Tháng 6 năm 1953, vừa học xong lớp 8 hệ phổ thông 9 năm, đang kỳ nghỉ hè, tôi về sinh hoạt với Đoàn xã. Một hôm, có chủ trương về tuyển thanh niên xung phong (TNXP). Nói là tuyển, thực ra, ai xung phong là được ghi tên ngay. Thế là toàn xã có vài chục người sẽ lên đường làm nhiệm vụ phục vụ tiền tuyến. Chẳng biết sẽ đi đâu? Hôm tập trung ở huyện, Huyện đoàn tổ chức liên hoan (ở Đức Lâm) thì con số toàn huyện có đến ba bốn trăm người.

Ngày hôm sau bắt đầu hành quân. Mỗi đêm đi khoảng 35 km. Chúng tôi vừa mang một ba lô khoảng dăm kg, vừa gánh gạo 25 kg, lại đi đêm, ăn uống kham khổ. Vài đêm hành quân, đôi chân của tôi đã sưng múp cả lên. Mỗi khi có lệnh nghỉ chân, tôi thả đôi bồ xuống, tìm một gốc cây, vịn tay vào đó, cho đôi chân xoài dần để có thể ngồi một lúc, chứ không thể co chân lại được. Khi đứng dậy, lại phải ôm lấy cây để nâng người lên, và chân lại tập tễnh bước đi, đau không thể chịu được. Thú thật, tôi đã phát khóc mấy lần. Dọc đường hành quân, quân số vơi dần. Tôi cứ nghĩ mông lung, không thể rời bỏ hàng ngũ được. Lúc ra đi, xóm, xã tổ chức liên hoan, mình đã hứa những gì? Lại còn mấy bạn gái đến động viên, có bạn còn theo tiễn chân lên huyện, cố gặp cho được để tặng vật kỷ niệm và nói những lời lần đầu tiên mới nói…

Trong ba lô của tôi có chiếc khăn của một bạn gái thêu mấy chữ: “Hẹn ngày chiến thắng”. Mấy chữ đó làm tôi liên tưởng đến lời một ca khúc rất phổ biến lúc bấy giờ: “Hẹn ngày mai chiến thắng chớ quên đường về làng xưa. Em vẫn mong chờ, tới ngày ấy đôi ta cùng mơ”. Vì những tình cảm cao quý thiêng liêng ấy, tôi không thể đào ngũ. Lại tiếp tục hành quân. Nhưng đồng đội thấy tôi không gánh được nữa, lớp da ở hai vai đã loét và sưng tấy lên, bạn Nhỏ cùng tiểu đội gánh giúp tôi cả đôi bồ đầy gạo. Đổi lại, tôi mang hộ ba lô cho Nhỏ. Tôi mang một cái sau lưng, một cái trước ngực. Nhưng đi được dăm cây thì ngực lại đau tức, rút cục, bạn Nhỏ gánh hộ luôn cả ba lô của tôi. Tôi chỉ đi, không phải mang xách gì. Từ Nông Cống lên miền Tây Thanh Hóa, đến Hòa Bình, theo đường 41, dọc sông Mã lên Tây Bắc. Đến đây mới biết là đi phục vụ chiến trường Điện Biên Phủ. Gần 25 ngày đêm, đơn vị mới đến ngã ba Cò Nòi.

Bộ đội hành quân lên Tây Bắc tham gia chiến dịch Điện Biên (ảnh tư liệu)

