Người quê

Cô bạn gọi: “Chị ơi, em mới mua cái nhà bên quê. Chị có thích đến đó ở mấy ngày mà thiền không? Có sẵn giường, bếp, nồi niêu xoong chảo… đủ cả. Chị sang thì để em gọi bác hàng xóm dọn dẹp nhà cửa đón chị.”

Vậy là ngay sáng hôm sau, tôi xách ba lô, bỏ mấy bộ quần áo, một số đồ dùng cá nhân nữa lên xe buýt. Tính đi 3 ngày nhưng không ngờ tròn 2 tuần mới về được.

Đi xe buýt từ Vinh sang đến thị trấn Phố Châu, xuống xe đã thấy chị bạn đứng đợi sẵn bên chiếc taxi. Theo định vị mà cô em đã gửi, chúng tôi đến một xóm nhỏ nằm dưới chân một ngọn núi. Con đường quanh co, trời mưa lâm thâm. Vòng qua cái hồ nhỏ, taxi trèo lên một cái dốc đi qua con ngõ lá lay rụng ngập, để vào một ngôi nhà. Ngay lập tức có hai vợ chồng ông hàng xóm chạy sang chào hỏi đon đả, giới thiệu ông tên là Thơ, bà tên là An. Rồi ông nhanh nhẹn mở cửa. Bà vợ cũng nhanh nhẹn lấy chổi quét dọn, trong khi ông chồng trèo lên chiếc giường duy nhất, mắc màn, khiến tôi vừa ngạc nhiên về sự nhiệt tình, vừa không khỏi buồn cười vì sự hồn nhiên của ông chồng mà phải quay mặt đi để giấu nụ cười.

Hai ông bà sửa soạn xong thì chào về. Chị bạn tôi cũng về, để lại tôi một mình trong ngôi nhà gỗ 3 gian vắng lặng. Bộ cột gỗ và mấy hàng vì kèo ghi dấu thời gian trên những đốm mốc bàng bạc, hay trên những mép gỗ sứt mẻ khiến tôi nhớ lại ngôi nhà cha mẹ tôi ngày xưa, một thời bao cấp đói khổ. Cái sân rộng đã được lợp mái tôn kín. Trong vườn, những cây mít cao chót vót, quả lúc lỉu; những cây bưởi quả còn non lấp sau những chùm lá. Cỏ xanh um mọc trùm lên miệng cái giếng khơi. Nước theo một cái ống từ dưới đáy lên, chảy qua đường ống nhựa cũ, đang đổ rào rào vào trong bồn sắt tây sáng loáng đầu hồi bếp. Đúng là “tân cổ giao duyên”, tôi bất giác mỉm cười. Một cái chuồng bồ câu, với khoảng chục con, bay ra bay vào, gù gù rù rù…

Tôi vừa dọn mấy cái bát ra chậu thì bà An lại qua, đưa cho một rổ sắn, củ nhỏ nhỏ tròn vo, bảo:

– Sắn năm nay được mùa. Chị ăn hết rồi em lại đưa thêm nhé.

– Cảm ơn nhé, phiền chị thế. Mà này, sao góc nhà có một ổ mèo mới đẻ. Nó là mèo nhà ông chủ cũ hay ở đâu đến?

– Nó là con mèo của ông Luân đó. Ông ấy bán nhà này, rồi đi, để lại nó ở đây.

– Sao ông bà ấy lại bán nhà?

– Ông bà ấy có 3 thằng con trai. Chúng nó đưa nhau vào Tây Nguyên sống. Thằng cả nói cha mẹ vào, nó làm một cái nhà vườn cho hai ông bà ở tuổi già và chu cấp hàng tháng. Thằng này giỏi và ngoan lắm, nhưng đã bốn mươi rồi mà chưa lấy vợ.

– Ông bà ấy bán nhà rồi thì có lẽ không bao giờ quay về đây nữa nhỉ?

– Khó. Thằng cả nó không cho ông bà bán nhà. Nó bảo, “Cha mẹ để cái nhà đó, lỡ lúc nào chán ở trong này thì lại về. Với lại còn làm chỗ để chúng con đi về, thờ cúng cha mẹ ông bà sau này.” Nhưng cái thằng út, chẳng biết làm gì, quanh năm gọi điện về moi tiền ông bà. Nó xui ông bà bán nhà cho nó tiền đầu tư. Thế là ông bà bán lén hai thằng lớn. Ông ấy cưng thằng út lắm. Thôi, em về đã. Ăn rồi sang với chị, còn chưa kịp rửa bát.

