Xứ Nghệ có nhiều gia đình mà những thế hệ bao đời tiếp nối nhau làm rạng danh dòng họ, rạng danh quê hương. Họ đã sống với lí tưởng và sự cống hiến… không chỉ bởi dòng huyết quản được truyền đời, mà còn bằng sự tự ý thức mình cần phải tiếp nối để xứng đáng với những gì mà cha anh mình đã “sống chết bảo vệ, vun đắp”. Có thể nói, khí phách, phẩm giá, ý chí và sự tài hoa… như một mạch ngầm xuyên suốt, chảy mãi, tưới tắm tới bao thế hệ. Bài viết này xin được nói về một gia đình như thế, đó là gia đình của nhà thơ – Anh hùng LLVTND Nguyễn Ðăng Chế, một hội viên tiêu biểu của Hội Liên hiệp VHNT Nghệ An.
Từ cụ đồ Nghệ khí phách
Xin được bắt đầu từ ông nội của nhà thơ – Anh hùng Nguyễn Ðăng Chế, đó là cụ đồ Nguyễn Thế Mỹ. Là một nhà nho luôn cháy bỏng lòng yêu nước, cụ Mỹ từng khảng khái viết nên khí chất làm người qua những câu đối và vần thơ tự vịnh: “Nỏ chết quách cho xong, cớ sao như đá như đồng, trải bao phen lặn lộn giữa tân trào, trông vời non nước đâu ta, nỗi khách phong trần đầu đã bạc/ Khéo sống dai chi mãi, quen lối khi thơ, khi rượu, sáu mươi tuổi thảnh thơi vòng thọ vực, ngoảnh lại sách đèn là bạn, thói nhà bang tuyết tiếng còn trong” (Lên 60 tự vịnh).

Cụ đồ Mỹ yêu văn hay chữ, giỏi chữ Hán nhưng không may mắn đỗ đạt nên về làng mở lớp dạy học và sáng tác thơ văn, một số sáng tác của ông được in trong tập “Thơ văn các nhà nho xứ Nghệ”. Trên hành trình gieo chữ ấy, cụ lặng lẽ gieo mầm yêu nước, gieo tinh thần đấu tranh giành độc lập cho học trò và các con. Chính cậu con trai Nguyễn Thanh Khầm – người sau này rất đam mê nghiên cứu văn hóa dân gian đã được cha mình (cụ đồ Mỹ) rèn dạy và có dự định gửi cụ Phan Bội Châu dạy dỗ, nhưng vì những điều kiện không thuận lợi lúc bấy giờ, ý định này đã không thành. Trong bóng đêm nô lệ dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cụ đồ Mỹ đã lần ra Yên Thế tìm đến với phong trào đấu tranh của Ðề Thám. Tại đây cụ đồ đã giúp cụ Hoàng Hoa Thám trong công tác tuyên truyền và vận động quyên góp kinh phí (Theo hồ sơ của Cục Hồ sơ nghiệp vụ an ninh – Tổng cục An ninh II). Sau này cụ lại tiếp tục tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, sáng tác văn thơ cổ động, khuyến khích tinh thần đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ. Trước sự hy sinh của các chiến sĩ phong trào 1930-1931 tại Thái Lão (Hưng Nguyên), cụ đã xúc động viết Lời điếu: “Nào xiết nỗi oan cừu, Hưng Nguyên ném tạc đạn, Nghi Lộc phát ca nông, sống thể phách thác tinh anh vì nước, vì dân, chín suối còn thơm hồn nghĩa liệt/ Chẳng biết chi nòi giống, Tôn Thất Hoàn đi sau, Hoàng Gia Mô đi trước, quỷ đem đường, ma đưa lối, mất thây mất xác, nghìn năm khôn chuộc tội tham tàn”. Cụ bị thực dân Pháp bắt giam, tù đầy tại các nhà lao: Vinh, Côn Ðảo, v.v…, bị tra tấn dã man, cắt mất hai gót chân. Cuối năm 1939, được thả về, sau hai năm đau ốm, đến 1941 thì cụ mất.
