Ngài

Câu chuyện này tôi kể theo trí nhớ từ những gì bà tôi kể cho chúng tôi nghe ngày còn thơ ấu vào một buổi chiều tối lúc gà bắt đầu lên chuồng, cha mẹ tôi đi cấy thuê ở đồng xa, chúng tôi ngồi quây quần bên bếp lửa chờ nồi ngô luộc.

Vào một buổi chiều mùa đông lạnh cắt cứa, ba chị em chúng tôi ngồi chụm đầu trên nệm rơm đối diện với bếp củi lập lòe những tia sáng, nồi ngô luộc phát ra những tiếng lục bục ma mị. Đối với lũ trẻ nhà quê thời ấy, vào mùa đông không gì tuyệt vời bằng ngồi ổ rơm và ăn ngô luộc.

Lửa bùng lên rồi dịu xuống. Tiếng gió bấc rít bên ngoài mỗi lúc một mạnh, bà ra hiệu cho chúng tôi lặng im lắng nghe tiếng gió. Ban đầu chỉ là tiếng ù ù như tiếng của chiếc cối xay lúa, về sau tiếng gió rít thành âm thanh rõ ràng hơn khi luồn qua mái rạ giống tiếng tru của loài chó hoang. Bà kể ngày xưa ở làng có một đàn chó hoang thường lởn vởn trên cánh đồng ngoài bãi sông, chúng đi thành đàn từ ba đến bốn con và săn chuột đồng, hy hữu lắm chúng mới mò vào làng bắt trộm gà nhưng chỉ vào mùa mưa lũ, khi đàn chó bị đói. Vì hy hữu nên người dân dường như không đề phòng chúng. Ở làng tôi vào thời ấy, chó và người sống chung trên cùng một mảnh đất. Theo tương truyền, khi ông tổ của làng đến đây khai hoang thì đàn chó đã tồn tại và vì thế đàn chó hoang chính là linh hồn của làng, người làng đặt tên cho chúng là loài chó ma.

Tiếng gió mỗi lúc thêm dữ dội tựa hồ như cả đàn chó cùng đồng thanh cất tiếng tru. Ba chị em tôi nép người vào nhau phần vì sợ, phần vì lạnh, bà thêm củi vào bếp trước khi đứng dậy đóng cánh cửa rồi lên ngồi trên chiếc ổ rơm gần với chúng tôi, lưng quay ra phía cửa. Đôi mắt bà rực sáng, bà khẽ nói.

– Ngài về đấy.

– Ngài là ai? – Tôi khẽ hỏi bà.

– Là Ngài Hắc Cẩu.

Bà vừa trả lời tôi vừa khẽ lần tìm tràng hạt trong túi áo. Một tay bà lần tràng hạt, một tay bà xoa đầu chúng tôi.

– Đừng sợ!

Bà an ủi chúng tôi.

– Ngài là người tốt, Ngài đang bảo vệ chúng ta.

Giọng nói của bà bỗng trở lên mơ hồ. Ngọn lửa trong bếp đang lập lòe gặp cành củi khô mới được thêm vào cháy bừng lên. Tôi ngồi nép mình vào bà. Chị Hoa, chị cả vừa tròn mười tuổi của tôi ngồi nép vào tôi khẽ cất tiếng.

– Nhưng nhà của Ngài là ở ngoài miếu ông Cẩu cơ mà?

Miếu ông Cẩu. Chỉ cái tên cũng đủ làm lũ trẻ chúng tôi sợ rúm ró. Đó là một ngôi miếu nhỏ nằm ở đầu làng. Chủ của ngôi miếu nhỏ là một con chó đá được tạc từ đá hoa cương đen, tái thân của Ngài Hắc Cẩu. Từ lúc sinh ra, tôi đã nghe không biết bao nhiêu lời rì rầm xung quanh các câu chuyện về bức tượng đá đen thần bí. Rất lâu trước đây dân làng tôi đã đi rất xa để tìm dòng đá quý dùng tạc tượng. Nghe đâu nghệ nhân tạc bức tượng cũng là người nức tiếng trong giới. Khó khăn lắm làng mới thỉnh được đôi tay vàng. Ngày bức tượng hoàn thành, dân làng tôi ai nấy run rẩy. Bà kể, tất cả những người có mặt trước bức tượng đều thấy tim mình đập loạn một nhịp.