Nói rồi bà quày quả ra về, dáng người nhỏ bé thoăn thoắt.

Tôi sung sướng thụ hưởng cuộc sống cô độc suốt những ngày ở đó. Sáng dậy sớm, bật đèn, ngồi thiền, pha gói mì tôm với quả trứng cho bữa sáng. Trứng gà ở đây ngon đến khó tả. Quả trứng to tròn, đập ra bát, cái lòng đỏ đỏ rực như một trái gấc nhỏ. Vài bữa bà An lại mang sang cho tôi mấy củ sắn. Tôi luộc ăn nhấm nhẳn cả ngày. Những củ sắn nhỏ, dai sần sật, ngọt lừ trên lưỡi. Ngoài vườn, mít lúc lỉu. Mít Hương Sơn ngon nổi tiếng. Tiếc là chúng còn non. Đúng là một mảnh đất nghèo mà chứa chan sức sống.

Tôi cho mèo và mấy con chim bồ câu ăn xong, vào mở máy tính, vừa ăn sáng vừa viết khoảng hơn tiếng đồng hồ rồi đứng dậy, để nhà đó mà bước ra ngõ, theo con đường làng, đi vòng vòng xuống dưới rìa làng. Ở đó, có cửa hàng cung cấp lương thực, thực phẩm cho cả làng, nằm giữa cánh đồng ngô đang mùa ra bông, tỏa hương thoang thoảng ra mênh mông.

Tôi kiếm ghế ngồi một lúc, nói chuyện với cô chủ cửa hàng, dáng người phốp pháp, gương mặt chất phác. Cô tự giới thiệu là tín đồ Công giáo. Tôi mua một kilogam thịt, bảo cô chủ chia làm 2 túi, mua thêm một ít rau quả. Tôi xách túi thực phẩm, đi vào giữa những mảnh vườn xanh um. Hai chú bé chở nhau trên chiếc xe đạp, chào tôi rất to. Tôi vui vẻ đáp lại. Một dòng nước từ cái khe bí ẩn nào trên ngọn núi Gấm trước mặt, chui qua cái cống dưới lòng đường, rồi chảy róc rách vào hồ nhỏ, khiến mặt hồ xao động. Bên đường, một bác dáng như cán bộ nhà nước về hưu, ăn mặc sạch sẽ gọn gàng đứng chống gậy nhìn ra. Đằng xa, tháp chuông nhà thờ Thiên Chúa giáo in hình trên nền trời xanh, vừa rung lên mấy tiếng chuông lan tỏa trong không gian.

Sáng nào cũng khung cảnh đó, chỉ khác có hôm trời nắng, hôm thì mưa, nhưng tôi cứ ngắm không chán. Đi trên con đường làng đó, tôi thấy như khí trời khí núi thấm sâu vào trong phổi, khoan khoái lạ thường.

Trước khi về đến sân “nhà mình”, tôi ghé bà An, đưa cho bà một túi thịt lợn khiến bà áy náy, một lúc sau lại mang sang cho tôi mấy củ sắn, một mớ rau.

Nói là sống cô độc, nhưng thật ra ngày nào bà An cũng chạy sang. Hôm thì buôn chuyện này, hôm thì kể chuyện khác. Thành ra, tôi chẳng đến thăm nhà ai trong làng, nhưng lại biết hết ngõ ngách của cái xóm núi có dăm chục nóc nhà này.

Buổi chiều, mới 2 giờ, tôi nghe tiếng xe máy nổ bình bịch bên nhà hàng xóm. Ở cái không gian này, bất cứ tiếng động gì cũng trở nên rất to và rõ. Tôi nhìn ra, thấy ông Thơ đánh xe máy leo ngược dốc, lên sân nhà. Sau yên xe buộc một cái xe bò chở đầy sắn. Trời nắng chang.

Những ngày sau đó, mỗi sáng, mỗi chiều đều thấy ông Thơ đều đặn kéo xe bò bằng chiếc xe máy bình bịch bò lên cái dốc sân nhà ông. Bà An thì cứ sáng ra với đầu chiều là đội nón đi.

Trưa, thấy ông bà đã về nhà, tôi sang chơi, hỏi:

– Chị đi đâu mà mấy bữa nay cứ đi suốt thế?

