Nên chọn dị bản nào tối ưu cho Truyện Kiều

Hiện nay chúng ta có khoảng 150 bản Kiều khác nhau, cả bản Nôm và Quốc ngữ. Trong các bản Kiều đó, có gần một ngàn chỗ khác nhau, chỗ khác ít là một chữ, một từ, một nhóm từ… khác nhiều là một câu hoặc một đoạn thơ. Vấn đề đặt ra là khi biên soạn Truyện Kiều, ta nên chọn chữ, từ… nào trong những chỗ khác nhau đó cho bản Kiều mới của mình?

Có các bản Quốc ngữ khác nhau là do những người biện soạn dựa vào các bản Nôm cổ khác nhau. Nhưng các bản Nôm cổ do đâu mà có? Trong một thời gian dài, hầu như các nhà nghiên cứu thống nhất rằng, Nguyễn Du cho ra đời một bản Truyện Kiều gốc, các nhà Hán học đã dựa vào bản gốc đó mà biên soạn cho mình một bản Nôm, và nguyên nhân dẫn tới dị bản là do chủ quan của người biên soạn, do kỵ húy khác nhau ở các thời kỳ, do tam sao thất bản, do thợ nhà in không biết chữ Nôm… Bây giờ bản Truyện Kiều gốc đó không còn, nên chúng ta không thể khẳng định được từ nào, chữ nào chắc chắn là của Nguyễn Du.

Tôi có nhận thức hơi khác với kết luận này. Khi xem xét các dị bản Truyện Kiều, tôi đã viết bài chứng minh rằng, những nguyên nhân để sinh ra dị bản các cụ đã nêu chỉ sinh ra các dị bản nhỏ, còn nguyên nhân sinh ra dị bản lớn là do chính tác giả Truyện Kiều sửa chữa. Truyện Kiều là một tác phẩm lớn, tác giả phải viết trong nhiều năm mới hoàn thành, rồi sau đó còn tiếp tục sửa chữa nhiều lần trong khoảng thời gian dài. Khi tác giả hoàn thành Truyện Kiều, tiếng thơm vang xa, bạn văn chương tìm đến thưởng thức, rồi tự chép tay một bản mang về nhà. Ta gọi bản Truyện Kiều khi Nguyễn Du hoàn thành là A1, thì bản khách chép tay là A1 phẩy, vì cộng thêm phần chủ quan của người chép. Nhưng rồi Nguyễn Du lại sửa bản thảo của mình, nên thời gian sau khách đến thì ông không đưa cho khách xem bản A1 nữa, mà đưa bản A2, rồi khách chép tay để có bản A2 phẩy. Nhưng rồi tác giả lại sửa tiếp, để có bản A3, rồi khách đến để có A3 phẩy, A4 phẩy, A5 phẩy… Ðó là nguyên nhân sinh ra các bản Nôm khác nhau và nguyên nhân sinh ra sự khác nhau do tác giả sửa chữa là chính. Có điều cần lưu ý: Khi có điều kiện thì những người bạn văn chương kia mới cho in thành sách, và thứ tự xuất hiện không phải theo thời gian, mà có khi bản A5 phẩy lại ra đời trước bản A1 phẩy. Ðiều thứ hai tôi muốn nói là, mặc dù không còn bản gốc, nhưng chúng ta vẫn khẳng định được những chữ của Nguyễn Du: đó là những chữ không có dị bản trong tất cả bản Nôm cổ!