Một đường từ Hòa Bình lên, một đường từ Nghĩa Lộ, Yên Bái về, gặp nhau tại Cò Nòi và đi tiếp lên Lai Châu – Điện Biên. Đơn vị chúng tôi, Đội TNXP 40 được lệnh ở lại phục vụ tuyến đường này. Chúng tôi đóng quân cách đường khoảng 1km. Đến 5 giờ chiều là mang quang gánh, xẻng, cuốc, ra mặt đường để san lấp hố bom. Ban ngày, chúng trút xuống hàng trăm tấn bom hòng cắt đứt đường tiếp tế ra mặt trận của ta. Cứ sau một ngày là mặt đường không còn, ngã ba không còn, chỉ có hố bom và những cồn đất đỏ. Chúng tôi được chia thành nhiều bộ phận. Bộ phận dò mìn, bộ phận san lấp, bộ phận xuống tận khe suối gánh sỏi lên rải thành làn cho xe chạy. Tôi thuộc nhóm xuống suối gánh sỏi. Đi trong lau lách, từ ngã ba xuống suối khoảng 400m nhưng đường dốc và quanh co, chưa có lối mòn, phải vài tuần sau mới thành lối mòn. Miệt mài từ 5 giờ chiều đến khoảng 4 giờ sáng, mỗi người cũng chỉ gánh được khoảng 5 gánh sỏi thôi, vì còn phải mò dưới nước và dùng hai bàn tay để hốt sỏi cho vào rổ. Đêm nào máy bay địch cũng thả pháo sáng, bắn trung liên tạch tạch… tiếng súng dội vào rừng. Mặc, chúng tôi vẫn hoạt động bình thường. Thỉnh thoảng có ai đó xấu số, không may trúng đạn, cả đơn vị xôn xao chốc lát rồi mọi việc lại tiếp tục như cũ. Trung đội tôi, có một anh bạn đã nằm lại bìa rừng, chúng tôi chỉ biết khâm liệm anh trong chiếc chăn, làm gì có hòm vỏ. Thương bạn thì đào hố sâu một chút, đắp mộ cho to và ghép đá gần như toàn bộ ngôi mộ, cắm lên đó một thanh gỗ có khắc tên anh, nhưng chắc là chỉ vài tháng mối rừng sẽ chén sạch. Tất cả sẽ hòa vào đất đá của núi rừng Tây Bắc!

Cứ chiều chiều, từ các lán ở trong rừng, từng đoàn TNXP kéo ra mặt đường của ngã ba Cò Nòi. Người đông như hội, toàn là nam. Hồi chống Pháp chưa có TNXP nữ. Chẳng ai quen ai, nhưng cứ nhìn nhau là tự nhiên thành bạn, thành thân. Mặt đường lúc nào cũng nhộn nhịp. Không đêm nào không có các đoàn dân công hỏa tuyến gánh hoặc thồ gạo qua đây. Tiếng hò lanh lảnh của các cô gái sông Mã như tiếp thêm sức mạnh cho mọi người: “Đèo cao thì mặc đèo cao, tinh thần phục vụ còn cao hơn đèo”. Rồi từng đoàn xe chở lương thực, súng đạn, thuốc men, từng đoàn hàng binh từ Điện Biên giải về. Họ cao to nhưng đi bộ không quen, dáng thất thểu, thấy chúng tôi hút thuốc lá thì ngả tay xin. Hàng trăm hàng binh cũng chỉ có 2 bộ đội áp giải mà thôi. Xe chở thương binh về xuôi, xe chở bộ đội lên Điện Biên… Cứ kẻ xuôi, người ngược rộn rã từ 5 giờ chiều cho đến sáng hôm sau. Rồi tiếng hò, tiếng hát, tiếng gọi nhau, hỏi nhau, tiếng đùa cợt… làm cho không khí sôi động, vui vẻ hẳn lên. Ai cũng cảm thấy vinh dự và tự hào được góp sức mình cho chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

Xóm tôi có 3 người gia nhập đoàn TNXP là Thái Noãn, Phùng Khắc Định và tôi. Noãn cao to, được nhóm đặt tên là Minh Sơn. Tôi cao thứ hai được gọi là Minh Hà, và Định là Minh Hải. Kể ra cũng oai phết, thanh niên thời chiến sẵn sàng “xếp bút nghiên theo việc đao cung”.

Lên đường cùng một lúc nhưng về sau mỗi đứa một số phận. Noãn được bổ sung sang bộ đội và trên đường hành quân lên Điện Biên, không may bị trúng đạn, đã nằm lại ở một góc rừng nào đó đến nay vẫn chỉ biết qua giấy báo tử: “hy sinh tại chiến trường Điện Biên Phủ”. Lúc đó anh mới 20 tuổi.

Định, người gầy yếu, xanh xao vì bị sốt rét liên tục. “Nước Sơn La, ma Hòa Bình” là câu nói đầu cửa miệng của những ai đã sống ở đây. Tuy không ra mặt đường được mấy, nhưng anh vẫn có mặt ở Cò Nòi trong những ngày ác liệt ấy. Vì sức khỏe quá yếu, đơn vị đã cho anh về điều trị ở trạm xá và một thời gian sau, anh được cấp trên cho giải ngũ.

