Dazai Osamu (19/6/1909 – 13/6/1948?) là một nhà văn Nhật Bản tiêu biểu cho thời kỳ vừa chấm dứt Thế chiến thứ Hai ở Nhật. Dazai sống và viết cùng một nghĩa như nhau, thành thực mà bi đát. Ông thường được nhắc tới như một thành viên tiêu biểu trong văn phái Buraiha (Vô Lại Phái) của Nhật Bản. Truyện ngắn “Người mang lốt cá” được dịch từ nguyên tác 魚服記 (Gyofukuki/ Uofukuki) của Dazai Osamu, ra đời vào năm 1933, đăng trên tạp chí 海豹 (Kaihyou), sau các kinh nghiệm cận tử đầu tiên của ông. Dù là một trong những trang viết đầu tay, nhưng truyện ngắn này đạt đến sự toàn bích về mặt nghệ thuật cũng như thể hiện đầy đủ mầm mống nhân sinh quan lẫn thế giới quan của Dazai Osamu. Về mặt nghệ thuật, tác phẩm này ra đời trong hoàn cảnh chưa ai biết đến hiện sinh, phi lý, chủ nghĩa huyền ảo, phê bình huyền thoại, lý thuyết liên văn bản,… Nhưng phân tích hết lớp lang của nó, ta sẽ bắt gặp được nhiều điều mới lạ nếu không muốn nói là đi trước/ đi xa so với thời đại văn học đó, không chỉ ở Nhật Bản mà cả trong lịch sử văn học thế giới. Muốn hiểu được bản tính tự nhiên của Osamu, thì không thể không đọc thiên truyện này.
I
Nơi tận cùng phương Bắc của miền Honshu xa xôi có một dãy núi gọi là Bonju. Chẳng qua chỉ là dãy đồi núi thấp lô xô nối liền nhau nên hoàn toàn không được ghi chép lại trên bản đồ thông thường. Nghe kể lại rằng, từ thuở xa xưa, đây là vùng biển mênh mông và Yoshitsune trong khi bôn tẩu đã dẫn thuộc hạ ngược lên tận miền Bắc và ông muốn giong thuyền qua nơi đây để băng đến vùng đất xa xôi của người Ezo. Lúc đó, con thuyền của bọn họ đã đâm phải ngọn núi này. Vết tích của sự va chạm ấy vẫn còn lưu lại đến ngày nay trên một ngọn núi nhỏ rậm rạp ở lưng chừng dãy núi. Ðó là một vách núi đất đỏ rộng chừng một khoảnh ruộng.
Ngọn núi nhỏ đó được người ta gọi là núi Mahage, tức là núi Ngựa Hói. Vì khi nhìn ngắm từ ngôi làng dưới chân núi, người ta nói rằng vách đá đó trông rất giống hình thù một con ngựa đang phi nước đại, nhưng thực ra lại giống như khuôn mặt nhìn nghiêng của một ông lão già nua khắc khổ.
Vì cảnh sắc phía sau ngọn núi Mahage tuyệt đẹp thế nên vùng đất này lại càng trở nên nức tiếng thêm. Dưới chân núi là một làng nhỏ nghèo nàn và hiu quạnh với vỏn vẹn hai ba chục nóc nhà đó đây. Nhưng chỉ cần đi ngược con sông chảy ven làng lên hai dặm nữa, sẽ qua được phía sau ngọn núi Mahage, ở đó, có một thác nước cao gần mười trượng đổ xuống trắng xóa. Từ cuối hạ sang thu, khi ngàn cây thay màu lá đỏ rực rỡ cũng là mùa mà núi rừng trở nên xao động hơn vì người khắp các thị trấn xung quanh dập dìu dắt nhau lên đây thưởng ngoạn. Thậm chí ngay ở cạnh chân thác nước, lưa thưa vài quán trà nhỏ được tạm bợ dựng lên đón khách.
Vào độ cuối mùa hạ năm nay, đã có người chết nơi thác nước này. Ðó chẳng phải là cái chết vì cố ý, hoàn toàn chỉ là sự không may đáng thương. Một chàng sinh viên trắng trẻo nọ từ đô thành xa xôi đã đến vùng núi non này, vì nơi đây mọc lên nhiều loài dương xỉ hiếm có vô cùng nên không lạ gì khi có biết bao người sưu tầm thảo mộc thường xuyên viếng thăm.