Bây giờ muốn chọn dị bản nào trong các bản in Quốc ngữ, ta chú ý một điều: hiện nay chúng ta đã phát hiện được khá nhiều bản Nôm cổ, nên những chữ, từ… của bản Quốc ngữ không có trong bất kỳ một bản Nôm cổ nào thì đó không phải là từ của Nguyến Du, dù ta đã thuộc lòng và tâm đắc từ lâu. Ví như “Sầu đong càng lắc càng đầy”, thì chữ “lắc” chỉ mới xuất hiện trong bản kiều Quốc ngữ, còn trong các bản Nôm cổ đều là chữ “khắc”, không có dị bản, nên chữ của Nguyễn Du, và câu đó phải chỉnh lại: “Sầu đong càng khắc càng đầy”. Hay như câu “Quản chi lên thác xuống ghềnh/ Cũng toan sống thác với tình cho xong”, thì “lên thác xuống ghềnh” không có trong các bản Nôm cổ, mà chỉ có “trên gác dưới duềnh”, tức là không sợ nhảy lầu hoặc trẫm mình, không sợ chết chứ không phải không sợ gian khổ, vất vả… nên câu thơ ấy phải trả về “Quản chi trên gác, dưới duềnh…”.

Với hầu hết bản Truyện Kiều Quốc ngữ của chúng ta, câu 730 là “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Và bạn đọc cả nước, coi điều đó là hiển nhiên, không có gì đáng bàn cãi cả. Thế nhưng trong các bản Nôm cổ như Liễu Văn Ðường, Mỹ Thịnh Ðường, Duy Minh Thị… thì thống nhất “Hiếu tình có lẽ hai bề vẹn hai”! Tại sao lại có sự sai lệch với ý nghĩa ngược nhau giữa bản Nôm và bản Quốc ngữ như thế, là điều làm tôi đắn đo, suy nghĩ.

Bản Truyện Kiều Quốc ngữ đầu tiên là bản của Trương Vĩnh Ký, xuất bản năm 1875. Trong bản này soạn giả phiên âm “Hiếu tình có nhẽ hai bề vẹn hai” và chú thích: “Có nhẽ” tức là “có lẽ”. Ðây là bản Quốc ngữ duy nhất mà hai chữ “có lẽ” xuất hiện. Còn tất cả các bản Quốc ngữ về sau đều “khôn lẽ”, bắt đầu từ bản của Kiều Oánh Mậu năm 1902. Kiều Oánh Mậu là người có công rất lớn trong việc quảng bá Truyện Kiều ở nước ta từ đầu thế kỷ XX. Nhưng bản thân ông cũng có “tội” tự hiệu đính, nếu không hiểu được thì sửa cho dễ hiểu, nên có một số từ không còn giữ được nguyên bản. Tại sao Kiều Oánh Mậu lại sửa “có lẽ” thành “khôn lẽ”? Muốn biết được điều đó, chúng ta trở lại đoạn Trao duyên, phiên âm đúng theo các bản Nôm cổ:

“Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Giao loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình có lẽ hai bề vẹn hai…”.

Chắc cụ Kiều Oánh Mậu đọc đến đây thì dừng lại, chằm chằm nhìn vào hai chữ “có lẽ”, từ nghi ngờ đến phản đối: “Vô lý, không thể hai bề vẹn hai được. Ðược hiếu thì phải mất tình”! Thế là ông đặt bút sửa “có” thành “không”, tức “khôn”: “Khôn lẽ”. Tất nhiên là ông sửa cả chữ Nôm, để có chữ phiên âm là “khôn”! Những nhà hiệu đính về sau cũng thấy “khôn lẽ” là có lý, có người không hề biết trong các bản Nôm gốc là “có lẽ”.

Tôi cũng đã từng thuộc lòng “khôn lẽ” trong mấy chục năm mà không hề thắc mắc gì, cho đến khi có điều kiện tiếp xúc với các bản Nôm cổ mới thấy điều vô lý là văn bản Nôm thì “có lẽ”, mà Quốc ngữ lại “khôn lẽ” nên cố tìm ý nghĩa của từ “có lẽ” trong văn bản chữ Nôm. Ðọc Truyện Kiều, nhiều khi phải đọc cả đoạn, ngẫm nghĩ, mới thấy được cái hay, cái ý tứ của tác giả. Ví như bốn câu quen thuộc:

“Trời còn để có hôm nay,
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.
Hoa tàn mà lại thêm tươi,
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.

thì câu thứ hai liên kết ý với câu thứ ba, thứ tư: Tan sương đầu ngõ để thấy hoa, vén mây giữa trời để thấy trăng. Logic và chặt chẽ như thế nhiều khi ta không để ý!

