1. Những yếu tố tác động đến đổi mới lý luận, phê bình văn nghệ
Đường lối đổi mới của Đảng đã tạo nên động lực mới trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và tác động mạnh mẽ đến văn học nghệ thuật. Cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ sĩ đại diện giới văn hóa, văn nghệ trong hai ngày 6 và 7 tháng 10/1987 tại Hà Nội đã đưa lại một luồng sinh khí mới cho văn học nghệ thuật, khiến cho văn nghệ sĩ tự tin bước sang một thời kỳ mới.
Hơn một tháng sau cuộc gặp gỡ đó, ngày 28/11/1987, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 05 về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới. Từ thời kỳ đổi mới, Đảng càng quan tâm nhiều hơn đến công tác văn hóa văn nghệ. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6/1991) được trình bày tại Đại hội Đảng lần thứ VII đã khẳng định đường lối xây dựng văn hóa nước ta theo phương châm: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại”[1].
Trong bối cảnh đất nước thống nhất, các dân tộc anh em trên toàn cõi đã đoàn kết trong mái nhà chung, việc phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam là hết sức cần thiết. Mặt khác để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, chúng ta cần phải không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nghị quyết 04 – NQ/TW ngày 14/11/1993 của Đảng đã nhấn mạnh vai trò to lớn của văn hóa: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”[2].
Trên cơ sở những yếu tố chính trị, xã hội và văn hóa tác động trực tiếp trên đây, lý luận văn nghệ Việt Nam đã đổi mới nhanh chóng, chuyển đổi hệ hình lý luận văn nghệ từ độc tôn sang đa dạng.
2. Những thành tựu cơ bản của lý luận, phê bình văn nghệ từ sau Đổi mới
2.1. Nhận thức lại một số vấn đề lý luận văn nghệ thời bao cấp
Đổi mới tư duy trong lý luận văn học thường xuất phát từ việc đổi mới tư duy triết học, tư tưởng mỹ học. Một thời kỳ dài lý luận văn học chúng ta chỉ dựa trên nền tảng mỹ học Marx – Lênin chính thống được truyền bá từ Liên Xô, Trung Quốc. Những giới hạn của lý luận văn nghệ Marx – Lenin xuất phát từ sự nhìn nhận văn nghệ trong hai mối quan hệ chủ yếu là: văn nghệ và thực tại xã hội, văn nghệ và các hình thái ý thức xã hội khác. Xuất phát từ tính thực dụng trong quá trình đấu tranh giai cấp mà cách vận dụng có lúc mang tính phiến diện, cực đoan, xa rời tính khoa học của chủ nghĩa Marx. Trong quan hệ văn nghệ với thực tại, các nhà lý luận dựa vào phản ánh luận của Lênin, lấy chân lý đời sống làm thước đo chân lý nghệ thuật và quy giá trị hàng đầu của tác phẩm nghệ thuật là tính chân thực. Trong quan hệ với các hình thái xã hội khác, văn nghệ không được đặt ở vị thế bình đẳng mà thường bị coi là phương tiện, là công cụ của các hình thái ý thức khác. Những mệnh đề như văn nghệ là phương tiện giáo dục đạo đức, văn nghệ là vũ khí tư tưởng… gần như được mặc nhiên thừa nhận.
