Kỷ vật người đã khuất

 

Ông Chung với tay chống lại tấm liếp cửa vừa bị gió đánh sập. Ông nhướng mắt nhìn ra cánh đồng. Năm nay lụt tiểu mãn về sớm, mùa màng phải thu hoạch non, xem chừng thất thu lắm. Bất giác ông buông tiếng thở dài. Mặt ruộng còn lênh láng nước, chưa ai dám cày bừa vì sợ cày nước thì mùa tới lúa non chết róc nên đồng vắng tanh. Đồng vắng người làm thì quán ông cũng rất ít khách.

    Sau ngày rời trại nuôi dưỡng thương binh về sống chung với gia đình, ông mở cái quán nhỏ dưới gốc đa đầu làng này. Quán đơn sơ chỉ ấm nước chè xanh đặc quánh, dăm gói thuốc lào, ít kẹo lạc và vò rượu. Quán ông chủ yếu phục vụ cho bà con trong làng lúc ra đồng hoặc khi đi làm về. “Ngồi nhà cũng buồn, mở quán cốt để khuây khỏa”. Ông thường nói với mọi người như thế. Thấy nhạt miệng, ông Chung rót một chén rượu nhỏ. Ông nhấp từng tí một như cố tận hưởng hết cái hương vị cay nồng thơm thảo được chưng cất từ gạo nếp quê ông. Uống xong chén rượu ông giơ cái cùi tay bị cụt lên chùi mép, còn cánh tay lành lặn thì rút tập thơ viết tay của liệt sĩ Hoàng để trong túi dết đã sờn rách treo ở cột vách, rồi ngả mình lên chiếc chõng tre. Ông đã gìn giữ, nâng niu tập thơ này suốt hơn ba mươi năm và luôn thấy trong lòng một nỗi niềm day dứt. Như một thói quen, mỗi lần mở tập thơ ra đọc, ông lại nâng lên ngắm nghía, rồi thận trọng lật từng trang đọc rất chăm chú dù ông đã đọc chúng đến hàng ngàn lần và thuộc lòng từng dấu chấm, phẩy. Hơi men ngấm vào huyết quản khiến ông thấy trong người rậm rật, lâng lâng. Ông gấp tập thơ lại, đặt nhẹ lên ngực, hai mắt nhắm nghiền, thả hồn về những tháng năm kí ức…

Đang học cấp III thì Trần Chung tình nguyện tòng quân. Sau ba tháng huấn luyện ở Khe Lang, anh được bổ sung vào một đơn vị bộ binh, ngày đêm gấp rút hành quân ra mặt trận. Vào đến chiến trường, vừa kịp tham gia vài trận đánh thì anh được cấp trên giao nhiệm vụ canh giữ kho vũ khí bí mật ém trong một hang đá lớn giữa rừng Trường Sơn. Những ngày đầu, một mình sống giữa cảnh núi rừng trùng điệp, Chung luôn mang tâm trạng nơm nớp, lo âu. Tiếng vượn hú nỉ non, tiếng kêu kì dị của muông thú chốn sơn lâm khiến anh nhiều đêm không chợp mắt. Nhưng dần dà rồi cũng quen. Không thể diễn tả anh đã mừng vui ra sao khi giao liên đến dẫn các chiến sĩ tới kho nhận vũ khí bổ sung cho các đơn vị. Nếu không có cuốn lịch tay của một cô giao liên cho thì anh cũng chẳng biết mô tê ngày tháng nào nữa. Những cơn sốt rét rừng quái ác đã rút dần thân thể cường tráng của chàng trai miền quê vốn quen tay cày, tay cuốc.

Một buổi trưa, chợt nghe tiếng súng bộ binh rộ lên phía bên kia cánh rừng, Chung đoán bọn thám báo Mỹ đã đụng phải anh em đàng mình. Chung vội đi kiểm tra lại các bãi mìn được bố trí bảo vệ kho ở vòng ngoài. Biết đâu cái bọn mũi lõ, mắt xanh ấy chẳng lần được tới đây. Khi đã yên tâm, Chung ngồi dựa lưng vào một gốc cây lim lớn, lấy lương khô ra ăn. Hơn hai tháng rồi chưa có đơn vị nào vào nhận vũ khí nên số gạo dự trữ của anh đã hết. Ăn xong, Chung trèo lên một cây săng lẻ cao để quan sát. Không có gì khác thường cả. Rừng vẫn trải một màu xanh bạt ngàn, trùng điệp. Anh cứ ôm súng ngồi gác trên ngọn cây như thế cho đến khi trời tối hẳn mới tụt xuống, lần về kho. Đi được một quãng, anh dừng lại nghe ngóng. Hình như có tiếng rên khẽ từ phía sau một mỏm đá lớn. Kẹp chặt súng, Chung thận trọng bò về hướng đó. Núp sau một gốc cây săng lẻ, anh căng mắt ra nhìn. Một bóng đen nằm co quắp, bất động. Chắc là có người bị thương trong trận đọ súng ban trưa nhưng không biết là ta hay địch. Chung nghĩ thế và cẩn thận quan sát bốn phía. Anh nhích dần lên, cách bóng đen chừng năm bước chân, bất thần anh chồm dậy, vọt lên dí sát họng súng vào cái thân thể bất động ấy và quát:

