúc chung của loại hình hát truyền thống: 2 câu đầu là câu thượng lục hạ bát (6-8), xem như là hát sử của chèo, hay nói lối của cải lương. Xong 2 câu này mới vào chính thức hát giặm. Thêm nữa, trong phần hát giặm gần cuối thân bài lại được lẩy lại câu hát đó. Cách hát cũng khác hát giặm thông thường. Hát giặm Đức Sơn có nhiều tiếng đệm hơn, nhiều luyến láy hơn, đặc biệt khác khi ở cuối câu có dấu sắc phải hát đá lên âm chủ. Dưới đây là làn điệu giặm Đức Sơn mà nhạc sĩ văn Thế sưu tầm từ nghệ nhân Nguyễn Văn Yêm hát năm 1973:
Giặm Đức Sơn
Triều (a) đình (ơ) chỉ (a) dụ (ạ) đi (a) Tây (a)
Để hiểu cho đàng dân xạ (ạ) ta nay (ơ) tỏ tường. (2 câu 6-8)
Chư Kẻ tráng sĩ lực (ạ) cường (a)
Người văn nhân đang tài (a) tuấn.
(chữ “tuấn” đưa lên âm chủ của giọng sol trưởng)
Trai anh hùng giọng (a) tức (a) giận
Gái nghĩa khí (ạ) động (a) lòng
Quyết (i) hợp lực đồng (ơ) tâm (a)
Quyết ra tay (a) đang bảo (a) hộ
Chứ quyết một lòng (a) bảo(a) hộ.
Anh đang con nhà (a) lễ (ơ) độ
Dòng thế phiệt (à) thư hương
Biết hồ thỉ bốn (a) phương
Quyết ra tay rồi đây anh giữ gìn
Chứ quyết một lòng (a) gìn (a) giữ.
(2 câu cuối này khác giặm thông thường)
Chàng bước rồi mới sang tòa sứ
Hai hàng đứng rõ (ạ) ràng
Chàng thẳng bước (à) hiên ngang
Đây lưỡi lê rồi mới đang sẵn sàng
Mắt nhìn về (ơ) phía (ơ) trước (ư)
(chữ trước đưa lên âm chủ của giọng sol trưởng).
Dừ thì miệng hô (à, à, ạ) chân bước
Chàng vào giữa trận (à) đồ
Chứ ai ai nấy đều (a) lo
Chúc chàng đi (a) mạnh (a) khỏe
Hẹn ngày về… mạnh (ơ) khỏe.
Đây là một làn điệu giặm biến thể, được sưu tầm tại địa danh Đức Sơn, để tiện cho việc gọi tên và sử dụng, nhạc sĩ Văn Thế đã đặt cho nó cái tên: giặm Đức Sơn. Sau khi được công bố rộng rãi, do làn điệu này rất sinh động, nên được vận dụng đặt lời mới cho rất nhiều nội dung, chủ đề, đặt biệt rất hợp trong các hoạt ca, hoạt cảnh dân ca Nghệ Tĩnh và dùng nhiều nhất là cho các tốp ca nữ. Từ đó đến nay, làn điệu giặm Đức Sơn thường xuyên được sử dụng trong các chương trình của các đội văn nghệ không chuyên và của cả đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp.


















