Isak Dinesen: Một gương mặt nổi bật của dòng văn học Gothic thế kỷ 20 (Kỳ 2)

Isak Dinesen và tác phẩm "Châu Phi nghìn trùng" đã xuất bản tại Việt Nam

LTS: Isak Dinesen là bút danh của Karen Blixen, một nhà văn nữ nổi tiếng người Đan Mạch, được biết đến qua một số tác phẩm văn học chứa đựng những yếu tố huyền bí, lãng mạn và thấm đẫm tinh thần Gothic. Tên thật của bà là Karen Christence Dinesen. Bà còn được độc giả biết đến với tác phẩm nổi tiếng “Out of Africa” (Châu Phi nghìn trùng) được dựng thành bộ phim kinh điển “Xa mãi Châu Phi”.

Karen Blixen thời thiếu nữ năm 1913

Một cuộc sống cá nhân ly kỳ đầy màu sắc

Trong quãng đời sáng tác của mình, ngoài bút danh Isak Dinesen được sử dụng ở các nước nói tiếng Anh; bà Karen Blixen còn được biết đến với bút danh Tania Blixen, được sử dụng ở các nước nói tiếng Đức; và một số bút danh khác như Osceola và Pierre Andrézel. Bà sinh ngày 17 tháng 4 năm 1885 trong một gia đình quý tộc ở Đan Mạch và được hưởng một nền giáo dục tốt ngay từ khi còn nhỏ. Tước hiệu của bà là nữ nam tước, có được khi bà lấy chồng. Isak Dinesen học nghệ thuật tại Royal Danish Academy of Fine Arts (Học viện Mỹ thuật Hoàng gia Đan Mạch) và tiếng Anh tại Đại học Oxford lừng lẫy của Anh.

Karen Blixen hay Isak Dinesen sinh ra ở Rungstedlund, phía bắc thủ đô Copenhagen của Đan Mạch. Cha của bà, ông Wilhelm Dinesen (1845–1895), là một nhà văn, sĩ quan quân đội và chính trị gia, từng được bầu làm Nghị sĩ Quốc hội. Ông xuất thân từ một gia đình giàu có gồm các chủ đất đảo Jutland của Đan Mạch, có mối liên hệ chặt chẽ với chế độ quân chủ, nhà thờ và nền chính trị bảo thủ lâu đời. Ông Wilhelm Dinesen phục vụ trong cuộc chiến năm 1864 của Đan Mạch chống lại Phổ, đồng thời cũng gia nhập quân đội Pháp chống lại Phổ. Ông được giới quý tộc Đan Mạch thời đó coi là một huyền thoại. Những năm tuổi thơ của Isak Dinesen bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tính cách thoải mái, phóng túng của người cha cũng như tình yêu của ông đối với cuộc sống ngoài trời và thú vui săn bắn. Ông Wilhelm Dinesen đã viết lách khá nhiều trong suốt cuộc đời mình và cuốn hồi ký của ông là “Boganis Jagtbreve” (Những bức thư từ cuộc săn lùng) đã trở thành một tác phẩm kinh điển trong văn học Đan Mạch. Khi ở độ tuổi ngoài 20, ông Wilhelm Dinesen từng sang Mỹ và sống giữa những người da đỏ Chippewa ở bang Wisconsin (từ tháng 8 năm 1872 đến tháng 12 năm 1873). Sau đó khi trở về Đan Mạch ông mắc bệnh trầm cảm và treo cổ tự tử vào ngày 28 tháng 3 năm 1895 khi Isak Dinesen mới chín tuổi. Mẹ của Isak Dinesen, Ingeborg Westenholz (1856–1939), xuất thân từ một gia đình tư sản giàu có, thuộc giới chủ tàu biển. Hai ông bà có sáu người con.

Cuộc sống của Isak Dinesen tại Rungstedlund thay đổi đáng kể sau cái chết của người cha. Từ năm lên mười tuổi, cuộc sống của Isak Dinesen chịu ảnh hưởng sâu sắc từ gia đình bên ngoại Westenholz của người mẹ. Isak Dinesen được bà ngoại và dì của mình, Mary B. Westenholz, dạy dỗ tại nhà chu đáo. Năm 1898, Isak Dinesen và hai chị gái của mình dành một năm ở Thụy Sĩ, nơi bà học nói tiếng Pháp. Năm 1902, bà theo học trường nghệ thuật của Charlotte Sode ở Copenhagen trước khi tiếp tục học tại Học viện Mỹ thuật Hoàng gia Đan Mạch dưới thời họa sĩ lừng danh Viggo Johansen từ năm 1903 đến năm 1906. Bà cũng đến từng đến Paris, London và Rome để học tập. Cũng trong khoảng thời gian này, tài năng văn chương của bà bắt đầu bộc lộ. Isak Dinesen xuất bản một số truyện trên các tạp chí của Đan Mạch dưới bút danh Osceola, là tên con chó của người cha mà bà thường dắt đi cùng dạo với cha mình.