– Ai? Nhúc nhích tao bắn!

Bóng đen cựa quậy, hình như anh ta muốn gượng dậy nhưng không đủ sức. Chung cúi xuống và nhận ra chiếc mũ tai bèo úp trên bụng anh ta. Biết chắc là chiến sĩ quân Giải phóng, Chung quỳ xuống lắc nhẹ vào vai hỏi:

– Đồng chí bị thương ở đâu?

Anh chiến sĩ khẽ rên lên một tiếng, giọng thì thào, đứt quãng:

– Khát… Khát… quá… Cho tôi… ngụm nước…

– Đây không có nước. Tôi đưa đồng chí về kho nhé? – Chung vừa nói vừa quàng khẩu súng lên vai rồi gắng hết sức bình sinh bế người chiến sĩ về kho vũ khí. Đặt được người lính lên cái sạp nứa, Chung mệt bở cả hơi. Anh quẹt diêm châm vào cái đèn dầu làm bằng vỏ đạn. Quầng sáng bùng lên soi rõ khuôn mặt người thương binh. Anh ta còn rất trẻ, chắc cũng vừa mới nhập ngũ đầu năm nay thôi. Anh ta lại thì thào xin nước. Chung rót nước vào nắp bi đông rồi ghé vào miệng. Người thương binh nuốt ừng ực từng ngụm. Uống xong, chừng như tỉnh táo hơn, anh ta nhìn Chung bằng ánh mắt đằm thắm, tin yêu. Chung mở túi thuốc cá nhân để băng vết thương. Một lỗ thủng đút lọt ngón tay cái khoan sâu vào ổ bụng. Chắc hẳn đây là một viên đạn các-bin bắn thẳng. Đã ép lên đó hai cuộn bông mà Chung vẫn thấy máu rịn qua lớp băng. Tiếng người chiến sĩ lại thì thào:

– Anh đừng… băng nữa… em… không… không sống… nổi… đâu… Nếu… sau này… có dịp… về… Nghệ An… anh trao… giùm Hương tập… tập thơ… em tặng… cô… cô ấy… Cô ấy… đã… mang thai. Chúng… em… chưa kịp… làm… lễ… cưới. Chắc… mẹ con… cô… cô ấy… khổ… lắm… Em… thương…

Nói đến đó, tiếng anh ta bỗng nghẹn lại, ánh mắt đờ đẫn rồi hai mí mắt từ từ khép chặt. Chung hốt hoảng lay gọi mãi nhưng vô ích. Ôm thi thể đồng đội còn nóng ấm trên tay, Chung không cầm được nước mắt, khóc nấc lên. Trong túi áo người liệt sĩ, Chung thấy một quyển sổ ghi đầy thơ và một cây bút Trường Sơn gần hết mực. Trang đầu cuốn sổ là một dòng chữ được ghi rất nắn nót: “Yêu mến tặng Mai Hương và con”. Chung tìm một mô đất cao, bằng phẳng bên cạnh khối đá lớn có hình na ná giống con ngựa để an táng người đồng chí. Anh cúi đầu khấn trước phần mộ mà tưởng như nói cùng người đang sống: “Đồng chí ơi! Đồng chí sống khôn, chết thiêng phù hộ cho kho vũ khí và anh em đồng đội được an toàn. Tôi xin hứa trước vong linh đồng chí, đến ngày chiến thắng, còn may mắn trở về nhất định tôi sẽ tìm gặp được Hương. Tôi sẽ trao kỉ vật của đồng chí cho cô ấy và kể cho cô ấy nghe về những giây phút thiêng liêng này”.