Bao quanh cái hồ dưới chân thác ở ba phía là ba vách đá chót vót, chỉ chếch về phía tây là có hơi lộ ra một khoảng hẹp để rồi từ đó, con sông ở sâu trong hẻm núi ầm ào dội vào những tảng đá lớn rồi cuồn cuộn lao đi. Bọt nước đã thấm ướt vách núi kia muôn kiếp muôn đời. Những nhành dương mọc um tùm đó đây trên các kẽ đá cheo leo cứ lay động dập dờn không dứt trong tiếng thác rền vang.
Chàng sinh viên nọ đã leo lên vách núi này. Lúc đó đã quá trưa, nhưng nắng đầu thu vẫn còn vắt ngang một dải ánh sáng rạng ngời trên đỉnh vách núi. Khi vừa ngang lưng chừng, viên đá cỡ bằng đầu người mà chàng đang đặt chân lên đã đột ngột vỡ vụn như đất tơi. Cả người chàng, như bị xé khỏi sườn núi, rơi thẳng xuống. Ðang rơi giữa chừng, thân thể chàng đã mắc vào nhánh cây khô của một gốc cổ thụ mọc chìa ra chơ vơ nơi vách núi. Nhánh cây gãy răng rắc. Một âm thanh kinh hoàng vang lên rồi chàng bị ném mạnh xuống vực thác.
Có bốn năm người đúng lúc đó tình cờ ở gần bên ngọn thác nên đã tận mắt nhìn thấy cảnh tượng hoang mang đó. Nhưng mà thấy rõ ràng nhất là cô gái mười lăm tuổi của quán trà dựng bên vực thác.
Chàng ta bị dòng nước cuốn xuống đáy thác một lần, rồi phần thân trên nhẹ nhàng nổi lên bập bềnh trên mặt nước. Ðôi mắt nhắm nghiền lại nhưng miệng he hé mở ra. Chiếc áo màu xanh bị rách lỗ chỗ, túi đựng thảo mộc sưu tầm vẫn còn đeo trên vai.
Rồi sau đó, cứ thế mà bị xoáy chìm xuống vực nước thăm thẳm sâu trong chớp mắt.
II
Vào những ngày trời trong xanh, từ độ chuyển mùa sang xuân kéo dài đến độ chuyển mùa sang thu, có thể thấy rõ những sợi khói trắng bàng bạc như tơ trời bốc lên lững lờ từ núi Mahage, ngay cả khi đứng thật xa mà nhìn. Người ta bảo, lúc này, cây cối trên núi xum xuê tốt tươi, rất hợp để đốt than, nên những người làm nghề ấy cũng trở nên bận rộn hơn thường lệ.
Trên núi Mahage có hơn mười lều đốt than rải rác đó đây. Bên thác nước cũng có một cái, và nó nằm tách biệt hẳn so với những lều khác – vì người đốt than ở đây vốn là người đến từ vùng đất khác. Cô gái ở quán trà bên thác nước chính là con của người đàn ông trong túp lều này. Tên cô là Suwa. Năm tháng trôi qua, hai cha con cứ nương tựa vào nhau mà sống một cuộc đời lặng lẽ nơi núi rừng heo hút.
Năm ấy, Suwa mười ba tuổi. Cha cô dựng bên hồ nước dưới chân thác một quán nước nho nhỏ, đơn sơ chỉ với mấy thân cây tạp được đẽo gọt thô sơ cùng vài tấm liếp cỏ yoshizu. Trong quán, ông xếp mấy chai ramune, vài chiếc bánh gạo mặn, ít kẹo mạch nha trong veo, với dăm ba thức bánh dân dã rẻ tiền.
Khi mùa hạ đến gần cũng là lúc bắt đầu thấy người từ dưới thị trấn lên thăm thú miền rừng núi này. Không đông, chỉ lác đác vài bóng thấp thoáng trong rừng. Sáng nào cha cũng mang chừng ấy món hàng trong chiếc giỏ tre, rồi đi bộ ra quán. Suwa, bằng đôi chân trần bé bỏng, cứ lẽo đẽo đi sau. Cha cô để hàng xuống rồi lặng lẽ quay về lều than. Cô bé thì ở lại một mình để trông coi quán, giữa tiếng thác đổ rì rào không dứt.