Ðến người cán bộ văn hóa tận tụy, hào hoa
Tinh thần yêu nước và yêu văn chương của cụ đồ Mỹ tiếp tục nóng chảy trong huyết quản người con trai Nguyễn Thanh Khầm (còn gọi là Nguyễn Ðăng Khầm, là cha của nhà thơ – Anh hùng LLVTND Nguyễn Ðăng Chế). Dưới danh nghĩa thầy thuốc bắc vào Nam hành nghề, cụ đồ Mỹ đã bí mật đưa con trai theo cùng vào gặp cụ Phan Bội Châu, sau đó vào Quảng Nam vùng quê của chí sĩ Phan Chu Trinh, rồi ở trọ trong gia đình một người bạn để làm nghề bốc thuốc. Những tháng ngày cùng cha sống nơi đất khách, được giao tiếp nhiều với các chí sĩ bạn của cha, tinh thần yêu nước trong chàng trai trẻ Nguyễn Thanh Khầm càng được đắp bồi. Ðặc biệt, được làm quen với các đội tuồng và cải lương, Nguyễn Thanh Khầm như cá gặp nước mê say học hỏi không biết mệt. Ông học hát tuồng, cải lương. Hầu như các vở tuồng cổ ông đều thuộc hết. Cùng với vốn văn học và chữ Hán phong phú có được do cha rèn dạy, ông sớm chứng minh khả năng hoạt động văn hóa nghệ thuật của mình. Ðây là những tháng ngày vô cùng ý nghĩa, là hành trang cho sự nghiệp văn chương, nghệ thuật của ông sau này. Cuộc đời ông gắn với hoạt động văn hóa, văn nghệ sôi nổi qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Khi về quê, ông hăng say tham gia công tác thanh niên cách mạng từ những ngày tiền khởi nghĩa. Sau Cách mạng tháng Tám, ông trở thành người cán bộ văn hóa mẫn cán, xông xáo khắp tỉnh Nghệ An. Ông làm công tác tuyên truyền ở huyện, rồi hoạt động trong Ban Văn nghệ Liên Khu Tư một thời gian, sau đó chuyển sang Ty Văn hóa Nghệ An làm việc. Ông được cử đi học trường Sân khấu nghệ thuật Việt Nam. Từ một cán bộ phong trào, ông trưởng thành thành cán bộ quản lý với vai trò Trưởng phòng Văn nghệ, Ty Văn hóa Nghệ An. Nhà thơ, Anh hùng Nguyễn Ðăng Chế nhớ lại “Những tháng năm được ông nội cho theo vào Quảng Nam sinh sống, cha đã học được rất nhiều kiến thức quý báu về nghệ thuật tuồng, chèo. Sau này về Nghệ An, ông có giúp đoàn Cải lương Hòa Bình sáng tác và đạo diễn rất thành công vở “Ðôi hài cánh phượng”, được thưởng một chiếc xe đạp Pháp. Ông rất vui và tự hào”. Còn bà Huệ – vợ nhà thơ – Anh hùng Nguyễn Ðăng Chế thì chia sẻ: “Hồi những năm 1960-1970, cha đi “nằm vùng” gây dựng phong trào văn nghệ rất sôi nổi. Có những đợt lên Nghĩa Ðàn chỉ đạo phong trào văn nghệ cho Nông trường Cờ Ðỏ, về Thanh Chương làm chương trình cho Bệnh viện 4 (từ Vinh sơ tán lên đây) đến nửa tháng hoặc hai mươi ngày ăn ở trong dân. Về nhà cha vui lắm vì làm được những điều mình yêu thích.” Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Lê cũng nhớ mãi hình ảnh ông Khầm còng lưng chất đầy xe đạp toàn đạo cụ chở về cho đội văn nghệ xã Diễn Bình (huyện Diễn Châu cũ) biểu diễn. Với chị đó là ký ức về một người cán bộ làm văn hóa cần mẫn, xông xáo và nhiệt huyết. Cái thời đó, ông cùng các cán bộ Ty Văn hóa Nghệ An như Thanh Tùng, An Thuyên, Nguyễn Hữu Thuông, v.v… như là người thân của nhân dân ở cơ sở.