Minh họa: Hoàng Hải Thọ

Mãi đến khi mở tập thơ ra đọc Chung mới biết được tên của người liệt sĩ là Nguyễn Hoàng. Tên của anh được ghi ở cuối cuốn sổ. Ép trong cuốn sổ có tấm hình một cô gái rất xinh. Mặt sau bức ảnh có ghi dòng chữ: “Tặng anh yêu dấu, trọn đời thủy chung. Mai Hương”. Chung thấy thất vọng vì trong cuốn sổ và tấm ảnh đều không để lại một dòng địa chỉ cụ thể nào. Điều đó sẽ rất khó khăn khi thực hiện lời trăng trối của Hoàng. Gần nửa năm sau Chung mới có người thay thế và anh được bổ sung vào một đơn vị chiến đấu. Những bài thơ trong cuốn sổ của Hoàng được anh em trong đại đội rất trân trọng, không ai là không thuộc một đến hai bài. Mấy cậu lính trẻ khi đọc những bài thơ đề tặng người yêu, người mẹ già ở quê nét mặt cứ thẫn thờ. Có những bài thơ viết rất chân thật mà khi đọc cứ xao xuyến lòng người. Trong mỗi cuộc họp, buổi liên hoan văn nghệ và ngay cả khi giữa hai trận đánh, anh em thường ngâm thơ của Hoàng. Có nhà văn về đại đội của Chung lấy tư liệu viết phóng sự mặt trận rất thích tập thơ này. Anh đọc say mê, đầu cứ gật gù. Đọc hết trang cuối cùng, anh thốt lên: “Thế mới là thơ chứ !”. Anh nói với Chung bằng một giọng buồn buồn: “Hoàng viết giỏi lắm. Có những tứ thơ xuất thần đến tài hoa, độc đáo. Mình tin rằng một trăm năm sau nếu ai đọc lại những bài thơ này hẳn sẽ hình dung, cảm nhận được tất cả những gì oanh liệt cùng sự gian khổ, hi sinh và tình cảm của những người lính chúng ta hôm nay. Rất tiếc là cậu ta hi sinh khi còn quá trẻ. Đồng chí có thể giao cho tôi tập thơ này, tôi gửi về Nhà xuất bản Giải phóng, thế nào cũng được in”. Sau khi nghe Chung thuật lại lời trăng trối của Hoàng, nhà văn quyết định chép lại tập thơ. Nhưng anh ấy đã không thực hiện được ý định đó. Mấy ngày sau, khi đang kê tập bản thảo lên đầu gối để viết trang cuối cùng của thiên phóng sự, anh ta đã hi sinh bởi một đợt pháo bầy của địch. Cuối năm 1972, Chung bị thương nặng và được chuyển ra Bắc. Gặp người lính nào anh cũng hỏi thăm về đơn vị của Hoàng. Gặp người dân nào ở Nghệ An anh cũng giơ tấm ảnh của Mai Hương lên hỏi, nhưng ai cũng lắc đầu.

Thấm thoắt cũng hơn ba mươi năm trôi qua. Chung đã lên chức ông từ năm ngoái. Vợ chồng đứa con trai đầu đã sinh cho ông một cậu đích tôn bụ bẫm, kháu khỉnh. Thế mà lời hứa của ông với vong linh liệt sĩ Hoàng vẫn chưa thực hiện được và luôn canh cánh trong lòng. Hoàng vẫn phải nằm cô đơn dưới nấm mộ chốn rừng sâu. Trừ ông ra, không ai biết nơi Hoàng an nghỉ. Ông đem nỗi băn khoăn đó tâm sự với những người bạn chiến đấu cũ và thân thích. Thầy giáo Hóa dạy cấp II, người cùng làng khuyên ông nên đến một nhà xuất bản nào đó xin giấy phép xuất bản tập thơ này. Lời tựa của tập thơ là lời kể của ông về lai lịch, hoàn cảnh, xuất xứ của nó và in kèm bức ảnh của Mai Hương. Nếu tập thơ được in, phát hành khắp cả nước thì thế nào cũng đến tay Mai Hương hoặc những người thân thích của Hoàng. Mấy đêm liền thao thức nghĩ tới, nghĩ lui ông thầm phục thầy giáo Hóa quả là cao kiến. Ông đoán rằng khi trình bày lí do in tập thơ thì mấy ông cán bộ ở nhà xuất bản sẽ nhất trí ngay tắp lự. Chất lượng của thơ thì ông yên tâm lắm. Ai đọc tập thơ này mà chẳng phải khen hay. Nhất là cái ông nhà văn hồi ở Trường Sơn đã khẳng định: “Một trăm năm sau nếu ai đọc lại những bài thơ này hẳn sẽ hình dung, cảm nhận được tất cả những oanh liệt cùng sự gian khổ, hi sinh và tình cảm của những người lính đang xả thân trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.”. Hơn nửa tháng trước, ông đang ngồi bán quán thì bé Linh cháu ông Biên, Phó Giám đốc một công ty nào đó ở mãi ngoài Hải Phòng có cái nhà ba tầng cao ngất ngưởng đầu xóm, đến đưa cho ông một cuốn sách bìa in rất đẹp. Bé Linh hồn nhiên:

– Ông Chung ơi, ông có đổi cuốn sách này cho cháu không? Cháu chỉ cần hai cái cu-đơ thôi mà!

Sợ nó thèm kẹo đánh liều lấy cuốn sách của bố mẹ, ông cười:

– Ông cho cháu một cái đây. Lần sau thì đừng có đem sách đi đổi như thế mà bố lại phất roi vào mông đấy.

Bé Linh nói liến thoắng:

– Thơ của ông cháu in ra đấy. Ông cháu gửi về cả trăm quyển, chị em cháu xé làm diều gần hết rồi. Bố mẹ cháu chẳng mắng đâu.

Nghe nói thế ông đem đổi cho Linh những năm cái cu-đơ, bụng nghĩ thầm: “Đẹp thế này mà xé đi thì phí lắm”. Hôm thầy giáo Hóa đi dạy về ghé vào uống nước, ông đem tập thơ của ông Biên ra khoe. Thầy giáo Hóa nhíu mày:

– Ông Biên tặng tôi rồi. Đọc chán lắm! Thơ gì mà khô như rơm. Tôi nghe đâu để tranh cái ghế giám đốc, ông Biên cố nặn ra tập thơ này lấy thêm thanh thế. Có trời mới biết ông ta lấy tiền đâu để trang trải. Thời này người ta cứ in thơ nhan nhản, để tìm một tập thơ hay quả là khó. Không như hồi chiến tranh, tập thơ, truyện nào xuất bản đều có chất lượng. Hình như ngày đó người ta sáng tác văn chương không phải cho mình mà cho cả cộng đồng.

Rồi thầy giáo Hóa nói một thôi về cái hay, cái đẹp của văn chương. Tuy không cảm nhận hết được cái tinh tế, cái tuyệt vời của văn chương như lời thầy Hóa nói nhưng ông Chung lại càng vững tâm hơn trong việc nhờ nhà xuất bản in tập thơ của liệt sĩ Hoàng. Chỉ vì gây thêm thanh thế cho bản thân mình mà tập thơ của ông Biên còn được phát hành thì tập thơ của một liệt sĩ ai nỡ từ chối. Nhất là tập thơ này khi in ra biết đâu chẳng là đầu mối để những người thân của Hoàng liên hệ tìm được phần mộ của anh.

Sáng hôm sau, ông Chung diện bộ quân phục mới nhất rồi hăm hở đạp xe lên thành phố. Ông cẩn thận photocopy tập thơ của Hoàng thêm ba quyển nữa. Ông phải giữ lại tập thơ gốc để có cơ may gặp được Mai Hương thì trao cho chị. Ông dừng lại trước cổng một tòa nhà ba tầng có treo tấm bảng nền màu xanh nhạt đề bốn chữ “Nhà xuất bản R”. Anh Trưởng Ban biên tập Nhà xuất bản có vóc người to lớn, nước da trắng trẻo, mái tóc bồng bềnh nom rất nghệ sỹ, niềm nở đón ông. Ông tự tin trao tập thơ bằng cả hai tay cho anh ta và trình bày xuất xứ của nó cùng những đề nghị tâm huyết của mình. Chờ ông nói xong anh Trưởng Ban biên tập lật mấy trang đầu đọc lướt qua. Anh ta nói với ông, giọng không còn được hồ hởi:

– Thay mặt Ban Biên tập, tôi xin chân thành cảm ơn bác. Những điều bác vừa kể thật đáng quý, đáng trân trọng. Ngặt một nỗi là trừ các tác phẩm nổi tiếng còn những tác giả khác thì phải chịu trang trải các kinh phí in ấn. Đó là chưa nói đến vấn đề cốt lõi là chất lượng nghệ thuật và tư tưởng trong tác phẩm. Với tập thơ này nếu được giấy phép xuất bản và in với số lượng năm trăm cuốn thì ít nhất chi phí cũng suýt soát bốn triệu đồng. Mà tác giả thì đã hi sinh…

