Có thể bạn chẳng biết cái làng của người Thổ ấy đâu. Cái làng chỉ hơn mười nóc nhà sàn âm thầm, bình yên chìm lút giữa màu xanh của cây trái, chìm lút dưới tán của những cánh rừng già mạn Tây Bắc xứ Nghệ. Đó là vùng đất từ xa xưa được gọi là Phủ Quỳ.
Làng Toong thuộc xã Nghĩa Lâm, tỉnh Nghệ An. Cùng xã Nghĩa Lâm, ngoài mấy làng người Thái như làng Xiu, làng Tra, làng Cây Gia, số làng còn lại là làng của người Thổ, đó là các làng Quạ, làng Sẩm, làng Bắt, làng Đấn, làng Lầm, làng Chạo, làng Xâm… Các làng Thổ Lâm La có chung phong tục tập quán, nghĩa là cùng văn hóa Thổ – văn hóa của những người sống hồn nhiên, hòa thuận với thiên nhiên giữa rừng già đầu thế kỷ XX.

Làng Toong, án ngữ mạn Tây Nam có ngọn rú Vàng âm u bởi khu rừng già nguyên sinh. Rú Mư mạn Nam, Rú Lụn mạn Đông sừng sững, và dưới chân, kẹp giữa rú Mư và rú Lụn là thung lũng nhỏ được gọi là bãi Đồng Đỏ. Làng Toong, đi từ dưới lên, xắn quần lội qua con sông Sào nước trong veo, có chiếc cầu treo lắt lẻo tận ngọn cây sung mùa lũ. Vượt đoạn dốc đất đỏ trơn nhầy, qua xóm nhà ngói của đội 11 Nông trường 1/5, qua mấy lô cao su xanh mướt mướt sẽ tới làng Quạ. Đường dọc làng Quạ, nhà sàn thấp thoáng sau những nương sắn nương ngô, và cuối làng là triền đồi rẫy cũ có mấy con trâu nhởn nhơ gặm cỏ, thả rơi những tiếng mõ lốc cốc vào rừng chiều khi mặt trời khuất sau ngọn rú Vàng. Tôi cứ lan man mà chưa đả động gì tới cái làng mà tôi và gia đình đã có mấy năm sống ở đó, đang muốn nói tới. Xin bạn đừng nóng ruột mà hãy cùng tôi đi tiếp. Cuối con dốc ngắn dưới chân đám rẫy cũ, đường mòn nhỏ sẽ bắt vào khoảng rừng âm u phía trái, là chân ngọn rú Vàng, bên phải róc rách rì rào nước khe Toong chảy trong hốc đá. Thung lũng này được gọi là Đung Quạ. Đung Quạ có nhiều cây song tàu cho người Thổ làm chày giã gạo, lắm cây nanh sèo mà lũ trẻ thường lấy kết vòng xỏ mũi trâu để cột dây thừng. Đung Quạ còn lắm cây vỏ má thân đen, lá to, nở hoa vàng rực bồng bềnh một dải ngoằn ngoèo theo những triền khe. Đường Đung Quạ râm mát lốm đốm đôi bóng nắng. Cành lá, tán cây dọc đường ồn ào ríu ran chim sóc. Những chú gà rừng lấp ló quanh những gốc sú cổ thụ. Đoàn sóc đen bụng đỏ kéo cái đuôi dài như chiếc chổi lông đuổi nhau trên những cội dâu da mùa này ngọt lịm. Cuối đoạn đường đung, cây đa già cổ quái buông những cụm rễ to như cột nhà, và trên những tán đa là lùm gắm trĩu nặng mùa quả chín, đêm đêm gọi về bầy chồn mỡ, để sáng ra mặt đất quanh gốc rải dày những quả bị chúng ăn vỏ, thả rơi.