– Em phải ra đồng. Mấy hôm nhổ sắn xong rồi, hai hôm nay bẻ ngô, chất lên xe bò cho ông chở về nhà, hoặc đưa về phơi ở sân của xã. Sân mình có phơi được mấy đâu.

– Bác Thơ năm nay bao nhiêu tuổi nhỉ? – Tôi quay sang hỏi ông chồng.

– Tôi sinh 1961.

– À. Vậy hơn em có một tuổi thôi. Vậy bác tốt nghiệp cấp 3 năm nào?

Ông chồng chưa kịp trả lời, bà An đã nói thay:

– Ông Thơ nhà em còn chưa học hết lớp sáu chị à. Em đây thì còn học được hết cấp 3 này.

– Vậy hai anh chị có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội gì không?

– Có được cái bảo hiểm y tế chị à, nhưng chẳng ăn thua. Ông Thơ nhà em, tháng nào cũng phải qua Vinh điều trị, bảo hiểm y tế chỉ trả cho tiền phòng. Còn thuốc thang cứ phải tự thanh toán hết.

– Thế ông bà có nguồn tiền nào hỗ trợ từ nhà nước không?

– Có gì đâu chị. Mới từ đầu năm nay, xã họ cho ông ấy cái chức công an xóm, tháng được thêm vài trăm. Nhưng nếu không làm nữa thì lại mất.

– Anh chị có mấy cháu?

– Sáu đứa nà. Ba đứa con gái thì lấy chồng cả rồi. Chúng ở gần đây cả, về thăm bố mẹ luôn. Còn ba thằng con trai thì đều ở trong Nam, chưa đứa nào lấy vợ. Thật ra một thằng có con rồi mà chưa cưới.

– Chúng nó làm ăn được không? Có thỉnh thoảng gửi cho cha mẹ được ít đồng không?

– Chúng nó cũng thỉnh thoảng gửi cho cha mẹ vài ba triệu bạc vào dịp Tết. Mới lập nghiệp nên cũng không có.

Tôi nhìn hai ông bà. Ông ngồi trước cái ấm nước chè xanh, uống từng ngụm, nước da den bóng, thân hình gầy guộc, nhưng gương mặt sáng. Bà dáng người nhỏ thó, đang nhanh tay băm cỏ cho dê. Thầm nghĩ người nông dân thật là thiệt thòi. Một đời lao động miệt mài. Nếu nói đến cống hiến cho xã hội, đám công chức chúng tôi chắc gì cống hiến bằng họ. Vậy mà họ, đến tuổi 60, 70 rồi vẫn phải nai lưng kiếm cơm. Tay làm hàm nhai, tay quai thì miệng trễ. Cũng may, mảnh đất Hương Sơn này linh địa, tràn trề sinh khí. Đến một anh đàn ông, học chưa xong lớp 6, quanh năm lam lũ với vườn ruộng, mà vẫn rất sáng sủa và lịch sự. Còn người đàn bà kia thì đầy lanh lợi. Không “sáng láng” như những bà bạn chém gió trên mạng xã hội của tôi, nhưng lại rất ý nhị khôn ngoan trong mỗi lời nói, hành xử.

Từ sáng, mưa dầm dề khiến lũ chim bồ câu không buồn đi đâu, chỉ quẩn quanh từ mấy căn phòng uyên ương của chúng xuống cái sân tôi đã vãi ngô dày đến nỗi chúng ăn không hết. Bà An sang chơi, nói:

– Trời mưa nên sáng nay em không hái ngô. Em cho bò và dê ăn xong rồi sang đây đưa cho chị ít chè xanh. Ông nhà em thì đi giỗ bên nhà hàng xóm.

– Cảm ơn chị! Để tôi om ấm nước rồi ta uống nhé. Này chị, ông bà Luân này có lẽ sống cũng khó khăn nhỉ? Thời buổi này mà mấy cái cửa làm tạm bợ thế. Đêm đến tôi cứ thấy sờ sợ.

– Ở đây an ninh lắm chị à. Chị có bỏ nhà đó đi mấy ngày mà không đóng cửa, thì về mọi thứ vẫn y nguyên thôi. Trẻ con làng này ngoan lắm.

Rồi bà hạ giọng:

– Nhưng có một thằng nhỏ con nhà trong xóm, nó bỏ nhà đi mất tích cả năm nay, bỗng nhiên lại về. Lạ lắm, suốt ngày ngồi thu lu trong nhà, rồi bỗng nhiên chạy lên núi Gấm chui vào trong bụi rậm ngồi, như thể bị ma ám. Người ta tìm mãi mới lôi được nó ra. Nghe nói nó sang Campuchia. Cũng phải cảnh giác, lỡ nó nổi cơn điên, lại chui vào nhà mình phá phách.