Bức tượng cao gần hai mét được đặt ngay ở cổng vào của ngôi miếu, bất cứ ai trước khi vào miếu cũng đều dừng lại nghiêng mình kính cẩn trước Ngài. Ngài Hắc Cẩu có đôi mắt lồi to giống đôi mắt của loài rồng hơn là của loài chó. Màu đen của đá hoa cương càng khiến cho bức tượng đá thêm vẻ oai nghiêm thần bí. Miếu được xây cạnh cây đa của làng. Người già trong làng đoán cây đa có tuổi thọ vài niên kỷ, là nơi trú ngụ của hàng nghìn linh hồn từng sinh sống trên vùng đất này. Đám rễ to ngang ngửa thân cây bạch đàn ngoằn ngoèo như đám rồng con tủa ra tứ hướng cắm vào lòng đất. Tán cây to xòe ra phủ kín đoạn đường dẫn vào làng. Buổi trưa, phía trên tán cây, mặt trời chói chang tỏa xuống làng hơi nóng sầm sập nhưng phía dưới tán cây, bóng râm ôm trọn mặt đất tạo thành một quầng tối mát rượi. Bọn trẻ con rất sợ mỗi lần đi ngang qua cây đa và miếu ông Cẩu. Nhất là tôi. Mỗi lần bắt buộc phải đi qua miếu ông Cẩu, tôi thường nhắm mắt, miệng thầm thì lời cầu khẩn. Nhưng dù đôi mắt có nhắm chặt, tôi vẫn cảm nhận đôi mắt lồi to của Ngài Hắc Cẩu đang nhìn tôi khiến tôi khẽ giật mình co người theo bản năng.

Bà khẽ xoa lưng tôi trấn an.

– Ừ, nhà của Ngài ở đó. Nhưng Ngài có mặt ở khắp nơi trong làng.

Chị Hoa nép chặt hơn vào người tôi phía bên tay trái của bà, phía bên tay phải là cu Cọt. Cu Cọt mới bốn tuổi nhưng là đứa bạo nhất trong nhà. Cu Cọt bất chấp đêm tối có thể một mình đi từ nhà ra miếu ông Cẩu mà không cần cầm đèn soi đường. Cu Cọt ngọng nghịu nài nỉ bà.

– Bà kể chuyện về Ngài Hắc Cẩu cho chúng cháu nghe đi bà!

Bà gật đầu.

– Đợi bà ăn miếng trầu rồi bà kể cho mà nghe.

Minh họa: Đình Truyền

Ngày bà vừa bằng tuổi chúng tôi bây giờ, tức là cuối thế kỷ XIX, vào một buổi chiều tối mùa đông, người làng kết thúc một ngày làm việc trên cánh đồng ngoài bãi sông lần lượt trở về. Khi họ đi qua cây đa, lúc đó chưa có miếu ông Cẩu, họ thoáng nhận ra một hình dạng kỳ lạ. Hình dạng ban đầu chỉ mờ ảo bởi những cơn gió bấc thổi vù vù khiến ai nấy đều phải nhắm mắt chẳng thể nhìn rõ. Một lúc sau, khi đã quen với lốc gió, họ mở mắt tiến lại gần hơn và nhìn ra một con chó hoang. Những người có mặt bất ngờ trước màu lông đặc biệt của con chó, màu đen tuyền. Con hắc cẩu lừng lững cắm bốn chân chắc nịch như bốn cột nhà trước đám người, thân hình chắc nịch, thon gọn không giống những con chó chuyên săn chuột đồng. Mặc cho sự tò mò của đám người, hắc cẩu đứng bình thản và tĩnh lặng. Đoàn người tiến về phía nó mỗi lúc một gần, hắc cẩu vẫn điềm nhiên mở tròn đôi mắt. Hắc cẩu không mang dáng vẻ của một con chó độc ác, cũng chẳng có chút sợ hãi của loài vật hoang.

Cụ Ân khi đó mới mười tám tuổi, lực lưỡng nhất trong đoàn người tiến về phía hắc cẩu lên tiếng:

“Một con chó ma kỳ dị! Nó dám thách đố chúng ta. Hẳn không phải là con chó ma bình thường. Đây là một con hắc cẩu chuyên gây họa”.