Trở lại vấn đề chúng ta đang bàn. Nếu như dừng ở đoạn trích trên kia, thì ta thấy suy nghĩ của cụ Kiều Oánh Mậu là có lý, và “có lẽ” là vô lý. Nhưng chúng ta hãy đọc tiếp:

“Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”.

thì ta hiểu rằng, ý của Thúy Kiều là: có lẽ giữ được cả hiếu lẫn tình. Hiếu thì do chị bán mình chuộc cha, còn tình thì đã có em “Xót tình máu mủ thay lời nước non” của chị, tức là em thay chị lấy chàng Kim, như thế thì mối tình với chàng Kim vẫn giữ được! “Có lẽ” là chưa dám khẳng định chắc chắn, nhưng cái hướng có thể xẩy ra như thế. Ðây là lý do rất thuyết phục của cuộc trao duyên: để giữ được cả hiếu và tình.

Chúng ta không nên so sánh giữa “có lẽ” và “khôn lẽ” cái nào hợp lý hơn, vì mỗi từ hợp lý theo một cách riêng. “Khôn lẽ” hợp lý nếu chuyện hiếu và tình chỉ lo một mình Thúy Kiều gánh vác, thì không thể. “Có lẽ” lại hợp lý ở chỗ nếu hai chị em cùng lo, chị bán mình chuộc cha, còn em thay chị lấy chàng Kim. Chắc Kiều Oánh Mậu không nhận ra cái ý này trong lời Thúy Kiều nên cho “có lẽ” là vô lý và sửa thành “khôn lẽ”.

Bởi vậy hai chữ “có lẽ” trong các bản Nôm là hợp lý, không nên sửa thành “khôn lẽ” như trong các bản Quốc ngữ!

Câu thứ 8 trong Truyện Kiều, phần lớn các bản Quốc ngữ ghi “Phong tình cổ lục còn trùng sử xanh”, chỉ có một ít bản là “Phong tình có lục…”. Thế thì chúng ta nên chọn từ nào, “cổ lục” hay “có lục”. Lục tìm trong các bản Nôm cổ, không bản nào là “cổ lục” cả, mà đều là “có lục”, thế thì tại sao trong bản Quốc ngữ lại có “cổ lục”? Phải chăng người biên soạn thấy “cổ lục” cổ kính hơn, hay hơn… hay là không hiểu được ý của “Phong tình có lục…” là gì? Sự thật câu ấy không có gì khó hiểu, nói “Phong tình có lục” cũng giống như “có lục phong tình” (đảo ngữ), ý nói có bản ghi hay quyển sách nói chuyện phong tình từ xưa truyền lại, tức tác giả muốn giới thiệu quyển Kim Vân Kiều truyện mà ông đang đọc. Có thể bạn nói rằng: nhưng cổ lục hay hơn! Dù có hay hơn đi nữa nhưng không có trong bản Truyện Kiều Nôm cổ, tức không phải chữ của Nguyễn Du thì ta không thể chọn lựa, vì công tác biên soạn không cho phép ta tự tiện tạo ra những từ không có trong văn bản.