– Tội thế. Giờ nó sao rồi?

– Thì họ lôi nó về rồi lại chạy nữa rồi.

Bà An quay trở lại trả lời câu hỏi của tôi:

– Ông Luân chăm chỉ làm ăn lắm. Nhưng ông ấy chậm chạp. Mà bà vợ thì chả biết lo toan tính toán gì nên cha con khổ.

Đang đứng, bà bỗng kéo ghế ngồi, báo hiệu câu chuyện dài:

– Ông Luân xuất thân con nhà gia giáo khá giả ở làng ngoài, được cha mẹ cho ăn học tử tế. Cả làng có mỗi ông ấy là học cao đẳng về thôi. Ngày trẻ, ông ấy đẹp trai lắm, như diễn viên điện ảnh luôn. Dáng người cao ráo, nước da trắng ngần, sống mũi thẳng tưng, mắt đen như nước, môi đỏ như son. Ông làm thư ký cho hợp tác xã, mà rồi số khổ, lấy phải bà vợ vống vang, không biết chắt góp tằn tiện, không biết lo toan, ăn rồi toàn sang nhà hàng xóm “buôn dưa”. Vợ chồng nghèo đến nỗi, khi thằng đầu của ông ấy được bảy tháng, đêm nào thằng nhỏ cũng khóc váng cả làng. Nó đói. Em ở bên nhà nghe mà nóng cả ruột. Nhưng mình cũng phải nuôi mấy đứa con, không có gì mà cho nó. Có một cô trong ủy ban xã, chưa chồng, làm văn thư, mê ông Luân. Ngày nào cô cũng ghé nhà, cho bà Luân bữa thì mấy cân gạo, bữa thì thúng ngô, rổ khoai, có lần còn gánh cả yến lạc lên cho bà ấy. Nhà cha mẹ cô khá giả, có quầy hàng tạp hóa ở chợ Phố. Thỉnh thoảng cô lại cho bọn trẻ con mấy gói kẹo và bánh quy. Lúc này ông bà Luân đã đẻ 3 đứa rồi.

– Ngày đó mà có cái kẹo hay cái bánh là cả thiên đường đối với bọn trẻ con nhỉ. Thế bà Luân có biết không?

– Không biết bà ấy có biết không. Nhưng bà ấy cứ thản nhiên nhận. Còn cô Quyên kia, thì cứ kiếm cớ đến nhà bà, để được gần gũi, nhìn ngắm ông Luân nhiều hơn. Cả làng ai cũng biết.

– Ừ thôi cũng được. Bà ấy vô tích sự ở đâu, chứ trong vụ này thì tôi thấy được đó. Cho bọn trẻ con đỡ tội. Thế cô kia có đẹp không? – Tôi cười.

– Cô kia bình thường. Được cái trẻ. Ngày đó cô mới hai mươi tuổi.

– Khá đấy chứ không vừa đâu – tôi không khỏi bật cười – Thế rồi sao?

– Cách đây ba năm, một hôm nhà em có giỗ, mấy ông trong làng ngồi một mâm. Thách rượu nhau đã ngà ngà cả. Uống hết cả cái vò rượu to em chôn một năm. Bỗng ông Luân lên tiếng kể chuyện cô Quyên. Kiểu như để trong bụng lâu năm, nặng bụng quá. Phải xổ ra cho đỡ mệt.

– Kể sao?