Vừa nói cụ Ân vừa giơ cao chiếc cuốc nhằm đầu hắc cẩu bổ xuống. Giá như mọi lần thì hắc cẩu đã đi đời nhà chó. Cụ Ân nổi tiếng là người bổ chính xác, trăm nhát cuốc như cả trăm, cụ bổ đâu trúng đó, nhưng lần này nhát cuốc bổ trật đầu hắc cẩu. Hắc cẩu lùi lại vài bước, rụt lưỡi, giương đôi mắt to tròn nhìn đoàn người trước khi lẳng lặng bỏ đi. Thái độ của hắc cẩu khiến đoàn người tức tối, họ cho rằng con chó hoang đang chế giễu họ. Đám đàn ông bất chấp sự mệt mỏi và cái lạnh chạy theo hắc cẩu quyết tâm bắt được con chó hoang. Nhưng sức người sao lại được với sức chó hoang. Hắc cẩu co cẳng, chỉ một khoảnh khắc nó đã bỏ xa đám người và biến mất vào màn đêm đang bao trùm lên đường làng.

Những ngày sau đó, chỉ có đám đàn bà và trẻ con ra đồng, đám đàn ông hò nhau đi săn hắc cẩu với quyết tâm bắt sống con chó hoang kỳ dị. Vào mỗi buổi sáng thức giấc, dưới gốc đa đầu làng, cánh đàn ông hừng hực khí thế như chuẩn bị cho một cuộc săn hổ quý. Tiếng cuốc, thuổng đập rần rần xuống nền đất tạo thêm hứng khí nhưng chẳng ai hiểu lý do chính xác vì sao họ quyết tâm bắt được hắc cẩu, những con chó ma lởn vởn quanh làng đâu chỉ có mình hắc cẩu. Hàng ngày, cứ vào lúc nhập nhoạng, chỉ cần dỏng tai là họ có thể nghe thấy tiếng tru của chúng. Hơn nữa, người làng tuy đói nhưng tuyệt nhiên chưa ai nghĩ đến chuyện ăn thịt chó hoang, đó là những con vật mang hồn làng.

Khí thế hừng hực của những buổi săn đầu tiên rồi cũng qua nhanh khi không ai trong số họ, kể cả những trai tráng nhanh nhẹn nhất của làng có thể đến gần được hắc cẩu. Kỳ lạ hơn, mặc cho các cuộc săn lùng ráo riết của dân làng, mặc những chiếc bẫy đặt chông vót nhọn, hắc cẩu vẫn ngang nhiên xuất hiện một cách bình thản.

Làm thế nào mà một con vật vốn không có trí thông minh của loài người có thể tránh được những cạm bẫy giăng khắp mọi ngả đường?

Người già của làng đặt ra câu hỏi.

“Đó chắc hẳn là một con quái vật!” Cụ Ân sau vài lần bổ trượt nhát cuốc tuyên bố một cách chắn chắn.

Chẳng mấy chốc tiếng đồn về con “hắc quái vật” được lan truyền từ làng Thượng xuống làng Hạ rồi lan ra khắp huyện. Ban đầu hắc cẩu có hình dạng của một con bê con, tiếp đến là một con bò mới lớn với chiếc mõm của một con chó, rồi một con bò mộng có bộ lông đen tuyền cùng chiếc mõm của chó sói, về sau hắc cẩu trở thành một con sư tử có chiếc bờm mọc ngược, đôi tai của loài linh cẩu, đôi mắt của rồng. Hắc cẩu được gán ghép đủ mọi hình dạng trừ màu lông đen tuyền là không thay đổi. Sự xuất hiện của “hắc quái vật” dù không gây ra thiệt hại về người và của nhưng nó vẫn không được chào đón, người già của làng cho đó là một điềm gở.

“Những con vật đen tuyền là hiện thân của quỷ dữ”, cụ Hạnh, người sống thọ nhất làng lúc bấy giờ tuyên bố.

Kể từ sau câu nói của cụ Hạnh, dân làng bắt đầu ném đá mỗi khi họ nhìn thấy bóng của “hắc quái vật”. Nhưng hình như hắc cẩu thuộc dạng lì đòn, càng bị xua đuổi nó càng xuất hiện nhiều hơn. Thời gian đầu hắc cẩu chỉ xuất hiện lúc trời chập choạng tối, về sau nó xuất hiện ngay cả giữa ban trưa. Thậm chí có người còn thấy nó xuất hiện ngay trong sân nhà.

Thái độ ngang nhiên cùng những tin đồn quái gở về “hắc quái vật” khiến người dân của làng ăn không ngon, ngủ không tròn giấc. Bấy giờ đang vào vụ đông nhưng trẻ con bị cấm ra đường, đàn bà hạn chế ra đồng, nhà nhà lo lắng về những điều tai ương sắp xảy ra.

