Họ Chế ở phường Cửa Lò là một trong những dòng họ có nguồn gốc Chiêm Thành. Dù cùng họ Chế nhưng lại có hai xuất xứ khác nhau: Một là tù binh Chiêm Thành do Cương Quốc công Nguyễn Xí đưa về trong cuộc chinh phục Chiêm Thành năm 1446, sống chủ yếu ở vùng Đồng Sô, Bàu Ó (thuộc phường Nghi Hương cũ). Hai là di dân đến đây từ thời Trần, sống tập trung ở làng Thu Lũng (thuộc phường Nghi Thu cũ). Trong đó, họ Chế làng Thu Lũng luôn tự hào về nguồn gốc và cống hiến của hậu duệ với quê hương, đất nước, tiêu biểu là danh nhân Chế Đình Thông.
Họ Chế ở Thu Lũng (phường Cửa Lò, Nghệ An). Ảnh: TL
Chế Đình Thông với quê hương Thu Lũng
Theo các tài liệu cho biết, ông Chế Đình Thông còn gọi là Nguyễn Đình Thông, sinh năm Bính Thìn (1796), là dòng dõi con cháu của Chế Bồng Nga. Tổ tiên của ông là những người đầu tiên đến định cư ở Nghệ An, trong đó có hai người được nhà Trần phong tước Hầu là Chế Ma Nô Đà Nan tước Hiệu Chính hầu và Chế Sơn Nô tước Á Hầu. Có một thời gian, họ Chế ở Thu Lũng đổi sang họ Nguyễn nhưng chỉ một thời gian ngắn lại đổi thành họ Chế (đây là lý do ông còn có tên gọi Nguyễn Đình Thông).
Một góc phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An nhìn từ trên cao. Ảnh: Hồ Đình Chiến
Sinh ra trong một gia đình tương đối khá giả nên từ nhỏ, Chế Đình Thông đã được cha mẹ cho ăn học tới nơi, tới chốn. Vì tinh thông cả Nho, Y, Lý, Số, ông được dân làng suy tôn làm đầu mục (người đứng đầu của một làng) suốt hơn hai mươi năm (từ năm 1821 đến 1843). Trong thời gian làm đầu mục, ông tận tâm cống hiến cho quê hương Thu Lũng trên nhiều lĩnh vực, từ việc lập Văn hội, xây dựng Văn từ, tu bổ, mua sắm các đồ tế khí cho đền chùa, đình miếu trong làng, đến xin triều đình cấp lại sắc phong thần, lập sổ sách, địa bạ, quy hoạch đất đai của làng… Không chỉ có vậy, những năm mất mùa, ông còn tổ chức quyên góp thóc lúa để cứu giúp xóm làng đang lúc đói kém, giúp người thiếu thốn có chỗ nương dựa… Những người được ông giúp đỡ có thể là bạn bè đồng liêu, họ hàng, làng xóm, thậm chí cả những người không quen biết ông vẫn sẵn sàng giúp họ như người thân của mình.
Ông còn là con người quảng giao, thường giao lưu và kết thân với nhiều văn nhân nổi tiếng như Lang trung Lê Lượng Bạt, Nam Sơn Thám hoa Nguyễn Đức Đạt, Ngự sử Nguyễn Năng Tĩnh, Hiệp biện Nguyễn Toản Phu, Cử nhân Nguyễn Hoằng, Cử nhân Lê Xuân Huyên, Hương cống Vương Tất Đăng… Danh tiếng của ông được tầng lớp văn sĩ, trí thức đương thời kính trọng và bày tỏ lòng ngưỡng mộ.