Ông Chung khẽ giật mình, ông không ngờ số tiền lại lớn đến thế. Giá như vợ ông không ốm liệt giường gần một năm nay thì ông có thể tiêu pha dè sẻn, dành dụm những đồng tiền lương trợ cấp thương binh trong vài ba năm cũng có thể trang trải được. Bất giác ông buông tiếng thở dài. Ông định trình bày thêm những ý nghĩ của mình nhưng nhìn nét mặt hờ hững của anh Trưởng Ban Biên tập, lại thôi. Ông Chung thấy bụng ấm ức thế nào ấy. Ông đạp xe loằng ngoằng suýt choàng vào quang gánh của mấy bà đi chợ tỉnh về. Ra khỏi thành phố, ông tạt vào quán giải khát của bà Bình béo bên đường cái mua cốc nước chè uống cho đỡ khát. Thấy ông mồ hôi nhễ nhại bước vào, bà Bình xởi lởi:

– Bác Chung đi đâu về giữa nắng thế? Làm cốc nước chè đá cho mát nhé. Mà sao trông bác thất thần thế?

Nghe bà Bình hỏi, ông Chung bỗng thấy tủi thân. Ông kể cho bà nghe tất cả những gì hơn suốt ba mươi năm qua hằng ấp ủ, trăn trở bởi lời hứa trước vong linh đồng đội. Có một người khách trạc tuổi ông Chung ngồi dựa lưng vào cột từ nãy đến giờ vẫn chăm chú lắng nghe câu chuyện giữa hai người. Cái chân bị cụt đến đầu gối của ông ta kê lên chiếc cặp da căng phồng đặt lên mặt ghế. Chờ ông Chung uống xong cốc nước chè đặc quánh, vị khách lê nạng, khập khiễng đến ngồi xuống cái chõng tre bên cạnh ông Chung:

– Xin lỗi ông, ông có thể vui lòng cho tôi xem tập thơ một lát không ạ?

Ông Chung vui vẻ:

– Vâng, được thôi! Mà ông cũng là thương binh à? Bị thương ở trận nào đấy?

Ông khách đón lấy tập bản thảo từ tay ông Chung, cười đáp:

– À, tôi bị mất cái kheo này hồi đánh vào thành Quảng Trị ấy mà.

Nhìn cái đầu gật gù của ông khách khi đọc thơ, ông Chung chợt nhớ tới hình ảnh anh nhà văn hồi ở chiến trường. Ông khẽ vỗ vào vai ông ta:

– Hay lắm hả? Thích thì tôi tặng luôn ông đấy. Tôi đang còn bản gốc mà.

Ông khách không giấu nổi sự vui mừng từ trong ánh mắt, bắt tay ông Chung thật chặt, giọng đầy cảm động:

– Vâng, được thế thì cảm ơn ông lắm! Phiền ông cho tôi cái địa chỉ, sau này có gì để tiện liên lạc.

Hai hôm sau ông Chung mới hốt hoảng nhớ ra trong tập thơ Nguyễn Hoàng mà ông đã tặng cho vị thương binh nọ có kẹp tấm ảnh của Mai Hương. Ông tự trách về sự nhẹ dạ của mình. Ông liên tưởng tới chuyện thằng Mạch mà lòng rối như tơ vò. Tuần trước, thằng Mạch phóng xe máy tới nhà ông. Nó đặt vào tay ông xấp vải, xởi lởi:

– Thưa bác, cháu vừa đi xa về có chút quà biếu bác. Cháu nghe nói bác có tập thơ hay mà tác giả thì đã hi sinh. Cháu muốn mua lại để bác thêm tiền thuốc thang cho bác gái.

Ông Chung ngạc nhiên:

– Nhưng mà anh mua tập thơ ấy để làm gì?

Mạch cười khơ khớ:

– Không giấu gì bác, em vừa được đề bạt lên chức trưởng phòng. Mấy tay ở cơ quan em cũng đã có thơ in. Em nghĩ là mình không nên lép vế trước họ. Hình như những người có máu mặt thường rửng mỡ. Họ xem in thơ như một cái mốt vậy. Khổ nỗi là em lại chẳng biết gì về văn chương, thế mới phiền đến bác.

Ông Chung thấy mình bị xúc phạm, máu trong người ông như sôi lên nhưng ông vẫn cố trấn tĩnh:

– Thế anh trả tôi bao nhiêu?