Không thể để tình hình kéo dài vì cuộc sống của làng phụ thuộc vào nông nghiệp, lý trưởng Mịch đích thân thành lập đội săn với sự trợ giúp của năm người lính do quan tri huyện cử về tăng cường, họ sẽ dùng súng do quan Tây cấp để bắn, ai bắn được “hắc quái vật” sẽ được trọng thưởng.

Sự xuất hiện của “hắc quái vật” đối với lý trưởng Mịch là một cơ hội hiếm có. Ngài quan tây Albert Dupont từng sống nhiều năm ở Phi châu và là một tay thợ săn khét tiếng, ông ta còn có thú vui sưu tập những động vật quý hiếm từ voi bạch tạng, đại bàng New Guinea đến hổ Bengal, không loài nào mà Dupont chưa có. Trong ngôi nhà của ngài quan Tây, xác động vật quý hiếm được phơi khô nhồi bông treo kín bốn bức tường. Những lần đến hầu chuyện ngài Tây, lý trưởng Mịch cố quan sát nhưng tịnh không một xác của loài “hắc quái vật”. Nếu dùng “hắc quái vật” làm quà tặng nó cho ngài Dupont thì đó sẽ là một món quà quý hiếm.

Vào buổi tối của cuộc săn “hắc quái vật”, một đoàn gồm hai mươi thanh niên trai tráng đốt đuốc sáng rực lối vào làng và được hỗ trợ bởi năm người lính vác súng Tây tiến về phía đồng màu của bãi sông, lý trưởng Mịch vác súng cưỡi ngựa đi trước. Khi vượt qua đồng khoai, đám thợ săn lặng lẽ tiến vào bãi dâu theo dấu chân của “hắc quái vật” để lại trên cát. Họ chia làm ba mũi săn, một nương theo bờ sông phía bên ngoài bãi dâu, một phía bên đê để tránh sự tẩu thoát của hắc cẩu và một với sự đi đầu trên lưng ngựa cùng ba người lính có súng Tây tiến vào bên trong ruộng dâu.

Ruộng dâu sau mùa lũ bất thường của mùa hè trước được phù sa bồi đắp mơn mởn khác thường. Ban ngày, đám đàn bà con trẻ đi hái lá dâu cho tằm thường đi theo nhóm năm đến mười người, đề phòng những bất trắc vì dâu lên tốt quá, đứng ở trên đê mắt có tinh cỡ mấy cũng không thể nhìn thấy bóng người. Cánh đàn ông chưa từng phải đi hái lá dâu nên không biết được sự nguy hiểm đó. Lý trưởng Mịch lại càng không tỏ.

Lúc này trăng đã lên cao đến quá ngọn tre, ánh đuốc đã tắt. Bên trong bãi dâu rậm rạp luênh loáng bóng đêm. Nước sông Hồng dội vào bờ ì oạp tựa hồ tiếng bước chân dồn dập của một cuộc vây bắt kẻ trộm. Lý trưởng Mịch cùng đám thợ săn hộ tống tiến sâu vào bên trong bãi dâu. Gió từ dưới sông nổi lên ràn rạt táp vào ruộng dâu mơn mởn như tiếng than khóc. Đám thợ săn rùng mình.

Bãi dâu của làng Thượng nổi tiếng linh thiêng, hồn ma trôi dạt trên sông thường về đây lưu ngụ. Ba người lính, không ai bảo ai cố tình bước thật chậm để không tiến xa hơn vào bên trong bãi dâu. Ngồi trên lưng ngựa, lý trưởng Mịch không nhận ra sự do dự của đám lính, ngài ung dung thúc ngựa tiến sâu vào bãi. Tiếng nước vỗ bờ mỗi lúc một dồn dập, con ngựa của lý trưởng Mịch bất ngờ giơ cao vó hí vang hất tung lý trưởng Mịch lên trời trước khi phi nước đại bỏ chạy, giẫm đạp lên những thân dâu.

Lý trưởng Mịch bay lên không trung xoay đủ một vòng và rơi trúng một chiếc bẫy cắm chông nhọn được ngụy trang khá khéo ở giữa bãi dâu. Lý trưởng Mịch chỉ kịp hét lên một tiếng trước khi cơ thể rơi phập xuyên qua những mũi chông nhọn hoắt. Đám lính tháp tùng nghe thấy tiếng hét vội chạy lại nhưng những gì họ nhìn thấy khiến họ thất kinh bỏ chạy.