Theo hồi ức của cố nhà văn Phan Thế Phiệt trong một bài viết đăng trên tạp chí Sông Lam năm 2017, thì Nguyễn Thanh Khầm …“là một nghệ sỹ tuồng nổi tiếng được đào tạo chính quy lúc bấy giờ. Ông còn nổi tiếng là người xông xáo đi về cơ sở xây dựng phong trào… Thường về ‘nằm vùng’ ở xã tôi (xã Hoa Thành, huyện Yên Thành cũ) để nghiên cứu và tập luyện cho hai đội tuồng… Nghệ sỹ Thanh Khầm còn là bậc thầy về dân ca, ví giặm. Ông có hẳn một bộ sưu tập hết sức công phu về dòng dân ca này qua khảo sát, nghiên cứu từ những chuyến đi dọc sông Lam, sông La cùng nhà thơ Trần Hữu Thung và nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong. Ông tận tình dìu dắt tôi say ví giặm từ ngày ấy”.
Từ Vĩnh Thành (huyện Yên Thành cũ) – nhà của Nguyễn Thanh Khầm cách làng Vân Tập xã Diễn Bình (huyện Diễn Châu) chỉ chừng gần 2 cây số. Làng Vân Tập là “cái nôi” văn nghệ nổi tiếng với các nhà viết kịch tên tuổi như mấy anh em dòng họ Nguyễn Trung: Truyễn Trung Phong, Nguyễn Trung Giáp, Nguyễn Trung Ðính, rồi Ðội văn nghệ xã Diễn Bình, v.v… Cứ mỗi lần về nhà, ông lại đạp xe sang làng Vân Tập đến nhà Nguyễn Trung Ðính. Cạnh đó, nhà viết kịch Nguyễn Trung Giáp cũng vác một cái chõng tre sang, mấy ông ngồi đàm đạo văn chương suốt cả đêm, ánh trăng thay đèn dầu. “Ông Khầm to cao, đẹp trai, trông như Tây. Ðặc biệt ông có đôi mắt hiền, sáng quắc, và một giọng nói trầm ấm, chậm rãi như tỉ tê rất hút hồn người. Ông và các chú, bác toàn nói chuyện văn hóa, văn nghệ, bình luận văn chương” – Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Lê – con gái nhà viết kịch Nguyễn Trung Ðính chia sẻ. Với chất giọng trời phú này cùng một khả năng cảm thụ văn chương sâu sắc, kỹ năng biểu diễn tốt “Ngâm thơ không chỉ ngâm nga mà phải hiểu bài thơ để biết đâu cần đọc, cần nói, đâu cần ngâm. Từ ánh mắt, khuôn miệng, bàn tay, thân hình cũng phải biết biểu đạt tinh thần bài thơ” (nghệ sỹ thường nói với các nghệ nhân ở cơ sở như vậy), nên ông đã đạt giải Nhất toàn miền Bắc trong một cuộc liên hoan biểu diễn nghệ thuật những năm 1960, và xuất hiện khá nhiều trên Ðài Tiếng nói Việt Nam. Cũng như với nhà viết kịch Nguyễn Trung Ðính, Nguyễn Thanh Khầm kết nghĩa anh em với nhà thơ Trần Hữu Thung, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Nghệ An. Nguyễn Thanh Khầm, Trần Hữu Thung bấy giờ được xem là “hai bồ chữ Nho” trên đất Nghệ. Khâm phục vốn Hán học của anh kết nghĩa, nhà thơ Trần Hữu Thung từng cho rằng, cần tìm hiểu gì về Hán văn thì cứ hỏi Nguyễn Thanh Khầm. Cả hai ông luôn đồng hành trên hành trình hoạt động văn hóa, văn nghệ; cùng sáng tác thơ ca hò vè, cùng nghiên cứu sưu tầm văn học dân gian. Chính trong hành trình lăn lộn khắp các địa phương gây dựng phong trào văn nghệ, Nguyễn Thanh Khầm đã phát hiện, sưu tầm, chỉnh lý và công bố đầu tiên bài ví giặm nổi tiếng “Phụ tử tình thâm” năm 1957 (được tập hợp trong cuốn “Ðịa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh” do Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian và NXB Nghệ An xuất bản, Giáo sư Nguyễn Ðổng Chi chủ biên). Ông là một cây viết xông xáo trên nhiều thể loại: thơ, ca dao, hò vè, văn tế câu đối, kịch bản sân khấu, v.v…; là một trong những thành viên tích cực của Bạn Vận động sáng lập Hội Văn nghệ Nghệ An vào năm 1967. Chính nhờ ông tận tâm “trao truyền kiến thức, truyền lửa sáng tạo” mà “tôi trở thành một trong những hội viên đầu tiên của Hội Văn nghệ Nghệ An” như cố nhà văn Phan Thế Phiệt đã chia sẻ.