Trong không khí dân chủ hóa của xã hội và trong đời sống tư tưởng những năm cuối thập niên 80 và đầu 90 của thế kỷ XX, hàng loạt vấn đề cốt yếu của lý luận và thực tiễn văn học đã được đưa ra bàn thảo tranh luận sôi nổi như vấn đề quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, văn học phản ánh hiện thực, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, đánh giá lại nền văn học Việt Nam hiện đại. Qua những cuộc hội thảo, tranh luận đó nhiều vấn đề lý luận văn nghệ được nhận thức khách quan, toàn diện hơn:
Trước hết, bản chất xã hội của văn nghệ, mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ được nhìn nhận lại khoa học và linh hoạt hơn. Văn nghệ là một hình thái ý thức xã hội, quan hệ chặt chẽ với chính trị, đạo đức, tôn giáo nhưng văn nghệ không phải là “công cụ” của các hình thái ý thức khác. Văn nghệ là lương tâm, lương tri, là “nỗi đau nhân tình” trước “những điều trông thấy”. Văn nghệ đồng hành với chính trị trên con đường đi đến cái thiện, văn nghệ có thể “tuyên truyền” cho một chế độ chính trị tiến bộ để lẽ công bằng được thực thi, để quan hệ giữa người với người ngày càng nhân ái. Văn nghệ chân chính bao giờ cũng vì quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền tự do bình đẳng của con người mà lên tiếng. Văn nghệ là tiếng nói hồn nhiên và chân thật của con người. Soi vào tấm gương nghệ thuật, con người sẽ nhận diện ra mình đồng thời thấy được trạng thái nhân sinh xã hội, bộ mặt thời đại mà mình đang sống.
Thứ hai, tính khuynh hướng của văn nghệ được nhìn nhận một cách khoa học và phù hợp với tinh thần của chủ nghĩa Marx. Tư tưởng văn nghệ của Marx – Engels rất khoa học và biện chứng nhưng về sau khi thực hiện cách mạng văn hóa, một số người đã quá cực đoan khi đối lập văn hóa của giai cấp vô sản với các giai cấp khác trong xã hội, phủ nhận một số thành tựu văn hóa của nhân loại vì cho đó là sản phẩm của xã hội tư bản. Cũng vì quá nhấn mạnh đến tính giai cấp trong văn nghệ mà một thời người ta rất ngại nói đến tính nhân loại, tính người, thậm chí ai nói đến tính nhân loại còn bị quy kết là thiếu lập trường tư tưởng. Thời Đổi mới, khi chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta chấp nhận nhiều thành phần kinh tế và trong xã hội cũng tồn tại bình đẳng các giai cấp khác nhau. Vấn đề tính giai cấp trong văn nghệ dường như không được nhắc đến nữa. Tính khuynh hướng được thể hiện chủ yếu ở tính nhân dân và tính dân tộc, ở sứ mệnh phục vụ cho sự nghiệp vẻ vang của Đảng xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Thứ ba, mối quan hệ giữa văn nghệ và hiện thực được nhìn nhận biện chứng và rộng mở hơn. Với tầm nhìn hiện tại, một số nhà lý luận văn nghệ đã chỉ ra những cách hiểu giản đơn, nhầm lẫn về phản ánh luận, về nguyên lý văn học là một hình thái ý thức xã hội, về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ trước đây. Vấn đề cốt lõi xuyên suốt những quan niệm lệch lạc đó là cách hiểu giản đơn về nguyên lý văn học phản ánh hiện thực, chỉ coi phản ánh là sự tái hiện, là phản chiếu, là ghi lại hiện thực cuộc đời. Văn nghệ phản ánh và biểu hiện đời sống xã hội thông qua cách nhìn cách cảm, cách nghĩ của văn nghệ sĩ. Vì vậy văn học nghệ thuật là nơi thể hiện rõ nhất trạng thái nhân sinh của xã hội. Văn nghệ là bộ phận tinh tế và nhạy cảm của văn hóa nên những vấn đề trung tâm của thời đại, dân tộc, nhân dân, số phận con người bao giờ cũng là mối bận tâm của văn nghệ sĩ. Văn nghệ phản ánh bản chất và quy luật xã hội qua thế giới nghệ thuật chứ không phải sao chép đời sống một cách máy móc. Giá trị hiện thực của tác phẩm là những thông điệp nhân sinh được nghệ sĩ đúc rút từ hiện thực cuộc đời, nó giúp bạn đọc hiểu về bản chất và quy luật của đời sống và những giá trị cao đẹp của con người.