– Ông nói: cái con Quyên nó cứ theo mãi, khiến tôi lúc đầu thì cố cưỡng lại, vì biết như thế là vi phạm luân thường. Nhưng rồi cuối cùng thì cũng không cưỡng được. Mà con mụ vợ tôi nó ngu quá đi. Nên không có lấy một cái hàng rào nào bảo vệ cho cái đạo đức của tôi. Tôi cứ buông thả vậy cho đến một hôm, cô ấy nói: “anh này. Em đã chuẩn bị cho hai đứa mình một căn nhà với 4 héc ta đất trong Pleiku rồi. Chúng ta vào đó sống nhé. Ta sẽ trồng cà phê, sầu riêng… Em sẽ lo cho anh một cuộc sống êm ấm”. Tôi hoảng hốt: “ Nhưng anh đi với em, thì ở nhà, ba đứa con của anh ai nuôi? Vợ anh vụng dại, em biết rồi đó. Nếu anh bỏ chúng nó, chúng nó sẽ chết đói”. “Anh đừng lo quá thế. Trời sinh, trời dưỡng”. Cô ấy trả lời. Hôm sau, cô ấy tìm gặp tôi, lại nói: “Anh nghe em đi. Nhé! Em không muốn nhìn thấy anh khổ. Nhìn anh sống khổ thế, em xót xa lắm!”. Tôi im lặng. Lòng như có cả trái núi Gấm ở trong. Mấy đêm liền, tôi không ngủ được. Cô ấy cứ tìm tôi, đến tận nhà tôi sục sạo. Tôi đập bệnh nằm trong buồng. Rồi cuối cùng, tôi gặp cô ấy nói: “Em à. Anh không đi với em được đâu. Chúng mình dừng lại ở đây thôi!”. Cô ấy mặt tím rịm, không nói một câu nào. Tôi biết là từ đó cô ấy coi tôi là kẻ thù. Nhưng tôi không thể khác. Tôi không thể bỏ mấy đứa con của tôi để chạy theo tình yêu”. Nói xong, ông Luân im lặng, tu liền hai cốc rượu to. Mọi người im lặng một lúc. Rồi thằng cha Lam nói: “Biết rồi. Biết rồi. Rồi mấy ngày sau, chị ta mang quang gánh đến nhà anh đòi lại lúa ngô chứ gì. Hồi đó tôi là thanh niên mới lớn, hay đi tắt qua vườn nhà anh để đi họp Đoàn Thanh niên, chuyện chi nhà anh tôi cũng biết hết”.

– Cha Lam nói vậy rồi ông Luân nói sao?

– Ông ấy im lặng. Mọi người cũng không ai nói gì cả. Thằng cha Lam tự thấy mình thô lỗ cũng im luôn. Nhưng đúng là đợt đó, em ở trong nhà nhìn ra, thấy ngày nào cái Quyên cũng làm một đôi quang gánh đến đòi nợ bà Luân, không buổi sáng thì buổi chiều.

– Vậy có đòi được không?

– Không biết. Chỉ biết cô ta cứ làm vậy có đến như hai tháng.

– Chị có hiểu vì sao ông ấy lại bỗng dưng kể cho mọi người nghe chuyện đó sau mấy chục năm im lặng không?

– Có lẽ ông ấy xấu hổ, biết bị cả làng chê cười, nên thanh minh.

Tôi cười:

– Không phải đâu bà chị ơi. Bọn đàn ông chả bao giờ xấu hổ vì chuyện đó đâu. Chúng nó cũng chả chê trách nhau về chuyện đó đâu. Có chăng chúng nó ước gì cũng có được một cô bồ thiết tha nồng nàn như cô Quyên thôi.

– Vậy chị nói em nghe vì sao?

– À. Là vì mối tình đó quá sâu đậm trong lòng ông ta. Tình xưa ào ạt như một dòng sông chảy xiết, mấy chục năm bị dừng ngắc lại bởi con đập lý trí, bây giờ rượu như khối thuốc nổ moi thủng một lỗ. Vậy là con đập luân lý vững chãi tuy không vỡ nhưng cũng bị thủng một lỗ và ký ức xả ra. Chị hiểu không?

Bà An im lặng tần ngần. Tôi đoán là bà cũng chỉ hiểu được phần nào lời tôi nói. Người nông dân đơn sơ chất phác, suốt đời lam lũ với ruộng đồng và những tính toan cơm áo, chưa bao giờ trải qua những biến động tâm lý đó làm sao hiểu được. Tôi nói thêm:

– Nhưng mà vẫn phải nể ông Luân đấy. Ông ấy có trách nhiệm với con cái. Đàn ông không phải ai cũng làm được như vậy đâu.

– Ừ thì ông ấy rất thương con. Tính ông ấy hiền lắm.

– Thế con ông ấy có đẹp được như ông ấy không?

– À. Lạ là chúng nó khổ vậy mà đứa nào cũng đẹp nhé. Đứa nào cũng cao lớn khỏe mạnh.

– Tôi đến đây ở mấy ngày, tôi cũng cảm nhận cái triền núi này rất có linh khí. Khi tôi thiền, địa khí dào dạt dâng lên. Mà quan sát mấy nhà xung quanh đây cũng thấy vậy.

– Là sao?

