Một chiều cuối năm, bên ly cà phê còn tỏa khói nồng, người họa sĩ cười nói với tôi: “Nhiều người bảo tôi tướng hổ mà sao lại vẽ ngựa”. Quả thật, người đàn ông với vóc dáng không quá cao lớn nhưng rắn rỏi và bề thế, với ánh nhìn thẳng vừa cương trực vừa điềm tĩnh đang ngồi trước mặt tôi đây chính là người được mệnh danh “lão chăn ngựa” của hội họa Việt Nam đương đại – họa sĩ Lê Trí Dũng
Sinh năm 1949 trong một gia đình mà hội họa là hơi thở của đời sống thường nhật, Lê Trí Dũng lớn lên giữa mùi sơn mài, giấy dó và những câu chuyện xoay quanh nghệ thuật. Cha ông, họa sĩ sơn mài Lê Quốc Lộc, cùng các con vừa sáng tác vừa mưu sinh bằng chính lao động nghệ thuật của mình. Với ông, vẽ không phải thú chơi tao nhã mà là một dạng lao động nghiêm cẩn, thậm chí khắc nghiệt. Những năm tháng lưng trần mài vóc, can bản, đánh bóng đã rèn cho Lê Trí Dũng một bản lĩnh đặc biệt: ông nhìn hội họa như một nghiệp duyên hơn là một lý tưởng trừu tượng.

Lê Trí Dũng kể về tuổi thơ ông với những bức vẽ Quan Công, Trương Phi… được mang đến trường đổi lấy vài đồng hào hay những viên bi ve yêu thích. Với ông lúc đó, nghệ thuật gắn với đời sống một cách thô giản. Sau này, cùng với thời gian, ông hiểu rằng lao động nghệ thuật không chỉ là một nghề để kiếm sống mà còn là một hành trình sáng tạo đặc biệt, thiêng liêng, nơi người nghệ sĩ thực hiện thiên chức của mình trước đời sống và trước chính bản thân. Một hành trình vừa là nhu cầu nội tại vừa là kết quả của những giằng xé, những lựa chọn có thể mang đến vinh quang nhưng cũng có thể khiến nghệ sĩ phải trả giá.
Một trong những mảng đề tài từng mang lại cho Lê Trí Dũng nhiều thành công là con giáp. Ông chịu ảnh hưởng từ họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, người hàng xóm lớn tuổi từng ngày lặng lẽ vẽ con giáp trong căn nhà nhỏ. Tuy nhiên, ảnh hưởng ấy dừng lại ở sự gợi mở tinh thần, chứ không dẫn đến sự mô phỏng hình thức. Lê Trí Dũng sớm nhận ra rằng người họa sĩ đích thực chỉ có thể đi con đường của mình bằng nét bút, nhịp điệu và trực giác riêng biệt.
Một mạch khác âm thầm nhưng bền bỉ trong sáng tác của ông là ký họa chiến tranh. Những năm làm lính xe tăng, chiến đấu tại Quảng Trị, rồi sau này thuộc Lữ đoàn 203 – đơn vị tiến vào Dinh Ðộc Lập trưa 30/4/1975 – để lại trong ông những trải nghiệm vừa dữ dội vừa lắng sâu. Chiến tranh trong tranh Lê Trí Dũng không bi lụy cũng không khoa trương, mà hiện lên qua những nét nhanh, gọn, mang tính thông tin, ghi chép mà cũng giàu chất hội họa…
Nhưng đề tài làm nên tên tuổi Lê Trí Dũng, đề tài đã trở thành “căn cước nghệ thuật” của ông, chính là ngựa. Hơn 3.000 bức tranh ngựa, không lặp lại mình, đủ để thấy đó không phải sự trở đi trở lại một motif, mà là một thế giới mở rộng không ngừng. Ngựa của ông được vẽ bằng bút lông, mực tàu, đôi khi thêm màu nước, với những nét lướt nhanh tạo bờm, tạo vó, rồi dừng lại đúng khoảnh khắc cần thiết để giữ lại thần thái chuyển động. Ðó không phải ngựa thồ cũng không phải tuấn mã phô diễn, mà là thiên mã, luôn trong trạng thái bung sức, hướng về phía trước với một xung lực tinh thần mạnh mẽ.