Thứ tư, bản sắc dân tộc của văn nghệ được nhấn mạnh hơn và mở rộng hơn. Bản sắc dân tộc của văn nghệ là những thuộc tính độc đáo, nổi bật của một nền văn nghệ tạo nên một bản diện riêng so với các nền văn nghệ khác trong cộng đồng nhân loại. Bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là bản sắc văn hóa người Việt mà còn là bản sắc văn hóa của 53 dân tộc ít người trên đất nước Việt Nam. Tính độc đáo của các nền văn hóa của các dân tộc tạo nên nền văn hóa Việt Nam thống nhất mà đa dạng. Tính dân tộc được coi là một phạm trù lịch sử, nó vận động không ngừng và mang dấu ấn thời đại. Mặt khác, tính dân tộc không khép kín mà phải xem xét trong mối quan hệ với tính nhân loại, vừa kế thừa truyền thống vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm cho văn hóa dân tộc giàu có, hiện đại hơn. Đường lối xây dựng nền văn hóa văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc do Đảng ta đề xướng và không ngừng bổ sung hoàn thiện qua các giai đoạn cách mạng, được các nhà khoa học và các nhà hoạt động văn hóa làm sáng tỏ thêm. Đó là đường lối đúng đắn, nhất quán mà linh hoạt, phù hợp với quy luật phát triển nội tại của văn hóa văn nghệ nước ta, phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển hiện nay.
2.2. Tiếp nhận và ứng dụng lý luận văn học nước ngoài được đẩy mạnh
Từ sau năm 1986, mỹ học Marxist được bổ sung hoàn thiện hơn nhờ việc giới thiệu mỹ học Marxist phương Tây với những đại diện tiêu biểu như G. Lukács, J.P. Sartre, C. Caudwell, L. Golman, P. Bourdieu, R. Garaudy… Mỹ học phương Tây với mối quan tâm nhiều hơn đến nghệ thuật và văn hóa đã có những khám phá mới về tính đặc thù của văn học, nghệ thuật và văn hóa. Mỹ học Marxist phương Tây là một hệ thống mở, nó kết hợp chủ nghĩa Marx với các lý thuyết hiện đại như phân tâm học, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh và đưa lại cái nhìn đa diện hơn về con người, hiện thực đời sống và bản chất nghệ thuật.
Các trường phái lý luận hiện đại của thế giới tiêu biểu như trường phái hình thức Nga, thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, mỹ học tiếp nhận, nghiên cứu văn học so sánh, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu cấu trúc và liên văn bản, lý thuyết diễn ngôn, chủ nghĩa hậu hiện đại… được tiếp nhận dù muộn màng nhưng góp phần quan trọng hiện đại hóa lý luận văn học nước nhà.
Những lý thuyết được ứng dụng vào nghiên cứu văn học, nghệ thuật như chủ nghĩa cấu trúc, phân tâm học, lý thuyết tiếp nhận, chủ nghĩa hiện sinh đã được tiếp nhận và ứng dụng ở miền Nam từ trước năm 1975. Nhưng thời kỳ đó ở miền Bắc, những lý thuyết này đang bị phê phán. Thời kỳ Đổi mới ở miền Bắc mới tiếp nhận và ứng dụng các lý thuyết này một cách cởi mở. Đó cũng là một biểu hiện của quá trình hòa hợp thống nhất trên phương diện lý luận văn nghệ. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành nghiên cứu di sản văn nghệ miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 trên tinh thần gạn đục, khơi trong nhằm có cái nhìn khách quan toàn diện hơn về bộ phận văn nghệ này. Từ tinh thần đó, chúng ta không loại trừ toàn bộ văn nghệ đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 ra khỏi nền văn nghệ dân tộc, mà chỉ loại bỏ những tác phẩm không có giá trị, đi ngược lại lợi ích của nhân dân và dân tộc mà thôi.