Mỗi khi thấy bóng người dù chỉ là thấp thoáng qua dưới tán lá trong rừng, Suwa lại lanh lảnh gọi to: “Xin ghé lại nghỉ chân một lát ạ!” bởi cha đã dặn cô phải mời chào như vậy. Nhưng tiếng gọi mời của Suwa, dù cho chất giọng của cô bé trong trẻo, lảnh lót thế nào đi nữa cũng bị tiếng thác nước nuốt chửng nên không thể níu lại cái ngoảnh đầu của khách qua đường. Có biết bao nhiêu ngày mà cô bé không thể nào kiếm được năm mươi xu.
Khi bóng chiều vàng ruộm khắp rừng núi, người cha lại rời túp lều đốt than đến để đón Suwa với toàn thân bám đầy bụi than đen kịt.
“Ðã bán được bao nhiêu?”
“Chẳng được gì cả.”
“Vậy à, vậy à.”
Người cha vừa lẩm bẩm với vẻ hững hờ vừa ngước mắt nhìn lên ngọn thác chót vót. Sau đó, hai cha con âm thầm thu dọn mấy thức bánh kẹo nghèo nàn ấy vào lại trong giỏ tre rồi lầm lũi dắt nhau về túp lều đốt than.
Công việc hàng ngày của hai cha con cứ đều đặn như vậy cho đến khi những đợt sương giá đầu mùa bắt đầu đổ xuống.
Ðể Suwa lại một mình trông coi quán lá đìu hiu đó cũng không có gì phải bận lòng. Vốn dĩ là một đứa quỷ ranh được sinh ra nơi núi rừng nên lo lắng rằng cô bé sẽ bị trượt khỏi ghềnh đá hay bị hút xuống hồ dưới chân thác sâu là điều thừa thãi. Những ngày nắng trời lên cao, Suwa trần truồng bơi ra đến tận gần dòng thác. Dẫu trong dòng nước, nếu thấy bóng dáng ai như khách qua đường, cô bé sẽ hất mạnh mái tóc hoe đỏ ra sau rồi cất tiếng mời lanh lảnh: “Hãy nghỉ chân một chút rồi đi ạ”.
Còn những ngày trời âm u mưa, Suwa cuộn mình trong tấm chiếu rơm mà ngủ trưa nơi góc quán trà. Trên mái tranh, cây sồi già giương tán lá rậm rạp ra như ôm lấy để chở che cho quán nhỏ này.
Suwa trước đây vẫn thường nhìn ngắm ngọn thác và chờ đợi rằng:
“Bao nhiêu nước cứ đổ mãi như vậy thì chắc chắn cũng sẽ có ngày cạn mất thôi”.
Và cô bé cứ ngạc nhiên thêm mãi:
“Vì sao hình dạng của thác nước lúc nào cũng giống hệt nhau như vậy nhỉ?”
Nhưng gần đây, cái suy nghĩ đó dường như đã trở thành một nỗi băn khoăn mơ hồ cứ bám sâu từng chút một trong lòng Suwa.
Suwa nhận ra rằng hình dạng của thác nước chưa bao giờ thực sự giống nhau. Từ những đường nét bắn tung tóe của bụi nước cho đến độ rộng của dòng thác, tất cả đều không ngừng thay đổi, chớp mắt đã khác. Ðến cuối cùng, cô bé đã nhận ra một điều rằng: dòng thác không phải là nước – mà là mây. Chỉ cần nhìn cảnh tượng nước từ miệng thác đổ xuống rồi cuồn cuộn bốc lên trắng xóa cũng thấy ra điều này. Huống hồ chi, nước làm sao mà có thể trắng đến như thế được, Suwa đã tư lự như vậy.
Ngày hôm đó, Suwa cũng ngẩn ngơ đứng bên cạnh thác nước. Trời ảm đạm mây mù và những ngọn gió lạnh mùa thu thổi rát buốt lên đôi má rám đỏ của cô bé.
Cô bé đang nhớ lại một câu chuyện xưa. Có một lần, cha ôm Suwa vào lòng, vừa trông coi lò than vừa rỉ rả kể cho Suwa nghe câu chuyện về hai anh em tiều phu Saburo và Hachiro. Một ngày nọ, người em Hachiro bắt được bao nhiêu là cá yamabe nơi con sông trong hẻm núi liền đem về nhà. Nhưng trong khi người anh Saburo từ trên núi chưa quay về nhà, Hachiro bèn đem một con cá đi nướng rồi ăn thử. Khi ăn vào thấy ngon quá đỗi, Hachiro ăn thêm hai, ba con nữa, rồi ăn hết con này đến con khác không cách chi dừng được, chẳng mấy chốc mà lỡ ăn hết sạch cả. Ăn xong rồi, cổ họng Hachiro khô khốc không thể nào chịu nổi, uống cạn cả giếng nước, Hachiro lại chạy ra bờ sông ven làng tiếp tục uống nước nữa. Trong lúc uống nước, những vết đốm và vảy cá nổi lên lỗ chỗ khắp mình mẩy Hachiro. Khi Saburo vừa chạy về tới nơi thì Hachiro đã hóa thành con mãng xà đang quẫy mình dưới sông.
