Đã chạm tuổi “cổ lai hi”, đã trải qua nhiều môi trường lao động và công tác – kể cả đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài; đã từng có nhiều năm tháng phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam; từng nhọc nhằn mưu sinh những năm bao cấp thiếu thốn; đến nay vẫn đang phải bươn chải trong cơ chế thị trường vì không có lương hưu… nhưng trong tâm trí Nguyễn Thanh Tài dường như chưa bao giờ nguôi ngoai về một địa chỉ anh hùng gắn bó với tuổi thơ anh – ấy là Truông Bồn.
Tác phẩm Huyền thoại Truông Bồn của ông có kết cấu gồm 6 chương: Khúc dạo đầu, Những ngày không bình yên, Tình quân dân gắn bó, Trận đối đầu lịch sử, Vĩ thanh… mang dáng dấp một trường ca. Tác giả còn vận dụng linh hoạt các thể thơ: tự do, lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn – tạo nên nhịp điệu phong phú và hiệu quả nghệ thuật rõ nét.

Nguyễn Thanh Tài tuổi Thân, sinh năm 1956 tại xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương (trước đây) của tỉnh Nghệ An. Làng anh nằm bên dòng sông Lam, nhìn sang bên kia là Rú Nguộc. Dưới chân Rú Nguộc, hai phía Đông – Tây là đường 15A, đường 15B và Truông Bồn. Đó là những huyết mạch giao thông chi viện cho chiến trường miền Nam, trở thành mục tiêu hủy diệt của máy bay Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam những năm 60 – 70 của thế kỷ trước.
Những năm tháng ấy, Nguyễn Thanh Tài cùng bạn bè phải đội mũ rơm đến trường dưới lòng hào giao thông. Lớp học cũng chìm trong lòng đất. Giường ngủ và bàn học bài cũng kê dưới hầm chữ A. Ban ngày cũng như ban đêm, bầu trời ầm ào tiếng máy bay gầm rú, mặt đất rung chuyển bởi các loại bom… Mặc, dân làng quê anh vẫn tay cày tay súng, vừa sản xuất vừa chiến đấu, phối hợp với bộ đội giăng lưới lửa phòng không vít cổ tàu bay Mỹ, hợp sức cùng Thanh niên xung phong (TNXP) san lấp hố bom cho xe qua trọng điểm…
Tận mắt Nguyễn Thanh Tài đã chứng kiến biết bao sự tích anh hùng, biết bao tấm gương dũng cảm, biết bao hành động cao cả của bộ đội, TNXP và dân làng trong cuộc chiến đấu giữ vững mạch máu giao thông vận tải chi viện cho chiến trường. Đặc biệt là những tổn thất, hy sinh vô bờ bến của quân và dân Truông Bồn dưới mưa bom bão đạn; trong đó có sự kiện 13 nữ TNXP ngã xuống trong trận bom khốc liệt sáng 31-10-1968, chỉ hơn chục giờ trước khi Tổng thống Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam vô điều kiện, từ vĩ tuyến 18 trở ra.

Những năm tháng bi hùng ấy theo suốt cuộc đời Nguyễn Thanh Tài, nhất là sự kiện đau thương ngày 31-10-1968:
Truông Bồn ơi! Huyền thoại cung đường
Giao điểm “yết hầu” mệnh danh “cửa tử”
Đã xa rồi một thời quá khứ
Vượt gian lao khói lửa bão bùng…
Và:
Truông Bồn ơi, một cung đường
Những năm đánh Mỹ đau thương ngập tràn
Những bông hoa thép hiên ngang
Cung đường huyền thoại, sử vàng khắc ghi…
Đó là những câu thơ như thốt ra từ lồng ngực thổn thức của Nguyễn Thanh Tài, trong tập thơ Huyền thoại Truông Bồn của anh, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành cuối năm 2024. Viết về Truông Bồn là viết về một địa danh lịch sử của quê hương, về một sự tích anh hùng. Cảm hứng chủ đạo của tác giả là niềm tự hào về truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng của quê hương anh hùng:
Về Đô Lương – Thanh Chương – Nam Đàn
Những vùng quê nắng tràn lịch sử
Thời Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa
“Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay”…
Vua Quang Trung dừng chân nơi này
Phan Đình Phùng – Cần Vương chiếu dụ
“Năm ba mươi” trống dong cờ mở
Đất Hồng Lam trung dũng đi đầu…
Đặc biệt, đó là:
Một miền quê khắc nghiệt dãi dầu
Chang chang nắng, gió Lào sỏi đá
Trên đất nước bao phen giặc giã
Hết Pháp, Nhật rồi Mỹ, triền miên…
Viết về Huyền thoại Truông Bồn nhưng tác giả Nguyễn Thanh Tài đã dựng nên khá đầy đủ tầm vóc cuộc chiến đấu của quân và dân miền Bắc chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, bắt đầu từ ngày 5-8-1964, khi địch dựng nên “sự kiện vịnh Bắc Bộ” để lấy cớ xua hàng đàn máy bay các loại ồ ạt tấn công miền Bắc, mở đầu là các bến cảng quân sự ở Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An và Quảng Bình. Nhưng quân và dân miền Bắc đã chủ động đón địch và đánh thắng trận đầu giòn giã:
Bốn địa phương chỉ trong một ngày
Sáu tư chiếc máy bay quần thảo
Đánh ba đợt, bốn nơi như bão
Lưới ta giăng, pháo nổ vang trời…
Và:
Tám máy bay bị ta bắn rơi
Chiến thắng trận đầu, nức lòng cả nước
Ta bắt sống một tên giặc lái
Làm lung lay ý chí bọn cầm quyền…
Từ đây, cuộc chiến tranh leo thang ngày càng lan rộng. Miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa là hậu phương lớn của chiến trường miền Nam và ba nước Đông Dương, vừa là tiền tuyến lớn trong cuộc chiến tranh ngăn chặn và hủy diệt của quân thù:
Ngày máy bay bắn phá khắp nơi
Đêm pháo sáng đầy trời chúng thả
Ngăn sao được đoàn xe hối hả
Nối đuôi nhau rầm rập vào Nam…
Đặc biệt, với địa hình “eo thắt” miền Trung, vùng Nghệ An trở thành “hiểm địa” của tuyến vận tải chiến lược:
Qua Nghệ An là qua “cán xoong”
“Yết hầu” miền Trung, hai vai gánh nặng…
Không chỉ có miền quê tác giả với những địa danh khốc liệt như đường 15A, 15B, Truông Bồn… mà cả Nghệ An và Quân khu Bốn lúc đó thực sự là tuyến lửa, với những trọng điểm nổi tiếng như: Hàm Rồng, Nam Ngạn, Bò Lăn, dốc Lụi, Tân Kỳ…
Phà Bến Thủy, Ngã ba Đồng Lộc
Những năm dài tàn khốc đạn bom
Con đường đất hoá bùn non
Hố bom nối tiếp, hố bom ken dày…
Chính tại những “túi bom”, “tọa độ lửa” ấy, tình quân dân được thể hiện trực quan sinh động nhất – từ truyền thống đoàn kết chiến đấu đến tinh thần nghĩa hiệp:
Làng ba chín nóc nhà
Dựa lưng vào sườn núi
Nuôi bao nhiêu bộ đội
Cùng Thanh niên xung phong…
Không chỉ thế, nhân dân còn trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu:
Nhân dân dỡ cả cửa nhà
Lót đường cho kịp xe ra chiến trường…
Tại đây cũng đã xuất hiện những tấm gương tiêu biểu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại Hồ Chí Minh, như: Trung đội nữ dân quân Nam Ngạn – Hàm Rồng, Tiểu đội nữ TNXP Đồng Lộc, Anh hùng Ngô Thị Tuyển, Anh hùng La Thị Tám… Trong đó, có Đại đội 317 của Đội 65 – Tổng đội TNXP tỉnh Nghệ An – được điều về chốt giữ Truông Bồn từ đầu năm 1967.
Cùng nhau bám trụ tới cùng
“Dù tim ngừng đập, không ngừng xe qua”
Tuổi xuân hiến trọn nước nhà…
Nổi bật trong tập thể anh hùng ấy là Tiểu đội 2 – “Tiểu đội Thép”, do chị Trần Thị Thông làm Tiểu đội trưởng. Biết bao lần các chị phải bỏ dở bữa cơm, giữa đêm thức giấc, giữa mưa bom bão đạn lao ra mặt đường san lấp hố bom…
Thế nhưng, sáng 31-10-1968, một loạt bom oan nghiệt đã chụp xuống đội hình toàn tiểu đội.
Mười ba thanh nữ tươi xinh
Tuổi đời non trẻ sắp tròn đôi mươi
Chỉ còn sót lại một người
Chị Thông A trưởng, đất vùi còn nông…
Sự hy sinh của các chị cùng hàng trăm, hàng ngàn bộ đội, TNXP và nhân dân địa phương đã góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975:
Hồn thiêng như ánh trăng rằm
Máu xương liệt sĩ hòa cùng cỏ cây
Ngàn năm sau, nước non này
Công ơn ghi tạc những ngày chưa xa
Truông Bồn tráng khúc hùng ca
Núi sông vỗ nhịp, nước nhà trường sinh…
Ngôn từ giản dị, tình cảm chân thành, đôi khi như “văn vần” để dễ nhớ dễ thuộc. Nguyễn Thanh Tài ý thức được điều đó nên không gọi tập Huyền thoại Truông Bồn là “trường ca”, mà để người đọc tự cảm nhận như một “nhật ký chiến tranh” bằng hồi ức – hoặc một thiên diễn ca lịch sử – ghi lại những năm tháng chống Mỹ oanh liệt nơi tuyến lửa Truông Bồn.
Nguyễn Thanh Tài không phải là nhà thơ chuyên nghiệp, chưa là hội viên Hội văn nghệ nào ở trung ương hay địa phương, mà chỉ là một thành viên tích cực của Câu lạc bộ Miền Cổ Tích. Ngoài Huyền thoại Truông Bồn, anh đã xuất bản 3 tập thơ “diễn ca thông sử” và trường ca Dấu ấn cuộc đời (NXB Quân đội Nhân dân, 2021) viết về Đại tướng Nguyễn Quyết – một tác phẩm được chính Đại tướng lúc sinh thời trân trọng.
Biết thêm như thế, để hiểu thêm về tình yêu văn chương và tinh thần công dân của một người lính – một cựu chiến binh Bộ đội Cụ Hồ – Nguyễn Thanh Tài.
Mai Nam Thắng