– Thì đó. Lấy nhà ông Luân làm trung tâm: ông ấy đẻ được 3 thằng con trai. Bên kia là nhà chị, sáu đứa, ba trai ba gái. Bên này, nhà tay Lam, đẻ một lúc bốn thằng. Toàn những thanh niên khôi ngô sáng sủa. Dưới chân đồi là nhà anh cháu thợ mộc của chị, tôi đến một lần mà cũng ngạc nhiên với mấy đứa nhỏ. Lấm lem bùn đất mà đẹp như tiên đồng ngọc nữ vậy. Đất này rất tốt đó. Anh chị đừng bán nhà mà đi đâu nhé.

– Nhà tôi thì có đi đâu được. Ở đây hết đời thôi.

– Thế cô Quyên kia bây giờ sống ở đâu?

– Chị đi quá cửa hàng vài trăm mét, có cái nhà có giàn mướp trèo lên cổng, chính là nhà cô ta.

– Cô ta có lấy chồng chứ?

– Có chứ. Sau cô ấy lấy một tay giang hồ, gầy như thằng nghiện. Giờ ốm nằm một chỗ.

– Cô ta làm ăn được không?

– Làm ăn giỏi lắm. Cô nuôi hươu, cả nuôi dê. Một thời nhung được giá nên cô ấy phất lắm. Những lúc nông nhàn còn lên trông cửa hàng cho con gái ở trên Phố.

– Giờ cô ấy còn bán nhung hươu không?

– Có. Cô ta vẫn bán. Có điều giờ người mua ít hơn trước.

Tôi bị thôi thúc bởi một nỗi tò mò: người đàn bà ấy, đã xử lý cái bếp than hồng cháy bỏng trong lòng mình thế nào sau khi từ giã tình yêu? Vì vậy, một buổi sáng tôi đi xuống rìa làng.

Con đường bao quanh xóm núi ngăn cách những ngôi nhà vườn thanh bình với cánh đồng ngô mênh mông, mới được đổ bê tông xong ngày hôm kia. Một cái cổng có giàn mướp lúc lỉu quả bên đường. Ngó vào, tôi thấy trong sân lát gạch đỏ rực, một người đàn bà đang quét sân. Tôi gọi:

– Chị ơi!

Người đàn bà quay đầu lại:

– Có gì không chị?

– Thấy nói chị có nhung hươu bán phải không?

– Có ạ. Mời chị vào đây.

Tôi vốn chẳng có nhu cầu dùng nhung hươu, cũng như bất cứ loại dược phẩm dược liệu nào nhưng muốn “điều tra xã hội” thì phải vậy.

Chị ta chỉ vào bộ bàn ghế đá đặt ở góc sân, phía sau là cái giếng khơi và luống cà tím sum suê. Người đàn bà lấy ấm ra khỏi giành tích, rót ra một bát nước chè xanh rờn đẩy về phía tôi.

Rồi Quyên nhanh nhẹn vào nhà, lấy ra một cặp nhung hươu màu vàng nhạt, bóng mướt như rêu, đặt giữa bàn rồi nói:

– Ngoài thị trường bán 1,2 triệu đồng một lạng. Em chỉ lấy chị 1 triệu thôi. Nhung của em là nhung xịn. Cặp này vừa cắt hôm qua. Chị có muốn xem hươu thì em đưa ra xem.

– Ừ. Cho chị ra xem với.

Quyên đưa tôi đi vòng ra phía sau nhà. Ở đó có một cái chuồng lưới thép sạch sẽ. Năm chú hươu sao đang con đứng con nằm. Có con đang nhóp nhép ăn thức ăn trong máng. Quyên chỉ cho tôi con hươu là chủ nhân của cặp gạc đang để ngoài sân. Trên trán nó, hai cái chân gạc còn được băng bó cẩn thận bằng băng y tế. Tôi cũng chỉ kiếm cớ mà gần gũi với gia chủ chứ không có nhu cầu nghiên cứu kỹ nên đứng tí rồi đi ra.

Quyên vào nhà lấy cái cân ra cân, rồi bọc cái gạc lại, cho vào hộp các-tông rồi dặn dò tôi cách bảo quản và pha chế. Trả tiền xong, tôi hỏi:

– Chị có mấy cháu? Chắc trưởng thành cả rồi ha?

– Em có 3 cháu. Hai trai một gái. Chúng nó có gia đình cả rồi. Chỉ có đứa con gái út là sống ngoài Phố. Còn hai đứa con trai sống trong Nam.