Đóng góp cho triều đình Huế
Năm 1843, niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 3, Chế Đình Thông được cấp bằng Tượng mục, sung vào quan xưởng ở cục Cứ tượng thuộc bộ Công. Đây là công xưởng của triều đình, chuyên cưa xẻ và chế tác các đồ gỗ để phục vụ các công trình xây dựng cung đình, đền đài, lăng tẩm của nhà vua. Tiếp đó, năm 1845, ông được bộ Công cấp bằng Quyền sai Phó ty tượng cai quản 1344 thợ người Nghệ An. Đến năm 1850, ông tiếp tục được phong chức Phó ty tượng, trật Tòng bát phẩm. Năm 1853, triều đình lại sắc phong bổ thụ ông giữ chức Chánh ty tượng ở cục Cứ tượng, hàm Chánh bát phẩm. Trong suốt thời gian làm việc tại cục Cứ tượng, bằng tài năng và tâm đức của mình, ông luôn tràn đầy nhiệt huyết, chỉ bảo rõ ràng, uốn nắn cho đồng nghiệp những khiếm khuyết, những chỗ chưa được, giúp họ tiến bộ từng ngày. Nhờ vậy, công việc của cơ quan ngày càng hanh thông, thuận lợi. Một vấn đề nữa khiến người thợ trong cục khổ sở là chế độ phu dịch, Chế Đình Thông liền bàn bạc với Hiệp biện Nguyễn Toản Phu quán xuyến mọi việc, lại thêm văn bản xin được nới giảm cho thợ và được triều đình chấp thuận. Anh em trong cục vui mừng, càng trân quý, biết ơn Chế Đình Thông.
Nhà thờ họ Chế phường Cửa Lò (Nghệ An). Ảnh: TL
Sau hơn 10 năm miệt mài cống hiến cho triều đình với nhiều công trình đền đài, lăng tẩm có sự góp sức từ bàn tay và khối óc của ông, cuối năm 1853, ông xin cáo lão về hưu. Các quan trưởng bộ thấy ông tài giỏi, có năng lực nên muốn giữ lại tiếp tục làm việc nhưng do tuổi cao sức yếu, ông đã khước từ.
Bia đá được chụp lại trong khuôn viên nhà thờ. Ảnh: TL
Đối với dòng họ Chế ở làng Thu Lũng, Chế Đình Thông là người có công rất lớn trong việc củng cố dòng tộc, xây dựng họ Chế thành một dòng họ thế phiệt, có tiếng trong vùng. Ông là người chủ trương xây dựng nhà thờ để phụng sự tổ tiên, sắm sửa các đồ tế khí, đặt ruộng tế, tiền tế để lấy hoa lợi phục vụ việc cúng tế giỗ chạp. Ông còn sưu tầm, cất giữ gia phả để con cháu đời sau biết được gốc tích dòng họ và cho khắc những lời răn dạy về nguồn gốc và ý nghĩa của việc thờ phụng lên bia đá để nhắc nhở con cháu đời sau không quên cội nguồn. Ông mất vào giờ Mùi ngày mồng 5 tháng 12 năm Tân Dậu (1861), hưởng thọ 66 tuổi. Sau khi mất, ông được triều đình ban thụy hàm là Sắc thụ Trung Tín hiệu uý và thụy hiệu là Dũng Kiên. Bang biện tỉnh Nghệ An, thăng Bố chánh tỉnh Thanh Hóa, Gia nghị đại phu Lê Lượng Bạt đã soạn bài văn bia ghi lại sự nghiệp và ca ngợi công lao của ông; Thám hoa Nguyễn Đức Đạt nhuận sắc văn bia. Nội dung văn bia có đoạn “Cả cuộc đời để chí vào việc nghĩa…Ông xử sự trong sáng thanh cao, với người khác thì luôn tràn đầy thiện ý, việc công bận rộn thì tự thân gánh vác… Việc nghĩa cử chính là khiến cho người đời ai cũng đều như ông. Được thế thì phong tục tốt đẹp của người xưa đâu xa xôi gì. Con cháu đời sau phồn thịnh há chẳng phải do đó sao?”
Dòng họ Chế phường Nghi Thu cũ (nay là phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An) đón nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh và danh hiệu dòng họ văn hóa năm 2018. Ảnh: TL
Nhà thờ họ Chế ở phường Nghi Thu cũ (nay là phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An) – nơi thờ phụng tổ tiên của dòng họ, trong đó có ông Chế Đình Thông đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2018. Tính đến thời điểm này, đây là nhà thờ họ Chế duy nhất trên địa bàn tỉnh Nghệ An được xếp hạng. Sự ghi nhận này hoàn toàn xứng đáng với công lao của tiên tổ dòng họ Chế với quê hương, đất nước và những giá trị mà con cháu dòng họ đã và đang lưu giữ tại nhà thờ.