Làng Toong đây rồi. Rời gốc đa ra khỏi rừng, đường vào làng giữa hai bờ màn màn óng ánh lá xanh, phía phải là rẫy ngô ngợp lút đầu người, bên trái, rừng màn kéo mãi vào Đung Quạ, kéo mãi vào tận Khoang Danh, rú Vàng. Đường vào làng có hai dãy bờ rào cây thầu dầu thân trắng lá tròn. Những nương rau cải, nương sắn, đôi vạt cây gai được trồng làm sợi bện võng, đan túi… và những khóm chuối ngự trĩu buồng. Đầu làng, nhà bà Xuân Phú hai hốc mắt sâu hoắm đỏ lòm, có cả một vườn bưởi và có cây cho quả rất ngon. Sau cạnh nhà bà Xuân có thêm nhà mới ông Thống. Chếch phía trên có nhà ông Mận. Và tiếp đó là nhà ông Công. Nhà ông Công bên phải giữa một vạt nương. Ông người đâu ngoài Thanh, râu bạc tóc trắng, và bà vợ người biển Quỳnh Lưu mái đầu cũng bạc phơ nhưng nét mặt dáng hình vẫn lưu giữ vẻ đẹp quyền quý cao sang. Nghe đâu bà từng là vợ của một quan Mường thời trước. Đi tiếp đoạn nữa tới nhà ông Hợp gốc Diễn Châu. Giữa làng gặp nhà ông Thủ. Nhà ông Thủ rộng như một nhà rông. Nhà ông có gốc mít cổ thụ và mấy cây mơ già trước sân. Rẽ trái xuống là nhà ông Hĩm người Yên Cát, Như Xuân, và nhà ông Sèo, nhà ông Loan. Mấy nhà này xum xuê đào, mơ, tán trĩu quả sà tận mái tranh. Rẽ phải là nhà ông Ca xinh xắn bóng nhoáng sàn tre, nhà ông Cát sực nức mùi thuốc nam. Ông Cát hết đi rừng lấy lá thuốc, về tới nhà cởi trần băm thuốc phơi. Trên các cột nhà, cột nào cũng gắn gạc nai, gạc hươu, gạc hoẵng, và cả mấy cặp sừng bò tót nữa. Vách nhà phên nứa đen bóng lủng lẳng chiếc súng săn hai nòng bắn đạn ghém và chiếc nỏ cũng đen bóng. Làng Toong nhà nào cũng xinh xắn, sạch sẽ. Cầu thang đóng hộp, có chạn trước chạn sau. Gian khách ngoài. Gian giữa đặt bếp than hồng rực đêm đông. Bếp treo giàn đen kịt bồ hóng có ngô, có nếp giống và đôi xâu thịt rừng. Mùa lúa mới, bếp nhà nhà thơm mùi cơm mới. Cơm gạo chạo hạt to mẩy dẻo quánh thơm lừng.
Làng Toong có bà Mậu, bà Long, bà Duyên, tuổi khoảng ba mươi vẫn giữ nét duyên của người đàn bà Thổ. Bà nào, chị nào cũng hay hát bạn, giỏi công việc, nào trỉa ngô, trỉa lúa, nào giã gạo, bện võng…

Làng Toong có o Xanh, o Năm nở nang múp míp, có đám trẻ trâu tinh quái nghịch ngợm và giỏi việc, chặt tre, chặt nứa, kết bè, làm bẫy sóc bẫy chồn… Tôi không thể quên những tối mưa rừng, những cơn bão lũ cây trên rú Vàng vặn mình trèo trẹo, tiếng nai lạc mẹ khắc khoải kêu lên những tiếng não nùng. Tôi không thể quên tiếng bầy vượn náo động dưới Đung Quạ mỗi sáng, không quên tiếng huầy huầy của những bầy trâu kéo gỗ rừng Khoang Danh vọng về giữa trưa hè. Mạn tây nam làng có rú Vàng án ngự, rừng già nguyên sinh bí ẩn rợn ngợp suốt ngày âm u bạt ngàn mây tre và các loài gỗ quý. Mạn đông làng có rú Lụn, mạn đông nam là rú Mư. Khe Toong bắt nguồn từ rãi Đồng Đỏ dưới chân rú Lụn chảy vòng một khoảng chân rú Mư, xuôi theo Đung Quạ đổ xuống sông Sào. Rừng măng đắng cây màn màn âm u dọc khe Toong dưới chân rú Mư lặng lẽ bước chân các chị các bà đi lấy măng những sáng tháng Ba sương giăng mây phủ và nháo nhác tiếng khướu, tiếng họa mi…
Tháng Ba, bà Hĩm lên rú Mư lấy trứng kiến về làm bánh. Bột nếp giã mịn trộn với trứng kiến như những hạt nếp căng mẩy, bóng nhoáng, đem nhào nước vắt thành cục bọc lá vả non bỏ hong gỗ đặt lên bếp. Tôi ngồi chờ bên bếp lửa đặt giữa gian trong. Bánh chưa chín mà mùi béo thơm tỏa ngậy. Tháng Ba hoa vỏ má vàng dọc triền khe Toong. Rừng săng lẻ thay lá mới óng ánh xanh dọc lối ra Bãi Đồng Đỏ. Tháng Ba ông Duyên, anh Long Cát xách súng săn vào rừng. Ngồi trên nhà sàn nghe tiếng súng nổ biết sáng ra sẽ được đi chia phần thịt thú…
Tháng Ba, tháng Tư măng các loài tre nứa rùng rùng đội đất chui lên. Măng tre rừng Khoang Danh dựng tua tủa như những quả đạn đại bác vàng chóe. Măng nứa dọc lối xuống sông Sào dày khít như rừng chông. Đất làng Toong đỏ sẫm ba zan, cây cỏ bời bời quanh năm xanh tốt. Giếng Mó bên hông làng quanh năm phun trào thứ nước mát lành để chiều chiều các bà các chị ngồi thụp kéo áo váy giặt giũ, cười đùa xen trong tiếng mõ lốc cốc của bầy trâu làng trở về.