Cuộc săn “hắc quái vật” kết thúc.

Toán lính tấp tới chạy. Đến đầu làng, họ lăn xuống dưới gốc cây đa, mắt trợn ngược, hồn phách lạc tứ phương. Một hồi sau khi trấn tĩnh lại, người lính già nhất kể:

“Ngài lý trưởng nằm dang tay ngửa mặt lên trời, phía trên những mũi chông nhô cao đỏ tươi màu máu. Lúc đó tôi định đưa tay kéo ngài ấy lên nhưng ngồi ngay trên miệng bẫy là “hắc quái vật”, con hắc cẩu giương đôi mắt lồi như mắt rồng, quét sáng đến tận đáy bẫy. Nó chẳng có vẻ gì hốt hoảng”.

Người lính già kể xong thì ngã vật ra đất thất kinh.

Tin về cái chết tức tưởi của lý trưởng Mịch, cộng sự đắc lực người An Nam khiến Albert Dupont tức sôi máu. Hẳn không phải là một cái chết do tai nạn săn bắn, càng không phải là do “hắc quái vật” gây ra bởi chẳng con vật nào bằng lòng với việc thản nhiên ngồi nhìn con mồi sập bẫy rồi bỏ đi. Cái chết đó hẳn là do đám dân đen gây ra để trả thù lý trưởng Mịch.

Một tuần sau cái chết của lý trưởng Mịch, quan Tây đích thân về làng cùng một đội lính được trang bị súng. Hai mươi người lính cả thảy. Trong bộ đồ kaki trắng toát ôm trọn thân hình đồ sộ, ngài Dupont bước xuống kiệu do bốn người phu khiêng vừa hạ xuống cạnh gốc cây đa. Người làng theo lệnh của quan Tây đến tập trung ở đó từ sáng sớm. Các cụ già rỉ tai nhau rằng làng sắp có biến lớn.

Albert Dupont vốn là một tên ma lanh. Đứng dưới gốc đa xung quanh những người dân chân đất, áo nâu ngồi lổn nhổn, quan Tây tuyên bố:

“Tôi cần một bằng chứng chứng tỏ rằng lý trưởng Mịch bị hắc quái vật giết chết”.

Người làng xì xèo. Làm thế nào để có được bằng chứng? Cuộc săn đuổi diễn ra trong đêm đen, ở giữa bãi dâu vắng vẻ, đào đâu ra bằng chứng?

“Ngài cần bằng chứng như thế nào?” Cụ Hạnh lên tiếng.

“Tôi cần tận mắt nhìn thấy hắc quái vật”.

Rất nhanh, một đội quân gồm năm mươi trai tráng và lính nhà quan được thành lập bắt đầu một cuộc vây bắt mới.

Gần trưa, đoàn người lên đường. Ngài Dupont ngồi kiệu do bốn phu khênh đi trước. Đoàn người rầm rập tiến về phía bãi dâu, nơi từ buổi chiều hôm trước theo lệnh của quan Tây, những chiếc bẫy được dỡ bỏ.

Trưa. Tiếng tù và của đoàn săn vọng tới làng một cách ồn ĩ. Cụ Hạnh cúi thấp đầu mơ hồ về một điều tai ương đang diễn ra nơi ruộng dâu. Phải nói rằng từ sau cái chết của lý trưởng Mịch, cụ Hạnh đã thay đổi cảm nhận về hắc cẩu. Đó không thể là con vật hiện thân của quỷ dữ, ngược lại rất có thể hắc cẩu chính là hiện thân của Bồ tát nhưng trong một diện mạo không ai ngờ.

Tiếng tù và mỗi lúc một ráo riết. Cụ Hạnh cúi thấp đầu hơn lần tìm tràng hạt cầu khẩn thần linh bảo vệ cho đám trai tráng của làng và chở che cho hắc cẩu.

Đầu giờ chiều. Tiếng tù và rú lên một hồi căng thẳng. Đoàn người rầm rập trở về làng. Những khuôn mặt thất kinh. Cụ Ân chạy về trước nhất.