Câu 867 – 868:

“Lầu mai vừa rúc còi sương,
Mã Sinh giục giã vội vàng ra đi”.

theo như hầu hết các bản Quốc ngữ xuất bản từ đầu thế kỷ XX đến nay. Thế nhưng trong tất cả các bản Nôm chúng ta có được đến ngày nay, không có một bản nào có hai chữ “giục giã” quen thuộc và rất dễ hiểu này cả. Thế thì hai chữ đó là gì? Theo bản Liễu Văn Ðường 1871 thì phiên âm hai chữ đó thành “giục rạo”, với chữ “rạo” in nghiêng, ý nói rằng cứ theo chữ Nôm mà phiên âm thì là như thế, nhưng không hiểu chữ ấy có nghĩa thế nào. Cũng có bản phiên âm thành “giục dạo”, coi “dạo” như một từ đệm bổ nghĩa cho “giục”. Ta biết rằng, nhiều người Bắc hay nhầm lẫn phụ âm R với phụ âm D, nên lý giải được cách phiên âm đó.

Ở vùng quê Nghệ Tĩnh từ “rạo” được dùng phổ biến để chỉ chuyện làm ồn ào, gây khó chịu cho người khác. Thầy giáo thấy học sinh mất trật tự, liền bảo: “Lớp học đâu phải là cái chợ, mà các em mần “rạo” lên thế”? Một người đi xem diễn tuồng về, người nhà hỏi có hay không, thì trả lời: “Người xem mần “rạo”, có nghe được chi mô”! Mà đâu phải chỉ một vùng quê Ðô Lương bé nhỏ của tôi. Trong dịp lễ kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Du, tôi đi nói về Truyện Kiều mấy chục buổi, và đến vùng quê nào trên xứ Nghệ, tôi cũng đem chữ “rạo” này ra để “trưng cầu ý kiến”. Và thật mừng thay, chữ rạo”, theo nghĩa ấy đã dùng phổ biến không những trên toàn cõi xứ Nghệ, mà còn lan một ít sang Quảng Bình! Vậy nên, hai câu lục bát trên phải viết thành:

“Lầu mai vừa rúc còi sương
Mã sinh giục rạo vội vàng ra đi”.

với chữ “rạo” tiếng Nghệ, có nghĩa như ta đã biết.

Thế thì hai chữ “giục giã” quen thuộc từ đâu mà ra? Hai chữ này lần đầu xuất hiện trong bản Truyện Kiều Quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký, xuất bản năm 1875, sau Kiều Oánh Mậu dùng theo. Chắc Trương Vĩnh Ký, người Nam Bộ, không hiểu được chữ “rạo” tiếng Nghệ, nên ông sửa thành tiếng phổ thông cho mọi người hiểu. Ðó là giải pháp tình thế không có gì đáng trách, nhưng khi đã biết được chữ “rạo” rất đắt giá, thì ta nên cho câu thơ trở về nguyên bản!

Mấy trường hợp vừa kể là ta loại bỏ chữ không có trong các bản Nôm cổ, để trả vào đó một chữ của Nguyễn Du, và câu thơ ý nghĩa hợp lý. Nhưng nếu hai dị bản đề có trong các bản Nôm cổ thì làm thế nào? Ví dụ bốn câu từ 239 đến 242 có dị bản:

“Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.
Trăng tà gác bóng chênh chênh,
Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình”. (1)

Và:

“Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
Nách tương bông liễu bay sang láng giềng.
Trăng tà gác bóng nghiêng nghiêng,
Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình”. (2)

Ðây là khổ thơ gói kết một đêm mộng mị của Thúy Kiều để chuyển sang nói về chuyện chàng Kim đến thuê nhà cạnh nhà Kiều. Cả (1) và (2) đều có trong các bản Nôm cổ. Ðọc lại (1) ta thấy ý bình thường, và phạm lỗi thất vận khi đem “chênh” vần với “riêng”. Ngược lại (2) vần điệu chỉnh tề lại có một ý rất hay là “bông liễu bay sang láng giềng” như gợi cho biết chẳng bao lâu nữa thì Thúy Kiều cũng “Xắn tay bẻ khóa động đào/ Rẽ mây cho tỏ lối vào thiên thai” mà sang nhà Kim Trọng. Tôi tin rằng cả (1) và (2) đều là sản phẩm của cụ Nguyễn Du, và chính Cụ đã sửa (1) thành (2), cho bạn đọc một khổ thơ không chỉ tả cảnh tươi non mà còn đầy ý tứ gợi chuyện tương lai. Vậy nên chúng ta không có gì phải ngần ngại khi chọn (2)!