Trong hội họa Lê Trí Dũng, con ngựa trở thành một ngôn ngữ tạo hình hoàn chỉnh, ở đó hình thể, sự chuyển động và tinh thần của nó hội tụ thành một thế giới riêng, vừa dữ dội vừa sâu lắng, vừa cụ thể sinh động vừa có tính biểu tượng. Ông không quá chú trọng đến giải phẫu học chuẩn mực hay tả thực hình dáng, mà chủ động làm biến dạng hình thể để đạt tới cái cốt lõi, đó là thần khí. Thân ngựa kéo dài, chân uốn cong, bờm và đuôi bùng nổ như những dòng năng lượng, khiến con ngựa dường như không còn chịu sự chi phối của trọng lực. Dưới vó ngựa tung hoành là sức mạnh, là khát vọng, là khí phách, nhưng trong ánh nhìn cúi nhẹ, trong những đường cong mềm, lại ẩn hiện sự lắng đọng, dịu dàng và từng trải. Ở đây ngựa là hiện thân của sự vận hành liên tục, của một nhịp điệu không ngừng nghỉ. Có thể thấy trong tranh ngựa Lê Trí Dũng, hình ảnh đã được giải phóng khỏi chức năng mô tả để trở thành ký hiệu tinh thần.
Nhiều người trong giới hội họa cho rằng điểm đặc trưng cốt lõi của tranh Lê Trí Dũng chính là nét. Những đường viền đen mạnh, liền mạch, dứt khoát, mang nhịp điệu gần với thư pháp phương Ðông, vừa kiểm soát hình khối vừa dẫn dắt cảm xúc người xem. Bờm ngựa thường cuộn xoáy về một hướng, tạo cảm giác gió và thời gian đồng thời hiện diện trong khung tranh. Ở điểm này, tranh Lê Trí Dũng gợi nhắc đến quan niệm “khí vận sinh động” của mỹ học cổ phương Ðông, nơi sức sống của hình tượng không nằm ở chi tiết mà ở dòng năng lượng xuyên suốt.
Không gian trong tranh ông là một không gian phẳng, có chủ ý triệt tiêu chiều sâu thị giác. Nền đen đặc, đỏ thẫm, tím, vàng, cam, xanh đơn sắc… không nhằm tái hiện cảnh vật mà đóng vai trò như một phông nền nghi lễ, ở đó con ngựa được đặt vào như một hình tượng mang tính biểu trưng cao độ của một vẻ đẹp vừa náo hoạt vừa tĩnh tại, của một thần khí vừa huyền ảo vừa sống động, của một thứ văn hóa vừa dân gian vừa đương đại. Màu sắc trong tranh Lê Trí Dũng không phục tùng ánh sáng tự nhiên mà vận hành theo logic biểu tượng. Trắng đen đối cực, đỏ tròn như nhật nguyệt, vàng nâu gợi cổ tính và quyền lực, khi trầm mặc, khi lộng lẫy…, tất cả hợp thành một hệ sinh thái sắc màu mang tinh thần sử thi và nghi lễ.
Ngoài vẽ, Lê Trí Dũng còn viết. Những trang văn mà ông gọi là “những hòn cuội nhặt dọc đường” cho thấy một nhu cầu khác của người nghệ sĩ: lưu giữ đời sống bằng chữ, bên cạnh màu và nét. Nhưng dù là hội họa hay chữ nghĩa, các tác phẩm của Lê Trí Dũng suy cho cùng vẫn là cách ông đối thoại với chính mình và với thế giới.
Với những con ngựa cũng vậy, Lê Trí Dũng đã đưa chúng vào tranh để bày tỏ và đối thoại với chính ông, với cuộc đời về cái đẹp, về văn hóa, nghệ thuật. Theo nghĩa này, hình tượng con ngựa trong hội họa Lê Trí Dũng không phải là lựa chọn của ông về một đề tài, mà nó chính là con đường, là lối đi, ở đó người họa sĩ thực sự sống, trải nghiệm và thăng hoa cùng nghệ thuật hơn là kể lể và phô diễn nó.
Đăng Tiêu