Trong những năm gần đây xu hướng liên ngành trong lý luận văn nghệ đang được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Các lý thuyết mang tính liên ngành như nữ quyền luận, phê bình sinh thái, địa văn học, nhân học văn hóa, lý thuyết diễn ngôn, phê bình kí hiệu học… được nghiên cứu, ứng dụng trong nghiên cứu phê bình văn học, nghệ thuật và đưa vào chương trình giảng dạy ở các trường đại học và các học viện.
Gần nửa thế kỷ qua, lý luận văn nghệ Việt Nam đã có bước tiến dài chưa từng thấy trong tiến trình lịch sử văn nghệ dân tộc. Phương châm dân tộc và hiện đại, thống nhất mà đa dạng luôn luôn được các nhà lý luận văn nghệ quán triệt trong hành trình xây dựng nền văn nghệ mới. Những di sản lý luận truyền thống văn nghệ dân tộc được nghiên cứu, kế thừa; những tri thức kinh điển lý luận văn nghệ nhân loại được nghiên cứu và tiếp nhận; những lý thuyết mới về văn nghệ của nước ngoài được giới thiệu và ứng dụng góp phần hiện đại hóa lý luận văn nghệ nước ta, góp phần thúc đẩy sự phát triển của phê bình và sáng tác văn nghệ.
3. Những hạn chế của lý luận văn nghệ trong thời gian qua
Việc tiếp nhận các lý thuyết văn nghệ và ứng dụng vào phê bình, nghiên cứu có nhiều thành tựu đáng quý nhưng không tránh khỏi những hạn chế. Việc dịch thuật các công trình lý luận nước ngoài thiếu tính hệ thống, mang tính tự phát của cá nhân. Nhiều lý thuyết đã lỗi thời, số phận lịch sử của nó đã chấm dứt nhưng chúng ta vẫn chưa nhận ra những giới hạn của nó, chưa hiểu đúng bản chất và giá trị cốt lõi của các lý thuyết, vì thế ứng dụng không hiệu quả, nhiều lúc khiên cưỡng, không có giá trị khoa học.
Trong những thập niên gần đây, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hóa, lý luận phê bình văn nghệ có thêm không gian hoạt động mới, đó là không gian mạng. Trên không gian này, lý luận, phê bình văn học nghệ thuật có khả năng kết nối nhanh, rộng rãi, tính thời sự và tính dân chủ được tăng cường hơn. Tuy nhiên, không ít người thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu bản lĩnh chính trị tư tưởng lại nhảy vào bình luận thiếu trách nhiệm làm nhiễu loạn đời sống văn nghệ, làm lệch lạc thị hiếu thẩm mỹ công chúng.
Số lượng những người làm công tác lý luận phê bình văn nghệ khá đông nhưng phân bố không hợp lý về thế hệ, lĩnh vực chuyên môn. Hiện đang có sự hụt hẫng về thế hệ, đặc biệt trong lĩnh vực lý luận, phê bình âm nhạc, sân khấu, điện ảnh… Các trường đại học chưa thu hút được sinh viên, học viên đăng ký học chuyên ngành lý luận, phê bình văn nghệ. Nhà nước chưa có những chính sách đột phá trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng những người có năng lực phù hợp với công tác quản lý văn nghệ.
Việc sắp xếp, bố trí những người làm công tác quản lý văn hóa, văn nghệ có lúc, có nơi không hợp lý. Không ít người làm công tác quản lý văn nghệ nhưng chuyên môn được đào tạo ít liên quan đến văn hóa, văn nghệ, không hiểu đặc trưng của hoạt động văn nghệ nên gặp khó khăn trong việc nắm bắt các hiện tượng văn hóa, văn nghệ cũng như định hướng phát triển văn hóa, văn nghệ.