Trong Truyện Kiều có không ít chỗ dị bản là cả một đoạn thơ dài, ví như đoạn từ câu 533:

“Mở xem thủ bút nghiêm đường,
Nhắc rằng thúc phụ từ đường mệnh chung.
Hãy còn ký táng Liêu Ðông,
Cố hương khơi diễn ngàn trùng sơn khê.
Rày đưa linh thấn về quê,
Thế nào con cũng phải về hộ tang”. (1)

Và:

“Ðưa tin thúc phụ từ đường,
Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề.
Liêu Dương cách trở sơn khê,
Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang”. (2)

Cả (1) và (2) đều có trong các bản Nôm cổ, bây giờ ta xét xem chất lượng thơ của mỗi đoạn. Dễ thấy được (1) dài dòng, kể lể, ít chất thơ do tường thuật nội dung bức thư của Nghiêm Ðường. Khi viết truyện thơ, Nguyễn Du rất có ý thức rút ngắn phần kể lể sự việc, dành câu chữ để diễn tả tâm trạng, giàu chất thơ. Tôi tin (1) nằm trong những bản chưa được sửa sang mấy, rồi sau đó chính tác giả đã viết lại đoạn thơ này, vừa hay hơn, lại rút ngắn được hai câu. Vậy nên hiển nhiên ta chọn (2).

Có khi hai dị bản đều có trong các bản Nôm cổ, nhưng phân tích để đi đến chọn cái nào rất khó khăn, có khi phải tranh luận sôi nổi. Ví dụ câu 449 – 450:

“Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Ðịnh ninh hai miệng/mặt một lời song song.

Xét trên chục bản Nôm cổ quen thuộc, thì số bản dùng “miệng” và “mặt” xấp xỉ nhau! Chắc những người thích chọn chữ “miệng” là vì thấy lời nói đi ra từ miệng! Ý nghĩ này làm tôi nhớ đến có nhà Kiều học đã đề nghị đổi câu “Thâm nghiêm kín cổng cao tường” thành “kín cống” (dấu sắc) để hợp với “Cạn dòng lá thắm…” của câu bát; kể ra cũng có ý hay hay. Nhưng như vậy là chỉ chú ý vào tiểu tiết mà bỏ qua cái chính, cái tổng thể: Nguyễn Du là người thích dùng ngôn ngữ dân gian, cụ thể là thành ngữ, tục ngữ. Theo thống kê của tôi thì trong Truyện Kiều, cụ đã sử dụng khoảng 200 thành ngữ, tục ngữ. Mà “kín cổng cao tường” là một thành ngữ hết sức quen thuộc, người nghe không chỉ hình dung được quang cảnh một ngôi nhà, mà còn nghĩ đến gia phong, kỷ cương của những người ở trong ngôi nhà đó. Còn “kín cống cao tường” là chỉ là một câu tả cụ thể, riêng biệt nơi này ở bề ngoài mà không hề cho người ta nghĩ tới người trong nhà như thế nào!