Nằm vật dưới gốc đa, miệng méo xệch, mắt trợn ngược, cụ thì thào:

“Ngài ấy đã tấn công…”

Cụ Hạnh khẽ xiết chặt chuỗi tràng hạt vào lòng bàn tay. Cụ Ân tiếp tục thì thào:

“… quan Tây”.

Vừa lúc tiếng tù và vụt tắt. Đoàn săn trở về. Lính quan đi đầu, tiếp đến là đám trai tráng, sau đó là bốn người phu khênh chiếc kiệu trống không người ngồi và sau cùng ngài Albert Dupont đang lết bằng tứ chi.

Đoàn người dừng lại ở gốc đa, vây quanh ngài Albert lúc này đang bò lết dưới đất. Bộ kaki trắng hồi sáng nhuốm màu đất phù sa đỏ tựa những vết máu khô rách tả tơi. Đôi mắt màu xanh lơ của quan Tây ngầu đỏ, lồi ra khỏi tròng mắt tựa như hai con ốc sên. Dupont không nói mà sủa, những tiếng sủa ma của loài chó. Người lính duy nhất trong số những người trở về vẫn còn giữ được chút bình tĩnh kể trong tiếng thở hổn hển:

“Khi chúng tôi tiến vào bãi dâu, Ngài đã ở đó… Ngài an nhiên ngồi chờ chúng tôi tiến lại. Đôi mắt của Ngài nhìn chúng tôi nghiêm nghị… Quan Tây là người đầu tiên bước lên phía trước, mặt đối mặt với Ngài… Một vài người trong số chúng tôi giương súng về phía Ngài chuẩn bị bóp cò nhưng quan Tây ra lệnh dừng lại… Ông ấy muốn bắt sống Ngài Hắc Cẩu”.

Tiếng hổn hển mỗi lúc một khó khăn trên khuôn mặt tái mét khiến ông ta phải dừng lại để lấy hơi. Lúc đó người dân bắt đầu đứng giãn ra thành một vòng tròn xoay quanh quan Tây, người đang ngồi xổm hai tay chống xuống đất tựa hình một con chó đang ngồi giương đôi mắt thất thần nhìn dân làng. Người lính kể tiếp:

“Quan Tây đứng mặt đối mặt với Ngài một lúc lâu. Đôi mắt của Ngài lúc đó mở to hơn, miệng phát ra những tiếng gừ gừ. Ngài khẽ co người về tư thế phòng thủ. Quan Tây tiến thêm một bước dài, trong tay cầm một chiếc gậy to. Nhanh như chớp, Ngài nhảy lên lùi về phía sau, mắt long lanh, miệng gầm gừ. Quan Tây vẫn tiếp tục tiến. Quan Tây vung chiếc gậy nhằm thẳng đầu của Ngài giáng xuống. Ngay lập tức Ngài ưỡn ngực, giơ hai chân trước nhìn quan Tây bằng đôi mắt đỏ rực. Quan Tây hét chúng tôi ném cho ông ta một khẩu súng. Nhưng ông ta còn chưa kịp giương súng thì một luồng gió lạnh buốt từ dưới sông thổi lên”.

Người lính vừa kể vừa rùng mình tựa như anh ta vẫn cảm nhận được luồng khí đang xuyên qua cơ thể. Một vài giây im lặng, người lính kể tiếp:

“Luồng gió ràn rạt táp vào thân dâu tạo thành những tiếng ỉ ôi như tiếng người than khóc. Quan Tây bóp cò. Ở cự ly gần như thế nhưng không hiểu sao ông ta lại bắn trượt. Ngài bật sang một bên nhe bộ răng nhọn hoắt gầm gừ. Quan Tây giương súng lần hai. Trước khi ông ta kịp bóp cò, Ngài chồm lên. Tôi đứng cách quan Tây có hai bước chân nên nhìn rất rõ. Ngài chồm lên như thế này”.

Người lính vừa nói vừa làm động tác chồm lên bằng tứ chi. Ngồi bệt dưới đất trong hình dạng của loài cẩu, quan Tây thè lười gầm gừ những tiếng không rõ nghĩa.

“Chỉ trong một tích tắc, Ngài đã vật được quan Tây bật ngửa về phía sau, khẩu súng rơi xuống đất”.

Kết thúc câu nói, anh ta ngã người về phía sau bắt chước điệu ngã của quan Tây.