“Hachiro ơi!”
Khi Saburo cất tiếng gọi em, thì con rắn khổng lồ dưới sông bỗng trào nước mắt đáp lời:
“Anh Saburo ơi!”
Người anh đứng trên bờ, người em ở dưới sông thảm thiết gọi nhau trong nước mắt nhưng cũng chẳng thể làm gì được nữa.
“Anh Saburo ơi!”
“Hachiro ơi!”
Khi nghe câu chuyện này, Suwa quá đỗi xót thương, đến nỗi vừa ngậm lấy ngón tay bám đầy bụi than của cha vừa khóc rấm rức.
Suwa tỉnh giấc khỏi dòng mơ tưởng xa xăm và chớp chớp mắt với vẻ nghi ngờ. Thác nước đang cất lời rì rầm thầm thĩ: “Hachiro ơi, Saburo ơi, Hachiro ơi!”
Người cha bất chợt vạch bức tường lá thường xuân đỏ thắm qua một bên rồi bước ra.
“Suwa, bán được bao nhiêu?”
Suwa không đáp lại. Cô bé đưa tay xoa mạnh cái chóp mũi đang sáng bóng lên vì bám đầy bụi nước. Người cha dọn dẹp quán trà trong im lặng.
Trên con đường núi dẫn về túp lều đốt than không xa lắm, hai cha con Suwa vừa rẽ đám cỏ trúc lùn rậm rạp vừa bước đi.
“Cũng đã đến lúc dẹp quán rồi đây.”
Người cha chuyển cái giỏ tre từ tay phải sang tay trái. Mấy chai nước ramune lanh canh vang lên.
“Tiết chuyển thu đã qua rồi không còn ai lên núi nữa đâu.”
Mặt trời dần dần chìm xuống, trong núi chỉ còn lại tiếng gió hoang vu. Lá sồi và lá linh sam khô thỉnh thoảng rơi từng loạt xuống hai người như mưa tuyết.
“Cha ơi!”
Suwa lên tiếng từ phía sau lưng cha.
“Cha sống vì điều gì vậy cha?”
Bờ vai gồ ghề rộng của cha Suwa bất giác giật thót. Nhìn chăm chú vào khuôn mặt nghiêm nghị của Suwa, ông lẩm bẩm một mình:
“Cũng không biết nữa.”
Suwa vừa nhai đọt ngọn cỏ lau trong tay vừa trả lời:
“Chết quách đi còn tốt hơn.”
Người cha đã giương tay lên. Ông toan tát cho cô bé một cái. Nhưng rồi lại lặng lẽ buông tay xuống.
Người cha nhanh chóng nhìn ra được rằng Suwa đang nổi nóng, và vì nghĩ cô bé sắp sửa trở thành phụ nữ trưởng thành thực sự nên lúc đó ông đã nhẫn nhịn mà tha cho.
“Cũng nên vậy, cũng nên vậy nhỉ…”
Nghe câu trả lời hời hợt đến mức vô vọng của cha, Suwa cảm thấy nực cười và ngớ ngẩn, cô bé phun đọt cỏ lau ra:
“Ngu ngốc, ngu ngốc!”

III
Lễ Obon đã đi qua, quán trà đã đóng cửa, mùa mà Suwa ghét nhất cũng đã bắt đầu đến rồi.
Dạo này, cha của Suwa cứ bốn năm ngày lại quẩy gánh than xuống thôn làng dưới chân núi để bán. Cũng có thể nhờ người ta đi bán hộ, nhưng nếu làm như vậy sẽ tốn một khoản kha khá, những mười lăm đến tận hai mươi xu, thành ra đành để cô bé lại một mình trong lều than.
Những ngày trời xanh đầy nắng, trong khi cha quẩy than đi bán chưa về, Suwa liền ra khỏi túp lều nhặt nhạnh tìm hái nấm. Người cha cũng kiếm được năm sáu xu một bao than, nhưng chỉ với chừng ấy thôi thì không đủ sống, nên đã quyết định để cho Suwa đi tìm hái thêm nấm rồi sẽ mang xuống làng bán.