Trở lại chữ “miệng” mà ta đang xét. Nó cũng dựa vào cái cụ thể, tiểu tiết mà quên đi cái đại thể quan trọng hơn. Ðó là Nguyễn Du sử dụng thành ngữ “Hai mặt một lời” để nói những lời đã nói ra đáng tin cậy, chắc chắn, và đã được hai người chứng kiến. “Chữ đinh ninh hai mặt” góp phần nói thêm ý đó, còn “Ðinh ninh hai miệng” thì chỉ gây buồn cười, chứ không nói được ý gì. Có người nói rằng, chỉ có thành ngữ “Ba mặt một lời” chứ không có thành ngữ “Hai mặt một lời”. Xin thưa, Ðại thi hào của chúng ta đã tạo ra khá nhiều từ mới trong Truyện Kiều (sẽ có bài riêng), nếu khi chỉ có thành ngữ “Ba mặt một lời”, thì khó khăn gì ông không biến tấu thành “Hai mặt một lời” cho hợp với hoàn cảnh trong truyện? Bởi vậy, với tôi, câu thơ đó phải là: “Ðinh ninh hai mặt một lời lời song song”! Thế thì chữ “miệng” do đâu mà có? Tôi tin rằng, đó là ý của một số nhà biên soạn, chứ đối với Nguyễn Du, ngay trong bản nháp đầu tiên, cụ cũng không dùng từ ấy!

Câu 2049 – 2050:

“Xem qua sư mới dạy qua,
Phải nơi/ni Hằng Thủy thì ta hậu tình”.

Trong các bản Nôm cổ, từ này không có dị bản, trong bản Quốc ngữ, do cách hiểu, khác nhau mà người biên soạn phiên âm khác nhau của chữ Nôm đó. Trong Truyện Kiều có 40 chữ “nơi” thì Nguyễn Du đều dùng chữ Nôm đó, nên ở đây, phiên âm thành chữ “nơi” thì không có gì phải lo lắng về văn bản. Giác Duyên có quen một người có tên là Hằng Thủy đang trụ trì một ngôi chùa ở vùng Bắc Kinh, nên khi nghe Thúy Kiều là người tu hành ở Bắc Kinh thì Giác Duyên đoán là ở ngôi chùa của Hằng Thủy, lập tức Thúy Kiều công nhận ngay (vì đang nói dối mà). Thế là Giác Duyên nói ý rằng: vì Hằng Thủy là nơi tôi quen biết, vì cô ở nơi ấy đến đây, thì tôi đối xử tử tế. Như vậy là về cả văn bản, văn cảnh, chữ đó là chữ “nơi” không có gì phải tranh cãi nữa.

Nhưng số người phiên âm chữ Nôm đó thành chữ “ni” (phiên âm được mà) lý luận rằng: Hằng Thủy là sư nữ, tức ni cô, nên câu này phải đọc là “Phải ni Hằng Thủy thì ta hậu tình”. Lập luận này có hai chỗ không thỏa đáng. Thứ nhất, trong Kim Vân Kiều truyện cũng như Truyện Kiều, không có câu nào chỉ Hằng Thủy là sư nữ cả, chắc những người đó suy đoán Hằng Thủy là nữ chỉ vì cái tên, điều ấy chắc gì đã đúng. Bạn nhà văn của tôi có cặp vợ chồng mà chồng tên Trang, vợ tên Thắng, nếu đoán theo cách đó là nhầm to. Thứ hai, người mà Giác Duyên hậu tình là Thúy Kiều, vì Thúy Kiều ở nơi Hằng Thủy, chứ không phải hậu tình với Hằng Thủy, mà “Phải ni Hằng Thủy thì ta hậu tình”. Rất tiếc là trong Bản Kiều Tiên Ðiền vừa xuất bản, tôi đã nói điều này nhiều lần, nhưng người tổ chức in ấn không nhớ, vẫn dùng “miệng” và “ni”! Ðó là điều tôi tiếc nhất ở bản Tiên Ðiền, nhưng người đó hứa sẽ sửa lại theo ý của tôi trong lần tái bản sắp tới!

“Nghề chơi cũng lắm công phu”, huống chi là nghề biên soạn. Trên đây tôi mới nêu ra một số trường hợp chúng tôi đã chọn lựa dị bản trên nguyên tắc dựa vào các bản Truyện Kiều Nôm cổ, và khi các dị bản cùng có trong các bản Nôm cổ thì phải dựa vào văn cảnh, thi pháp của Nguyễn Du và chất lượng thơ.

Vương Trọng