“Những chuyện xảy ra sau đó thì tôi không nhớ được nữa bởi đúng vào lúc Ngài chồm lên người quan Tây thì có một đám mây đen kéo tới trùm lấy chúng tôi. Chúng tôi chỉ nhìn thấy đôi mắt đỏ rực của Ngài xuyên qua lớp mây đen đó. Gió rít mỗi lúc một mạnh hơn giống như tiếng tru của bầy chó. Mắt tôi bị lớp phù sa phủ kín không thể mở ra được nữa. Khi cơn giông gió dừng lại, tôi mở mắt thì đám mây đã tan, Ngài đã biến mất và quan Tây đã bị biến hình thành như bây giờ”.

Cụ Hạnh lắng nghe từng lời của người lính, bàn tay nới lỏng tiếp tục lần chuỗi tràng hạt. “Thật may!” Cụ lẩm bẩm một mình.

Ngay trong buổi chiều hôm đó, đoàn lính và quan Tây rời làng. Hai mươi người lính đi đầu, chiếc cáng được hai người khênh nhẹ tênh vì không có ai ngồi, quan Tây lết bằng tứ chi ở phía sau, đôi mắt lồi to như hai con ốc sên, lưỡi thè ra khò khè những âm thanh nửa người, nửa chó.

Bà tôi kết thúc câu chuyện vừa lúc thanh củi cháy đến khúc cuối và nồi ngô đã chín. Chị Hoa nhấc nồi đặt vào tro bếp để giữ nóng đợi cha mẹ về. Tiếng gió vẫn chưa ngừng rít. Mưa rơi lộp bộp trên tấm liếp phía ngoài cửa. Cu Cọt hỏi bà:

– Thế rồi Ngài có quay lại không?

Bà lắc đầu, đưa tay vuốt những vệt trầu trên khóe miệng kể tiếp.

Đó là lần cuối cùng người làng nghe nói về Ngài, và đó cũng là lần cuối cùng bọn cường hào dám lên mặt với dân làng. Kể từ khi câu chuyện của quan Tây và cái chết của lý trưởng Mịch, người ta đồn rằng Ngài chính là hiện thân của Bồ tát xuống trần gian bảo vệ những người dân vô tội. Để cảm ơn Ngài, dân làng Thượng đã xây lên ngôi miếu cạnh cây đa. Đó chính là miếu ông Cẩu.

Bà xoa nhẹ vào lưng tôi lúc kết thúc câu chuyện.

– Khi mới xây, miếu ông Cẩu chưa có bức tượng đá của Ngài Hắc Cẩu. Mãi về sau này, thêm một vài chuyện xảy ra với những làng xung quanh, người trong làng càng tin rằng hồn Ngài Hắc Cẩu vẫn còn lẩn khuất đâu đó để bảo vệ chúng ta. Những người thợ khéo tay nhất của làng mới cất công đi tìm đá quý tạc lên bức tượng để ghi nhớ công ơn của Ngài.

Theo thói quen, mỗi khi bà kết thúc một câu chuyện, cu Cọt vỗ tay đôm đốp, dấu hiệu cho thấy nó rất mê câu chuyện mà bà vừa kể.

Tiếng vỗ tay vừa dứt thì cha mẹ tôi đẩy cửa bước vào, quần áo ướt sũng nhưng có vẻ rất phấn khích. Bà giục chị Hoa gắp ngô ra mẹt trong lúc bà thêm củi vào bếp để cha mẹ hong khô quần áo trước khi chúng tôi ăn tối.

Chị Hoa đã gắp hết ngô đặt lên mẹt, khói nóng bốc lên thơm nức. Cha tôi bê chiếc mẹt đặt ở giữa cửa ra vào. Xong xuôi, ông chấn chỉnh quần áo, mở cửa rồi bảo chúng tôi cúi đầu vái tạ trời đất. Chúng tôi lần lượt cúi đầu dù cả tôi và cu Cọt không hiểu được tại sao phải vái lạy trời đất.

Sau khi chúng tôi vái lạy trời đất, cha bê mẹt ngô đặt vào giữa ổ rơm, cả nhà tôi quây quần xung quanh. Lúc cầm lên tay bắp ngô còn nóng, cha kể:

– Phúc đức của làng ta vẫn còn lớn lắm.

Bà tôi gật đầu thừa nhận câu nói của cha.

– Tất cả đều nhờ vào sự phù hộ của Ngài.

Mẹ tôi từ lúc về đến giờ mới lên tiếng.

– Vâng, đúng thế mẹ, Ngài sống khôn thác thiêng phù hộ cho con cháu.