Mạch vân vê bộ ria con kiến:

– Với hoàn cảnh bác thì em xin trả năm trăm ngàn đồng. Em còn phải bỏ ra ba, bốn triệu nữa thì mới mong xuất bản được, bác ạ. Cũng xót của nhưng mà được cái danh.

Ông Chung gầm lên:

– Sao! Mày định lấy danh bằng xương máu và danh dự của những người lính đã ngã xuống ở chiến trường à? Đồ mất dạy! Cút, cút ngay khỏi nhà tao!

Ông vớ điếu cày, nhưng hắn đã quay mình lủi mất. Biết đâu cái tay kia chẳng phải thương binh thật mà cũng một duộc như thằng Mạch thì sao? Mình dại thật, sao không hỏi tên tuổi và địa chỉ của ông ta? Ông Chung ý định trong năm nay, khi nhận được tiền huân huy chương, ông sẽ lặn lội vào chiến trường xưa đưa hài cốt của Hoàng vào an táng tại Nghĩa trang Trường Sơn. Làm được như vậy thì dẫu có nhắm mắt xuôi tay ông cũng thấy lòng thanh thản.

Một bàn tay nhỏ nhắn đập vào vai làm ông choàng dậy. Tiếng bé Linh líu ríu:

– Ông ngủ đấy à? Cháu vừa gặp bác đưa thư. Bác ấy nhờ cháu gửi cho ông cái này này.

Bé Linh đặt vào tay ông cái phong bì to, dày cộp. Ông Chung đeo vội kính lên rồi đọc tên, địa chỉ người gửi. Ông thấy ngạc nhiên vì chưa từng quen biết người này bao giờ. Ông cẩn thận lấy kéo cắt mép phong bì. Ông không tin vào mắt mình nữa. Trong tay ông là một tập sách thơm mùi giấy mới. Ba chữ: “Thơ Nguyễn Hoàng” in to và đậm trang trọng trên bìa sách khiến tim ông đập rộn lên. Ông hồi hộp giở nhanh mấy trang và thốt lên sung sướng: “Trời ơi, thơ Nguyễn Hoàng. Thơ Nguyễn Hoàng được in rồi”.

Từ trong tập thơ, một lá thư rơi ra.

“Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2001

Anh Trần Chung quý mến!

Từ buổi chia tay anh ở quán nước, câu chuyện anh kể luôn ám ảnh và trăn trở trong tôi. Có vần thơ nào lại quý hơn vần thơ của người lính ở chiến trường. Có tình cảm nào thiêng liêng hơn tình cảm đồng đội khi kẻ mất người còn. Tôi và anh em cựu chiến binh ngoài này quyên góp kinh phí và đề nghị nguyện vọng của mình đến Ban lãnh đạo một nhà xuất bản ở Hà Nội. Các đồng chí ấy đánh giá chất lượng tập thơ rất cao và nhiệt tình ủng hộ nên tập thơ của liệt sĩ Nguyễn Hoàng đã được in với số lượng lớn. Điều đáng quý và vui nhất là thân nhân của liệt sĩ Nguyễn Hoàng cùng chị Mai Hương đã đến Tòa soạn. Nhà xuất bản đã giới thiệu lai lịch của tập thơ và ảnh của chị Mai Hương ở trang đầu. Bởi thế người thân của liệt sĩ dễ dàng nhận ra tác giả. Tuần sau họ đến thăm hỏi, cảm ơn anh và nhờ anh dẫn đường vào Trường Sơn tìm phần mộ của liệt sĩ Hoàng. Tôi rất tin ở anh. Chúc anh và thân bằng quyến hữu luôn hạnh phúc, bình an.

Chào thân ái!

Đặng Văn An”

    Niềm vui đến quá bất ngờ nên nước mắt ông Chung trào ra mà miệng lại cười. Nhìn điệu bộ kì dị của ông Chung, bé Linh hỏi ríu cả giọng:

– Ông ơi, sao ông cười mà nước mắt chảy ra nhiều thế?

– Ông mừng lắm cháu à – Ông Chung vừa nói vừa ôm Linh vào lòng. Bé Linh không hiểu vì sao người lớn mừng quá lại khóc nhưng nó quên ngay điều thắc mắc trẻ con đó vì ông Chung đã giúi vào tay nó một bịch cu-đơ nặng trịch.

Nguyễn Trung Thành

(Truyện đăng trên Tạp chí Sông Lam số 12 tháng 4/2021)