Đường về ngoại và hương vị Tết xưa
Những ngày cuối năm cũ, sắp đón năm mới và Tết Nguyên đán, tôi lại nhớ những ngày Tết cách nay gần 80 năm: Tết Nguyên Tiêu, Tết Trung Thu, Tết Độc Lập… Tết nào cũng vui, nhất là những năm hòa bình. Nhưng Tết Nguyên đán là sâu đậm nhất, thiêng liêng nhất với tôi. Nhà tôi nghèo, quanh năm không được bữa ăn no nói gì đến thịt cá, bánh trái. Cha đi bộ đội nhưng dù thiếu thốn bao nhiêu thì mẹ cũng lo cho anh em tôi ăn cơm 3 ngày Tết. Dù chỉ có 3 đến 5 lạng thịt lợn mua ở chợ Đò (xã Nam Cường, huyện Nam Đàn cũ) hoặc đụng chung với hàng xóm, kho với măng hoặc với bí hoặc dưa hồng phơi khô nhưng thơm ngon mùi Tết theo suốt đời người. Làng tôi ở bãi sông Lam, đất phù sa chỉ trồng được ớt cay và mía. Nhiều nhà làm nghề kẹo che (ép mía) làm mật. Nhà nào ép mía nhìn chung là khá giả, có máu mặt trong xóm. Nhà tôi làm gì có mía, trâu bò kéo mật không có nên mùa đông, giáp Tết mẹ tôi lại đi hốt bã mía thuê cho những nhà kéo mật. Công xá họ trả cho chỉ là chai mật mang về cho mẹ con ăn Tết. Nhờ vậy nhà tôi Tết đến vẫn có chè, cháo mật.
Ít năm nhà tôi có nổi 3 cái bánh chưng nhưng mẹ tôi vẫn nhớ sắp cho tôi cơi trầu và cái bánh chưng mang về góp Tết nhà ông ngoại. Chiều 28 Tết năm nào cũng vậy, tôi là con trai trưởng trong nhà nên được mẹ tôi giao trọng trách sang ông ngoại. Gió đông, rét run người, lại mưa phùn lất phất bay vừa đủ ướt tấm áo nâu non mẹ mới may cho nhằm Kẻ Bạ tận Làng Vàng (xã Nam Kim cũ) mà đi với niềm vui háo hức.

Tôi sung sướng tay xách, nách mang vượt cầu Và, men theo bờ nương rậm rạp những cây dứa dại âm u, xào xạc tiếng chim đói mồi nghe rợn người. Men theo đường làng Kẻ Láng là những bụi tre cao vút, đan kẹt nhau lơ phơ những dây hoa nhài dại hoa nở vào dịp này thơm ngát mùi ma quái. Đi một mình cũng sờ sợ nhưng được về ông ngoại dịp Tết là khoái lắm nên tôi quên hết mọi thứ, chỉ nghĩ đến lát nữa thôi, đến nhà ông bà ngoại là được ông bà cho ăn, dù chưa phải là ngày Tết nhưng bữa ăn tất niên sẽ có thịt, có cá. Chỉ nghĩ đến thế là đã nuốt nước bọt rồi. Nghĩ đến ăn là quên hết mọi nghi ngại và sợ ma khi về.
Làng quê xứ Nghệ trong những ngày Tết – từ hội hè đến tên làng
Tết ở làng ông ngoại tôi náo nức từ ngày đưa ông Táo về trời (23 tháng Chạp) đến hết tháng Giêng là “tháng ăn chơi”. Không chỉ làng Kẻ Mọ này mà các làng xung quanh như Kẻ Láng, Kẻ Choi (xã Nam Kim cũ), Kẻ Đông, Kẻ Cung bên Quảng Xá (xã Nam Phúc cũ), Kẻ Mọ, (xã Nam Trung cũ)… Chợ búa cũng chỉ họp đến chiều 28 Tết là dừng. Buôn bán nghỉ và dân đi chợ sắm Tết cũng đủ đầy rồi. Nhà nào cũng đã mua nếp, gà, thịt lợn, thịt bò, cá mú… và hoa quả đủ bày mâm thờ cúng. Những chợ Đò, chợ Đình, chợ Vực, chợ Cồn, chợ Ngang, chợ Chùa… quanh vùng Thiên Nhẫn quê tôi tất cả đều mang tên Nôm, cho đến tận bây giờ vẫn vậy, cũng không ai quên.
Vài hôm nữa thôi là Tết đến. Nhà nhà nghỉ việc đồng áng, bà con vui xuân, đón Tết cùng sang làng bạn dự hội kéo co, đánh vật, đánh đu, đánh cờ người hay cờ thẻ. Văn nghệ không chỉ diễn ra ở sân đình, sân chùa mà nhiều nhất là ở các giếng làng. Hát đối, hát Phường Vải diễn ra tận tối đêm của thanh niên trong làng, giữa các cụ ông, cụ bà khác làng với nhau. Giếng Chùa, giếng Dới, giếng Cồn, giếng Đường Quan, giếng Hác, giếng Biên (xã Nam Phúc cũ kề bên Kẻ Láng).
Cái làng quê ngoại tôi có tên là Kẻ Bạ như tất cả các làng trong mấy xã (cũ) của Thiên Nhẫn bây giờ đều có tên bắt đầu bằng chữ KẺ, ấy là dấu vết của tiếng Việt cổ, có trước cả tiếng Mường Việt của Xứ Nghệ từ xưa, từ khi có từ Kẻ Quê, Kẻ Chợ. “Kẻ” trong từ Việt cổ có nghĩa là “một vùng”/ “một nơi chốn”…
Theo thời gian từ sau năm 1945 đến nay, dù tên làng đã thay đổi rất nhiều lần sau những sự kiện xã hội, nhất là sau những lần chia, nhập hành chính. Dọc theo chân núi Thiên Nhẫn, nay mang tên mới là xã Thiên Nhẫn – người dân ở đây ai cũng biết cũng quen gọi Rú Nghìn là núi Thiên Nhẫn, Rú Ngang là Hoành Sơn, Rú Khai Trướng là núi Giăng Màn, rú Ngàn Hống là Hồng Lĩnh (tất cả là tên Nôm), có từ thế kỷ XIII, thời nhà Trần. Dân ở đây ai cũng gọi tên làng (xóm) từ xa xưa là những Kẻ Lò, Kẻ Mỏ, Kẻ Vày, Kẻ Bạ, Kẻ Choi, Kẻ Láng (ở xã Nam Kim cũ), Kẻ Lại, Kẻ Đông, Kẻ Cung (ở xã Nam Phúc cũ), Kẻ Mọ, Kẻ Cơi… (ở xã Nam Trung cũ). Bao nhiêu thế hệ đã qua, chắc chắn số người đang sống ít hơn nhiều so với người đã chết nhưng tên làng có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ cứ sống mãi.