Và mạch nguồn chảy mãi
Tình yêu quê hương và lẽ sống trọng nghĩa ấy cứ thế tiếp nối qua các thế hệ con cháu của nhà viết kịch Nguyễn Thanh Khầm. Nếu người cha xông pha trên mặt trận văn hóa, thì người con cả Nguyễn Trường Sơn đã anh dũng hy sinh trên chiến trường chống Mỹ. Người con thứ Nguyễn Ðăng Chế, từ một cán bộ ngành giao thông tận tụy, năng nổ, đã trở thành “linh hồn” của phà Bến Thủy anh hùng.
Trong giờ khắc sinh tử, ông đã bình thản đón nhận “lễ truy điệu sống”, chỉ huy ca nô rà phá bom từ trường để thông tuyến huyết mạch giao thông Bắc – Nam. May mắn sống sót sau chiến tranh, người anh hùng ấy lại chọn sống lặng lẽ với thơ. Sáu tập thơ đã xuất bản Với người năm xưa (1996), Dòng sông vô hình (2008); Tiếng vọng con đường (2014); Thơ 4 câu (2014); Nắng chiều (2016, in chung); Lục bát chiều (2020) là tiếng lòng thủy chung với đồng đội, là trăn trở về lẽ làm người: “Lợi danh đen trắng nhập nhằng/ Tránh xa đừng để gọi thằng mà đau”. Từ ngày về hưu, ông bình thản sinh hoạt trong Hội Liên hiệp VHNT Nghệ An.

Tiếp bước truyền thống ấy, em trai ông là Ðại tá, nhà văn Nguyễn Ðăng An cũng ghi dấu ấn sâu sắc trong làng báo chí và văn chương. Ông là hội viên của nhiều tổ chức văn học và báo chí uy tín. Thế hệ thứ tư và thứ năm của gia đình, như nghệ sĩ Nguyễn Ðăng Hòa (Nhà hát Công an nhân dân) và cô sinh viên trẻ Lương Minh Tú (cháu ngoại ông Chế), vẫn đang miệt mài cống hiến cho nghệ thuật. Nghệ sĩ Nguyễn Ðăng Hòa (con trai Anh hùng Nguyễn Ðăng Chế) là nghệ sĩ đã thành danh với nhiều vai diễn lãnh tụ, lãnh đạọ. Với chương trình nghệ thuật “Dòng sông vang bóng anh hùng” sẽ diễn ra tại Thành Vinh (Nghệ An) vào dịp chào mừng ngày Thống nhất đất nước và kỷ niệm 136 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lương Minh Tú đã dùng ngôn ngữ của kịch, múa và ví giặm để kể lại câu chuyện cảm tử của ông ngoại mình và các đồng chí, đồng đội tại bến phà Bến Thủy – một cách để tri ân quá khứ và nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị của sự hy sinh. Như cô chia sẻ: “Thế hệ hôm nay cần hiểu những hy sinh của cha ông để biết mình phải sống thế nào”.

Có một dòng chảy bền bỉ và mãnh liệt hơn mọi thác ghềnh, đó chính là dòng chảy của gia phong. Từ cụ Ðồ Mỹ kiên trung, qua người cán bộ văn hóa Nguyễn Thanh Khầm tận tụy, đến Anh hùng – nhà thơ Nguyễn Ðăng Chế và những người cháu hôm nay, ngọn lửa yêu nước và lòng say mê văn hóa dân tộc vẫn luôn được gìn giữ vẹn nguyên.
Câu chuyện của gia đình nhà thơ Nguyễn Ðăng Chế không chỉ là niềm tự hào của một dòng họ, mà còn là minh chứng cho sức sống diệu kỳ của văn hóa xứ Nghệ. Khi truyền thống được tiếp nối bằng sự hiểu biết và lòng biết ơn của tuổi trẻ, những “dòng sông anh hùng” ấy sẽ còn mãi bồi đắp phù sa và vang vọng mãi âm hưởng về lòng nhân nghĩa, đức hy sinh.
Đào Thúy Hoa