Làng Toong những ngày có đám cưới đám hỏi bồng bềnh tiếng cồng Lào buổi tối. Lễ cưới hỏi là con lợn nhỏ do bọn con trai khiêng đến bằng chiếc đòn mai cần xanh biếc khắc mấy vòng hoa văn nguệch ngoạc. Cỗ mời thông gia, cỗ mời hai họ, và cỗ mời dân làng là những nắm xôi, bát cháo và mấy miếng thịt lợn luộc bày trên lá chuối cùng chai rượu nút lá chuối khô. Người già mời nhau cung kính ân tình bằng câu tiếng Thổ nghe lạ tai “mơi keng ti ngai”.
Người làng Toong có tính cộng đồng rất cao, ai làm nhà cả làng cũng xúm vào. Người vào rừng tìm lõi lim, lõi chắm, lõi kiền kiền, bông bái làm cột, người chọn cây mang dài đòng làm xà. Người chặt tre chặt mét, người chẻ nứa đan phên… Gặp năm nắng hạn mất mùa phải ăn sắn, mít non, chuối luộc, nhà thiếu sang nhà có, người làng Toong san sẻ nhau cân gạo, mớ ngô.
Cánh đồng nhỏ làng Toong lầy thụt năm hai vụ, chỉ mấy đám ruộng nhỏ không đủ lúa ăn. Mấy bà mấy chị mang túi cầm xẻng vào rừng đào củ mài. Củ mài có nhiều trong rừng. Cứ nhìn lên các lùm cây lá úa vàng rực mà đến. Dây khoai mài cỡ như chiếc đũa, màu nâu đen. Củ mài cỡ bắp tay, vỏ nâu ruột trắng, mang về cạo vỏ rửa sạch, hong chín bóng láng bên ngoài, bở trắng như bông thơm ngon chắc bụng.
Làng Toong, qua giếng mó, dọc theo bờ rẫy rìa đồng Toong sẽ ra đồng Giàm, đồng Múc. Mấy vạt ruộng nhỏ bên cạnh đập nước dưới chân lèn Giàm là nơi bọn trẻ thả trâu; là chỗ anh em Ba Bút con ông Thủ rình bắn chẫu chàng. Là nơi có bụi măng bạc mày, chỉ cần bóc vỏ bằm nhỏ nấu canh cùng nấm rất ngọt.

Cái làng Toong ấy, cái làng Thổ bình yên giữa núi rừng mây phủ ấy có đám thằng Xanh, thằng Việt, thằng Ba Bút, thằng Hai Mậu mà nhờ chúng nó tôi biết chặt tre chặt nứa, biết kết bè, biết làm bẫy gà bẫy sóc… Và qua chúng nó tôi biết yêu rừng. Rừng làng Toong níu giữ hồn tôi. Mỗi lần đi xa trở về, từ xa khi nhận ra rú Vàng, rú Lụn là tôi như đã nghe được tiếng mõ trâu lốc cốc, tôi như nghe văng vẳng tiếng huầy huầy của những người thợ sơn tràng kéo gỗ. Tôi như nghe được tiếng rìu chí chát, nghe được tiếng chày thì thụp, tiếng mài dao mài rìu mỗi buổi ban mai sương phủ kín làng.
Làng Toong cách đường chiến lược chỉ một khoảng rừng, đêm đêm nghe tiếng rì rầm của những đoàn xe ra trận. Những ngày tôi đi xa, bom Mỹ đánh vào làng làm chết ông Sèo, ngày trở về thấy hố bom đỏ loét quanh giếng Mó…
Lâu lắm rồi, rú Vàng hết cây, rú Lụn hết cây, và rừng cũng trơ trụi. Những nếp nhà sàn xinh xắn ấy cũng đã hết. Hướng đông, dọc đường ra làng Lầm, làng Giếng Đá và bãi Đồng Đỏ mênh mông bạt ngàn là cánh đồng hoa hướng dương của tập đoàn TH trồng để nuôi bò. Người làng Toong tứ tán, anh em ông Khang, Xanh, Năm Mận (Hòa) ra sát đường 15, bà Duyên ra đồng Dàm. Sáu Long (ông Núi) xuống đồng Nhà Lậm… Lớp người ngày ấy nhiều người đã mất. Trụ lại trên nền làng cũ chỉ còn mấy gia đình của lũ trẻ ngày ấy lớn lên. Nhà xây dọc bên đường Hồ Chí Minh mở quán dịch vụ. Các vạt rừng xưa nay thành đồi cam, đồi bưởi, ruộng mía… Người già nhất còn lại là bà Mậu mà ngày đó tôi gọi bằng chị. Lên thăm làng, gặp bà tôi chào. Bà cười hấp háy, hỏi “ai đó, ai đó?”. Ôi, làng Toong của tôi!
Nguyễn Ngọc Lợi