Loại nấm đậu nho nhỏ, bóng nhớt nameko là loại đậu bán được giá cao, nó thường mọc chen chúc trên những thân cây gỗ mục rậm rì cây dương xỉ. Mỗi lần ngắm nghía những vạt rêu như vậy, Suwa lại chạnh nhớ đến người bạn duy nhất của mình. Cô bé thích rắc lên cái giỏ đầy nấm một lớp rêu xanh rì rồi mới đem về túp lều.
Khi nào mà bán được than hay nấm với giá hời, người cha thế nào cũng quay về với mùi nồng rực hơi rượu. Thỉnh thoảng, cả Suwa cũng được mang về cho một cái ví bằng giấy xinh xắn có đính thêm một chiếc gương nho nhỏ, hay một cái gì đó.
Một ngày nọ, núi rừng ngay từ buổi sáng đã trở nên tiêu điều vì những cơn gió đầu đông sắc lạnh và mấy tấm liếp cỏ treo ở quanh lều bị hất rung lên nhè nhẹ. Cha đã xuống làng từ tinh sương.
Suốt cả ngày, Suwa không hề rời khỏi túp lều. Hôm nay thật là ngày đặc biệt thay, Suwa thử vấn tóc. Ở chân tóc đã được cuốn tròn kỹ càng, Suwa cài lên một chiếc takenaga có họa tiết hình sóng lượn, vốn là món quà lưu niệm tại địa phương được cha mua cho. Rồi sau đó, nhóm một đống lửa thật lớn chờ đợi cha quay về. Suwa nghe thấy biết bao lần tiếng rền của muôn thú văng vẳng lại hòa lẫn trong tiếng xao xác của ngàn cây.
Mặt trời đang dần dần khuất bóng, Suwa đành ăn cơm tối một mình. Bữa cơm tối có cơm nấu từ tạp cốc và ăn kèm với tương miso nướng.
Khi màn đêm buông xuống, gió lắng dần đi, và cái hơi lạnh của núi rừng lặng lẽ thấm sâu vào da thịt. Giữa buổi tối yên tĩnh đến lạ thường như vậy, trên núi hẳn sẽ có điều gì đó bí ẩn xảy ra. Suwa lắng tai nghe thấy tiếng Tengu đốn ngã răng rắc những thân cây cổ thụ, rồi ngoài cửa lều dường như có tiếng ai đó đang xan xát đãi đậu đỏ và từ đâu đó xa xôi trong núi sâu, tiếng cười của Dã nhân vọng lại rõ mồn một.
Ðã trông đợi cha về đến mỏi mòn, Suwa khoác chiếc áo khoác vải nhồi rơm rồi ngủ thiếp đi bên bếp lửa. Trong giấc ngủ chập chờn, cảm giác như có ai đó thỉnh thoảng len lén vén tấm liếp cỏ trước cửa lều nhìn trộm vào. Kìa, Dã nhân đang nhìn trộm, cứ đinh ninh như vậy, Suwa nằm im thin thít giả vờ ngủ say.
Nhờ chút ánh sáng leo lét còn sót lại từ bếp lửa tàn, Suwa lơ mơ trông thấy cái gì đó trăng trắng đang lất phất bay vào nền đất nơi lối vào. A! Tuyết đầu mùa về rồi, dù đang trong cơn mơ màng mà lòng Suwa cũng reo lên rộn ràng.
Ðau quá! Cơn đau âm ỉ. Thân thể nặng trịch đến tê dại. Liền đó, nghe thấy cả hơi thở nồng nặc ấy.
“Ngu ngốc!” Tiếng thét của Suwa khô đanh.
Không nhận biết gì nữa cả, cứ vậy mà lao ra ngoài.
Bão tuyết! Bão tuyết đột nhiên táp thẳng vào mặt. Suwa bất giác ngồi sụp xuống mà không gượng dậy được. Trong chớp mắt, trắng xóa hết cả mái tóc và cả tấm áo của cô bé.
Suwa gượng dậy, thở hổn hển từng hơi mệt nhọc run run cả bờ vai, rồi lê từng bước lầm lũi. Manh áo bị những cơn gió hung bạo giằng giật tứ tung. Ðôi chân Suwa cứ mê mải bước không ngừng.