Minh họa: Bá Siếu

Tôi nhìn quanh ngôi nhà ngói trông khang trang. Một pho tượng Chúa Giêsu nghiêm trang ở gian giữa. Phía sau ngôi nhà này là những mái ngói, vườn cây lô xô, tiếp theo là ngọn núi Gấm hiền hòa che chở. Trước sân, vườn rau xanh tốt được bao quanh bởi một hàng rào cây dứa đang mùa quả ương mọng, chen với hàng bạch đàn mới lớn. Cuối vườn, những con dê “chen vai thích cánh” trong chuồng, thỉnh thoảng be lên một tiếng. Sau hàng rào dứa và bạch đàn, con đường liên xóm vắng vẻ chạy len giữa làng và cánh đồng mênh mông xanh. Một chiếc xe máy vừa phóng qua khuấy động không gian.

Tôi quay lại nhìn Quyên. Dáng người tầm thước, đậm đà, gương mặt tròn với nước da nâu toát lên vẻ xốc vác. Trái lại, cặp mắt đen thẳm làm tôi liên tưởng đến những hồ nước ẩn chứa dưới đáy những sắc màu buồn bã rong rêu. Tôi hỏi:

– Anh nhà làm gì em?

– Ông chồng em giờ ốm lắm chị. Đang nằm trong nhà.

– Quyên trông tướng mạo đảm đang tháo vát lắm nha. Ông nào lấy được Quyên là có phúc lắm đó.

Quyên cười buồn buồn:

– Mình làm người ta sướng, chắc gì người ta thấy sướng chị ơi.

Chị im lặng một lúc, rồi nói:

– Ngày xưa, em từng yêu một người, từng nghĩ mình sẽ đem tuổi trẻ, đem cả cuộc đời của mình dâng tặng họ, rồi dắt tay nhau đi đến tận cùng năm tháng. Nhưng, trớ trêu là người ấy lại không thể sống vì em.

– Vậy sao? – Hỏi bâng quơ vậy, nhưng trong đầu tôi lại nghĩ “tình yêu làm cho một bà nông dân cũng trở thành nhà thơ”.

Quyên nói như không có tôi ở trước mặt:

– Nhớ lần hợp tác xã mới nhập về cái máy kéo, giao cho ông ấy lái. Ông ấy học lái thế nào mà mất lái, lật xe, đập đầu lên cái cọc bê tông bên đường, chân thì bị máy kéo đè dập nát, máu chảy lênh láng. Em nghe tin, hốt hoảng chạy đến, cùng mọi người đưa ông ấy đi cấp cứu. Ông Chủ tịch xã nói đưa ông ấy lên bệnh viện huyện, nhưng em khăng khăng đưa lên bệnh viện tỉnh. Ông Chủ tịch xã hay vay tiền của em, nên em nói là ông ta nghe liền à. Cũng nhờ đó mà không chết chứ đến bệnh viện huyện có khi chết rồi. Lên đến nơi, người ta xem xét, bảo mất máu nhiều quá, hỏi ai có thể cho ông máu? Kiểm tra ra thì chỉ có em là có thể cho máu ông ấy, vì em nhóm máu O, còn ông ấy nhóm máu AB. Khi họ lấy máu của em, em cứ năn nỉ họ lấy cho đủ để cứu ông ấy, em không sao. Kết quả là em xỉu luôn. Tỉnh dậy thấy mình nằm bên cạnh giường ông ấy, còn ông ấy thì đang nằm nhìn em.

– Rồi sao?

– Bà vợ của ông ấy chạy đến, lại thấy em nằm giường bên cạnh thì nói, “có cô Quyên đây tốt quá. Cô thay tôi trông ông ấy cái nhé, tôi về cho ba đứa nhỏ ăn cơm.” Em bảo, “chị cứ thoải mái mà về lo cho bọn nhỏ. Có em đây, em chăm anh ấy cho.” Thế là bà ấy về. Vài ba ngày mới đến một lần. Thật ra thì cũng tội, bệnh viện tỉnh quá xa, con thì nhỏ, mà ngày ấy mượn được cái xe đạp cũng đã khó.

– Thế ở bệnh viện mấy ngày?

– Ở tròn một tuần luôn.

– Vậy ở làng có ai nói gì không?

– Nói gì. Em nói ông Chủ tịch xã tuyên bố ông ấy bị tai nạn khi đang làm việc cho xã, nên xã có trách nhiệm cử cô Quyên chăm sóc.

– Một tuần ở đó vất vả hay là hạnh phúc?