Từ thành tựu và hạn chế của lý luận văn nghệ trong hành trình gần 40 năm qua, chúng ta có thêm những bài học bổ ích và thiết thực. Để phát triển lý luận trong thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay, chúng ta luôn kiên trì quan điểm kế thừa và cách tân, dân tộc và hiện đại để góp phần xây dựng nền văn nghệ Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, giàu tính nhân văn.
4. Định hướng phát triển lý luận, phê bình văn nghệ trong thời gian tới
Cách đây 15 năm, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23 – NQ/TW ngày 16/6/2008 về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. Nghị quyết này thể hiện tập trung quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng về văn nghệ trong mấy thập niên gần đây. Trong đó, Đảng ta nhấn mạnh vai trò và tính đặc thù của văn nghệ: “Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam”.
Sau khi phân tích đánh giá kết quả 15 năm thực hiện Nghị quyết 23, ngày 21/6/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 84-KL/TW tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về “tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”. Kết luận số 84 đã chỉ ra những nhiệm vụ chủ yếu để phát triển văn nghệ Việt Nam trong thời kỳ tới. Đây là những nội dung mang tính định hướng quan trọng cho công tác lãnh đạo, quản lý lý luận, phê bình, sáng tác văn học, nghệ thuật. Từ định hướng đúng đắn đó, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau đây nhằm phát triển hơn nữa lý luận, phê bình văn nghệ nói riêng và văn hóa, văn nghệ nói chung trong thời gian tới:
Thứ nhất cần nhận thức sâu sắc về vai trò, tính đặc thù của văn học, nghệ thuật, bảo đảm tự do, dân chủ trong sáng tạo nghệ thuật nhằm xây dựng nền văn học, nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa thống nhất vừa đa dạng.
Thứ hai cần thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng vào chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn học, nghệ thuật. Trong thời gian sớm nhất cần xây dựng Luật chấn hưng văn hóa văn nghệ, tạo hành lang pháp lý để huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia công nghiệp văn hóa, văn nghệ, xã hội hóa các hoạt động văn hóa một cách sâu rộng và hiệu quả. Đầu tư đúng mức cho sự phát triển văn học, nghệ thuật, phát huy sức mạnh văn học, nghệ thuật trong việc xây dựng nhân cách con người trong thời kỳ mới.
Thứ ba thúc đẩy sự phát triển lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học, nghệ thuật theo nguyên tắc dân tộc và hiện đại, lấy mỹ học Marxit và tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chủ đạo, phát huy lý luận văn nghệ truyền thống của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa lý luận văn nghệ nhân loại. Tôn trọng và phát huy tự do, dân chủ trong hoạt động học thuật, khuyến khích tìm tòi sáng tạo nhằm xây dựng nền lý luận văn nghệ tiên tiến, khoa học, có khả năng giao lưu đối thoại với các nền văn nghệ thế giới.
Thứ tư đẩy mạnh giao lưu quốc tế trong hoạt động văn nghệ, nhằm tiếp thu những giá trị văn nghệ của nhân loại đồng thời giới thiệu các ấn phẩm văn nghệ Việt Nam ra nước ngoài một cách sâu rộng, hiệu quả.
Thứ năm, chú trọng bồi dưỡng đội ngũ sáng tác, phê bình, lý luận văn nghệ có năng lực và trình độ cao, có niềm đam mê cống hiến nghệ thuật. Bố trí những người có năng lực chuyên môn phù hợp, có uy tín trong lĩnh vực văn nghệ tham gia quản lý công tác văn hóa, nghệ thuật. Những người quản lý văn nghệ phải thực sự là đồng nghiệp, đồng hành với văn nghệ sĩ trong sự nghiệp xây dựng nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phục vụ cho sứ mệnh chấn hưng đât nước.
Trần Khánh Thành
- Nguồn:daihoidang.vn/cuong-linh-xay-dung-dat-nuoc-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-/475.vnp.
- Nhiều tác giả (2001), Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, NXN Chính trị Quốc gia, HN, tr. 47.