Những tên Nôm và tên Việt cổ này đã tồn tại và sống động suốt hàng trăm năm nay dù đã trải qua bao nhiêu lần tưởng rằng bị xóa, bị quên. Cái gì tạo nên giá trị để những tên làng, tên xóm này sống mãi tươi xanh, sâu đậm như vây? Văn hóa. Chỉ có văn hóa mới có khả năng lưu giữ được. Tuy khác làng nhưng cùng chung câu hò, câu hát, làn điệu dân ca, điệu múa hay trò chơi dân gian cùng chung dòng chảy truyền đời là không gì làm mai một và xóa bỏ được nó. Tiếng nói, giọng nói, bữa ăn, nước uống không khác nhau nhưng mỗi làng mỗi khác, có vị riêng, mặn nhạt khác nhau nhưng mach nguồn là giống nhau. Đó là văn hóa làng xã, văn hóa lũy tre làng truyền từ đời này sang đời khác. Mọi ngăn cản của hành chính, ép buộc đến mấy cũng phải nhường.
Sau cách mạng Tháng Tám xóa bỏ chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm là chiến thắng Điện Biên Phủ, quê tôi đâu đâu cũng vang khúc ca:
“Hòa bình ca Liên Xô tiền phong
Hòa bình ca Trung Hoa vĩ đại
Hòa bình ca Việt Nam anh dũng
Cùng đấu tranh bảo vệ hòa bình”.
Thế là vùng quê tôi, làng nào cũng mang tên là làng Dân Chủ, làng Cộng Hòa. Kháng chiến thắng lợi năm 1954, hòa bình đến là làng Hòa Bình, hết Hòa Bình 1 là Hòa Bình 2… tiếp theo là làng Điện Biên 1, Điện Biên 2… Trùng nhiều quá, rồi tiếp là Đại Đồng, Thắng Lợi, Quyết Tiến, Thống Nhất…

Làng tôi ở bãi sông Lam, là làng mới của dân ngụ cư, cuối thế kỷ XIX tên là Long Xuyên, sau Cách mạng tháng Tám gọi là Phượng Kiều và chia thành 3 xóm và tên mới là Phượng Hồng, Phượng Hải, Phượng Xuân, rõ đẹp. Đến khi xây dựng Hợp tác xã nông nghiệp, lên hợp tác xã cao cấp, cả huyện đều đặt tên làng theo số thứ tự: Đội 1, đội 2, đội 3… cùng với đội sản xuất là tên làng đi theo: xóm 1, xóm 2, xóm… đến xóm 10. Cách gọi tên làng như thế này kéo dài có dễ đến 50 năm, cho đến khi xã Thiên Nhẫn ra đời do sáp nhập từ Chín Nam (9 xã của huyện Nam Đàn cũ) vào tháng 7 năm 2025. Tuy vậy không mấy ai nhớ đến những cái tên khô khốc vô nghĩa này nữa.
Tôi đã sống vắt qua thế kỷ XX đến nay, thế kỷ XXI, đã đi và sống ở nhiều nơi trên thế giới nhưng mỗi lần về quê, hỏi đến nhà ai, chỉ cần hỏi tên những làng với chữ “Kẻ”, ai cũng biết, bất kể người già hay các cháu nhỏ chỉ đường đến từng ngõ, từng nhà cho tôi. Mới hay sức sống bất diệt của tên làng xã Việt Nam có từ xa xưa. Sáp nhập đơn vị tỉnh, xóa bỏ cấp huyện, nhập xã… có thể là nhu cầu quản lý phù hợp với xã hội hiện đại – Trong lịch sử đã bao nhiêu lần tách nhập rồi. Nhưng thực tế lịch sử cho thấy làng và xóm thì không thể và không nên sáp nhập, đổi tên. Quản lý hành chính của xã hội là ở các cấp xã, tỉnh, thành phố, trung ương. Làng xóm là của dân, dân sống và quản lý, điều hành, không phải vô cớ mà dân gian truyền nhau bao đời nay câu “Phép vua thua lệ làng”.
Lê Đình Cúc