Quyên mỉm cười:

– Em chăm ông ấy đúng như một người vợ chăm chồng. Cơm, cháo, thuốc thang. Em còn gửi mua nhung hươu, nhờ người ta chưng cho luôn, đưa lên bệnh viện cho ông ấy ăn. Những ngày đó, em thấy yêu thương và hạnh phúc vô cùng.

– Ông ấy có thấy hạnh phúc như em thấy không?

– Chắc là ông ấy cũng hạnh phúc. Những lúc chỉ có hai người, mà thường thì cũng chỉ có hai người – bệnh viện ngày đó vắng chứ không đông đúc như bây giờ, chúng em nhìn nhau không chán mắt. Em nói: “Chúng mình mãi mãi như thế này anh nhé?”. Ông ấy trả lời: “ừ, em yêu!”.

– Vậy giờ em có còn yêu họ nữa không?

– Cũng không biết nữa chị. Ngày ông ấy nói chia tay, em đau muốn vỡ tim mà chết. Muốn đập phá, muốn tự tử, muốn giết một ai đó mà chỉ có thể im lặng. Ngày ngày vẫn phải đi làm, vẫn chăm sóc cha mẹ già, vẫn chào hỏi cười nói… Rồi đến lúc, cha mẹ ép quá, em lấy chồng. Rồi lo con cái, kinh tế gia đình, dần dần thấy cái dằm trong tim mình cũng chai dần, không còn sắc như trước.

– Vậy giờ thì sao?

– Giờ em không còn nghĩ tới họ lúc ban ngày nữa. Nhưng đêm đêm, một giấc mơ cứ lặp đi lặp lại. Em không hiểu tại sao lại vậy.

– Giấc mơ thế nào?

– Em thấy họ và em là vợ chồng. Rồi em thấy máy bay với bom đạn ầm ầm, rồi lại thấy người ấy, có lúc thì bay la đà trên ngọn cây, có khi thì chạy rất nhanh theo những con hào giao thông… Em vừa đuổi theo, vừa gọi, vừa khóc. Nhưng không bao giờ đuổi kịp. Tỉnh dậy, khi nào gối cũng đầm đìa nước mắt.

Quyên lại nói:

“Sao Chúa không tác hợp người ấy cho con? Mà lại bắt con phải đau khổ thế này?” Em thường hỏi câu đó mỗi khi quỳ trước tượng Chúa.

Có lẽ Chúa muốn em học một bài học nào đó. Chúng ta sinh ra đời này đều là để học một hay nhiều bài học nào đó.

Im lặng một lát, Quyên lại nói:

– Cái xóm này nó nhỏ quá, nên mỗi gốc cây, lối rẽ, bờ ruộng đều làm em nhớ tới người ấy. Em luôn như thấy hình dáng của ông trước mặt, không làm sao quên được. Nhiều khi em cứ nghĩ, làm sao để đi cho hết cuộc đời này? Cái gánh nặng tình cảm đó, thật sự nó nặng quá.

Tôi nhìn Quyên, càng lâu càng ngạc nhiên. Ở góc núi này, cô ấy có ai đồng cảm để mà chia sẻ không? Hay suốt đời phải ôm trong tim một khối tuyền đài như đá tảng? Tình yêu, nó có sẵn trong tiềm thức của mỗi người, chỉ chờ được mồi lửa. Chỉ là cái miền sơn cước này nó tĩnh lặng quá đấy thôi.

Tôi cười:

– Vậy là cái dằm trong tim nó chưa cùn đi chút nào đâu nhé. Nó chỉ bị bọc mỡ nên đỡ đau thôi.

Lại một khoảng lặng. Quyên ngồi nhìn ra cánh đồng. Có lẽ cô đang nhớ.

Một lát sau, Quyên quay sang hỏi:

– Chị ở đây đến bao giờ về?

– Mai tôi về rồi.

– Chị về rồi lại sang đây chơi nhé.

Tôi chào Quyên về. Rồi hôm sau về Vinh, để lại sau lưng một vùng quê yên tĩnh, ở đó có những con người chất phác, lam lũ, sống an nhiên không một chút sân si, có những đứa trẻ như khoai như sắn, lớn lên trong đói khổ mà vẫn phổng phao nhờ hít thở hương trời gió núi, và có một tâm hồn khác lạ, như hồ nước sau mùa giông bão, giấu lòng sâu của mình dưới những cơn sóng xao…

Huệ Hương Hoàng