Thế là người bạn thân cùng xóm cũng không còn. Dĩ nhiên, tôi có thêm bao nhiêu bạn bè khác cùng quê Hà Tĩnh, Nghệ An. Hòa Bình được lập lại, đơn vị tập trung chỉnh huấn và sau đó cấp trên có chủ trương: ai tình nguyện ở lại thì tiếp tục nhiệm vụ sửa chữa cầu đường ở Lào, ai muốn về quê thì cấp giấy phép cho về. Thế là hầu hết đều đăng ký trở về hậu phương. Tôi nằm trong nhóm này. Lúc đi, tôi nặng 56 kg, da dẻ hồng hào. Lúc về: 43 kg, da vàng vọt xanh xao, bụng báng, tóc rụng hết. Đó là những gì còn lại sau không biết bao nhiêu trận sốt rét,  tôi không thể đếm được. Mấy cái quần cũ lúc đi để lại, bây giờ mới có dịp “diện”, nhưng không thể cài cúc… phải lấy dây buộc để không bị tuột rớt.

Mọi người xúm quanh tôi hỏi han, ai cũng mừng, nhất là mẹ tôi. Mẹ vội nhốt con gà để nấu cháo “đãi” con trai. Tôi rửa ráy qua loa, ngồi một lát thấy gai gai trong người. Lên giường nằm và sau mấy phút tôi đã phải trùm mấy chiếc chăn cũng không hết rét. Rét từ trong xương, trong tủy rét ra, chứ đâu phải rét từ ngoài vào. Cơn sốt kéo dài hơn 2 tiếng; tỉnh dậy, mắt hoa, miệng đắng. Soi vào gương thấy một gương mặt thất thần, bạc thếch. Lạ thật, đi hơn hai chục ngày, chẳng sốt tý nào; mới dừng chân chưa được một buổi đã sốt. Từ đó, hàng năm trời tôi liên tục chịu đựng những cơn sốt rét cách nhật. Ngày nào cũng uống ký ninh, tiêm thuốc đắt tiền (được bố mua cho) dần dần cơn sốt mới thưa, có khi tưởng đã mất hẳn. Nhưng không, cứ đụng vào việc nặng là lại thấy gai gai trong người. Thế là tôi chẳng làm được việc gì nặng. Thanh niên chưa vợ mà không lúc nào lên được đến 50 kg nữa!

Tôi hỏi thăm về Định, o tôi bảo, từ ngày về, Định đau ốm, sốt rét liên miên, người gầy như que củi. Định ra tận Hà Nội để khám chữa, nhưng bác sĩ bảo bị lao phổi để lâu quá, cho đơn về mua thuốc điều trị tại nhà. Kéo dài được vài năm, Định đã bỏ gia đình, bỏ đồng đội cũ về chốn vĩnh hằng khi tuổi đời chỉ mới 22. Còn tôi, lại tiếp tục học lại lớp cuối của cấp 3 ở Trường Phan Đình Phùng (1955 – 1956). Tháng 9/1956, tôi thi vào Đại học Sư phạm Hà Nội, rồi ra công tác…

Gần đây, đọc cuốn lịch sử về TNXP do Trung ương đoàn TNCS xuất bản, tôi mới biết, hồi đó hơn 300 TNXP đã hy sinh tại ngã ba Cò Nòi. Hiện nay, tượng đài kỷ niệm TNXP thời chống Pháp đã được xây dựng trên một ngọn đồi ngay tại ngã ba Cò Nòi này, tôi vui vì điều đó.

Năm nay đã 90 tuổi, cứ mỗi lần nhớ lại những năm tháng ấy, nhớ đến thằng Noãn, thằng Định, tâm hồn tôi lại được thanh lọc, thấy mình được quá nhiều so với người đã mất. Tôi không so sánh thiệt hơn hay đòi hỏi này khác, bằng lòng với cuộc sống mình đang có là bởi tôi thấm thía về cái giá mà đồng đội, đồng chí của tôi đã phải trả cho cuộc sống này. Tại sao tôi lại có thể không biết nâng niu, trân quý giá trị của tự do, của hòa bình mà các bạn bè, đồng đội, mà các thế hệ đồng bào tôi đã phải đổi bằng xương máu? Tôi chỉ ước một điều giản dị, rằng tất cả mỗi chúng ta ngày hôm nay đều thấm thía về cái lẽ này!

Nguyễn Quang Tuyên