Mẹ vừa trả lời bà vừa ôm cu Cọt vào lòng. Bên ngoài gió bắt đầu lắng xuống. Không gian trở nên tĩnh lặng. Cha mẹ vừa ăn ngô vừa kể cho chúng tôi nghe câu chuyện vừa xảy ra với họ vào buổi chiều tối.

Công việc lúc đó cũng gần kết thúc, đám thợ cấy gồm mười người, trong đó có cha mẹ tôi, rửa chân tay chuẩn bị trở về vừa lúc trời trở gió. Bầu trời chuyển sang màu đỏ quạch, lũ chim nháo nhác bay từ phía cánh đồng về làng tìm nơi ẩn nấp, khung cảnh tựa như trong một cuộc đại loạn. Bác Lanh, người già nhất trong đám thợ kêu mọi người nhanh chóng trở về nhà trước khi cơn giông ập đến.

Đoàn người vừa rời cánh đồng về đến gần đầu làng nơi có cây đa thì cơn giông đã tới. Gió, mưa, cát bụi quất từng hồi vào người. Mẹ bám chặt tay cha. Một tia sét vụt qua. Bầu trời bị xé thành trăm mảnh. Tia sét cắt phựt một cành đa quăng về phía họ. Cha tôi đã nghĩ rằng họ đang sống những giây phút cuối cùng của cuộc đời. Tia sét chưa tan, một cơn gió lớn hất tung bác Lanh lên khỏi mặt đất. Tiếng khóc, tiếng hét hòa vào tiếng gió rít. Sức kiệt, chân tay ai cũng ríu nặng. Lúc đó họ đã đến được trước miếu ông Cẩu.

Cha tôi cõng bác Lanh trên lưng bước về phía miếu. Mẹ lẩm nhẩm cầu khẩn Ngài Hắc Cẩu. Cánh cửa miếu mở ra. Chẳng ai bảo ai, mọi người líu ríu theo chân cha bước vào miếu ông Cẩu. Bên ngoài những cơn gió giật như sắp kéo đổ ngôi miếu nhưng sự hoảng loạn thì đã kết thúc. Mẹ tiếp tục niệm cầu.

Cơn giông gió sau một hồi quần đảo phía bên ngoài miếu cuối cùng đã chịu dừng lại. Đám thợ cấy ngồi thêm một lúc chờ đợi cho mưa ngớt trước khi rời miếu về làng.

– Ngài đấy! Ngài thật linh thiêng!

Bà tôi khẽ nói nửa như nói cho chúng tôi nghe, nửa như nói cho chính bà.

Cha tôi kể tiếp. Cả đời ông chưa từng được chứng kiến một cơn giông gió nào kinh khủng như lần này. Gió quất nát mặt đường. Nhưng khi họ bước vào miếu ông Cẩu thì gió không rít như lúc trước. Nếu nghe kỹ thì đó là tiếng tru của loài chó. Cha tôi khe khẽ hỏi:

– Có lẽ nào đó chính là tiếng tru của Ngài Hắc Cẩu?

– Là Ngài. Nhờ Ngài che chở chúng ta mới có thể trở về an toàn từ cơn giông – Mẹ trả lời cho câu hỏi của cha.

Câu chuyện của cha mẹ kết thúc khi mẹt ngô cũng hết. Cu Cọt ngáp dài một hơi. Bên ngoài gian bếp, mưa đã tạnh hẳn và gió cũng dừng. Mẹ mở cửa giục chúng tôi ra giếng rửa mặt mũi rồi đi ngủ. Cu Cọt reo to:

– Ngài Hắc Cẩu!

Theo hướng chỉ tay của cu Cọt, chúng tôi nhìn ra. Trong đêm đen, một hình thù kỳ dị hiện lên. Cha cười lớn.

– Không phải Ngài đâu. Con mèo hoang vẫn thường lởn vởn quanh nhà chúng ta vào mỗi tối.

Cu Cọt tiu nghỉu, xìu mặt. Con mèo hoang nhận ra chúng tôi đang nhìn nó thì cất tiếng “meo” như để khẳng định nhận dạng chính xác của mình. Trong bóng đêm, đôi mắt nó ánh lên sáng quắc như hai đốm lửa tròn xoe nhìn chúng tôi một cách bình thản.

Bà tôi khẽ chắp tay trước ngực, miệng lầm rầm:

“Những con vật mang hồn làng!”

Quyên GAVOYE