Tiếng thác nước vọng lại ngày càng rõ. Suwa cứ lê bước không ngừng. Cô bé liên tục lau nước mũi bằng lòng bàn tay. Tiếng thác nghe như ngay ở dưới chân Suwa.
Từ giữa khe hẹp của rừng cây rụng lá mùa đông đang gào thét cuồng loạn, Suwa khe khẽ gọi: “Cha ơi!”
Rồi lao mình xuống.
IV
Lúc nhận ra thì chung quanh chỉ là một vùng lờ mờ tăm tối. Có thể cảm thấy được một cách huyễn hồ tiếng thác nước ầm ào réo động. Và cảm giác được thác nước ở ngay phía trên đầu mà thôi. Thân thể cũng đung đưa, lắc lư theo âm thanh dữ dội ấy và cái lạnh thấm buốt đến tận xương cốt.
“A, ở đây là dưới đáy nước rồi.” – hiểu ra điều ấy sao mà nhẹ lòng đến lạ. Thoải mái biết bao nhiêu.
Bất chợt, lúc duỗi chân ra thì trôi về phía trước mà không gây ra tiếng động nào cả. Chóp mũi thì suýt chút nữa thôi đã va phải mõm đá ven bờ.
Mãng xà!
“Mình đã biến thành mãng xà rồi đó ư? Thật là vui mừng, mình không còn có thể quay lại túp lều đó nữa rồi”, lẩm bẩm một mình và đôi râu mép ngoe nguẩy lên không ngừng.
Ðó rõ ràng là một con cá diếc bé nhỏ. Chẳng qua con cá diếc chỉ há miệng hớp hớp liên tục và không ngừng ngọ nguậy cái u nhỏ trên đầu mũi thôi mà.
Con cá diếc nọ cứ bơi lượn vòng quanh chỗ nọ chỗ kia nơi vực sâu gần chân thác. Ngay khi quạt quạt vây ngực để ngoi lên mặt nước thì con cá đã quẫy mạnh đuôi rồi lặn xuống đáy nước sâu.
Giữa đáy nước, chú cá nhỏ khi thì bơi theo con tôm mòng, khi thì ẩn mình trong đám rong ven bờ mà nhìn ngắm xung quanh, lại có khi đớp đớp mấy cọng rêu trong các kẽ đá, cứ thế mà chơi đùa.
Sau đó, chú cá diếc lặng im bất chợt. Chỉ thỉnh thoảng phất phơ nhè nhẹ từng chút chiếc vây ngực. Có vẻ như chú đang nghĩ ngợi điều gì đó. Và cứ lặng thinh rung vây như vậy một lúc.
Rồi thì, chú cá diếc nhỏ uốn lượn thân mình lao thẳng về phía vực nước nơi chân thác. Trong chớp mắt đã bị hút vào như chiếc lá xoay tròn.
Nguyễn Hữu Tấn (dịch và giới thiệu)


Dazai Osamu (19/6/1909 – 13/6/1948?) là một nhà văn Nhật Bản tiêu biểu cho thời kỳ vừa chấm dứt Thế chiến thứ Hai ở Nhật. Dazai sống và viết cùng một nghĩa như nhau, thành thực mà bi đát. Ông thường được nhắc tới như một thành viên tiêu biểu trong văn phái Buraiha (Vô Lại Phái) của Nhật Bản. Truyện ngắn “Người mang lốt cá” được dịch từ nguyên tác 魚服記 (Gyofukuki/ Uofukuki) của Dazai Osamu, ra đời vào năm 1933, đăng trên tạp chí 海豹 (Kaihyou), sau các kinh nghiệm cận tử đầu tiên của ông. Dù là một trong những trang viết đầu tay, nhưng truyện ngắn này đạt đến sự toàn bích về mặt nghệ thuật cũng như thể hiện đầy đủ mầm mống nhân sinh quan lẫn thế giới quan của Dazai Osamu. Về mặt nghệ thuật, tác phẩm này ra đời trong hoàn cảnh chưa ai biết đến hiện sinh, phi lý, chủ nghĩa huyền ảo, phê bình huyền thoại, lý thuyết liên văn bản,… Nhưng phân tích hết lớp lang của nó, ta sẽ bắt gặp được nhiều điều mới lạ nếu không muốn nói là đi trước/ đi xa so với thời đại văn học đó, không chỉ ở Nhật Bản mà cả trong lịch sử văn học thế giới. Muốn hiểu được bản tính tự nhiên của Osamu, thì không thể không đọc thiên truyện này.