Khi còn trẻ, Isak Dinesen đã dành nhiều kỳ nghỉ của mình với gia đình người anh họ bên nội của bà, Blixen-Fineckes, ở Skåne, phía nam Thụy Điển. Isak Dinesen và người anh họ của mình, nam tước Bror Blixen-Finecke yêu nhau và họ tuyên bố đính hôn vào ngày 23 tháng 12 năm 1912, trước sự ngạc nhiên của hai bên gia đình. Trước những khó khăn mà cả hai gặp phải khi định cư ở Đan Mạch, gia đình đề nghị họ nên chuyển ra nước ngoài sinh sống. Người chú chung của họ, Aage Westenholz (1859–1935), vốn đã kiếm được nhiều tiền ở Thái Lan, đề nghị họ nên đến Kenya để thành lập một trang trại cà phê. Đầu năm 1913, Bror Blixen-Finecke đến Kenya và Isak Dinesen đến đó vào tháng 12 cùng năm.

Ngay sau khi Isak Dinesen đến Kenya, lúc đó là một phần của Đông Phi thuộc Anh, bà và Bror Blixen-Finecke kết hôn tại Mombasa vào ngày 14 tháng 1 năm 1914. Sau khi kết hôn, bà được biết đến với cái tên nữ nam tước Blixen và bà sử dụng tước vị này cho đến khi Bror Blixen-Finecke tái hôn vào năm 1929. Với tư cách là những người da trắng tiên phong đến vùng đất châu Phi, họ điều hành một trang trại cà phê được mua bằng tiền do gia đình họ giúp đỡ và đầu tư.

Ngôi nhà của Karen Blixen ở Đan Mạch trở thành bảo tàng

Về cuộc sống ban đầu rất hạnh phúc của cặp đôi ở Kenya, Isak Dinesen sau này đã viết: “Cuối cùng, ở đây người ta đã có thể không quan tâm đến mọi quy ước, đây là một loại tự do mới mà cho đến lúc đó người ta chỉ tìm thấy trong những giấc mơ!” (Donald Hannah, 1971, “Isak Dinesen and Karen Blixen: The Mask and the Reality”  (New York: Random House, page 207). Nhưng những lý tưởng sống và quan niệm lãng mạn của cặp đôi cuối cùng phải nhường chỗ cho những thực tế và khó khăn sẽ thách thức họ nghiêm trọng. Hai lần sẩy thai và sức khỏe yếu của Isak Dinesen làm cho họ ngày càng xa cách nhau. Cộng thêm sự khác biệt nhau về trình độ học vấn, tính cách và quan niệm sống, lại thêm sự ngoại tình của Bror Blixen-Finecke khiến cho hai vợ chồng ly thân vào năm 1921 và chính thức ly hôn vào năm 1925.

Trước đó, vào năm 2018, Isak Dinesen được giới thiệu với thợ săn kiêm nhà đầu tư người Anh Denys Finch Hatton (1887–1931). Sau khi ly thân chồng, Isak Dinesen và Denys Finch Hatton đã phát triển một tình bạn thân thiết và cuối cùng trở thành một mối tình say đắm. Trong một lá thư gửi cho anh trai Thomas vào năm 1924, bà viết: “Em tin rằng mãi mãi và mãi mãi em gắn bó với Denys, yêu mảnh đất mà anh ấy bước đi, hạnh phúc không thể diễn tả bằng lời khi anh ấy ở đây, và đau khổ hơn nữa, hơn là cái chết nhiều lần khi anh ấy ra đi…” (Sara Wheeler, 2010, “Too Close To The Sun: The Life and Times of Denys Finch Hatton”, New York: Random House, page 153).

Ngôi nhà cũ của Karen Blixen ở Châu Phi cũng trở thành bảo tàng

Denys Finch Hatton chuyển đến sống tại trang trại của Isak Dinesen từ năm 1926 đến năm 1931 và bắt đầu hướng dẫn các chuyến đi săn dành cho những người giàu có. Trong một chuyến đi săn cùng các khách hàng của mình, ông qua đời trong vụ tai nạn máy bay vào tháng 3 năm 1931. Suy sụp tinh thần, đồng thời việc trồng cà phê thất bại do quản lý yếu kém, hạn hán và giá cà phê giảm do suy thoái kinh tế toàn cầu, đã buộc Isak Dinesen phải bán lại trang trại, trở về Đan Mạch vào tháng 8 năm 1931 để sống với mẹ trong ngôi nhà của gia đình tại Rungstedlund.

Khi nói lời chia tay với châu Phi, nơi mà Isak Dinesen đã trải qua cả tình yêu say đắm lẫn sự mất mát đau đớn, bà đã suy ngẫm: “Nếu tôi biết một bài hát của châu Phi, – tôi nghĩ, về Con Hươu Cao Cổ và vầng trăng non châu Phi nằm ngửa, về những chiếc máy cày trên cánh đồng, và những khuôn mặt đẫm mồ hôi của những người hái cà phê, liệu châu Phi có biết một bài hát nào về tôi không?” Mặc dù đã cố gắng quay trở lại vài lần, nhưng bà không bao giờ có thể gặp lại châu Phi.

Ngôi mộ của Karen Blixen ở Đan Mạch

Isak Dinesen qua đời vào ngày 7 tháng 9 năm 1962 tại gia ở tuổi 77. Cái chết của bà được chẩn đoán là do suy kiệt vì chứng chán ăn và những năm tháng vất vả ở châu Phi cũng góp phần làm cho sức khỏe của bà lao lực.

“Tôi không phải là một tiểu thuyết gia, thậm chí thật sự không phải là nhà văn. Tôi là một người kể chuyện”

Sau khi trở về Đan Mạch, Isak Dinesen nghiêm túc dấn thân vào sự nghiệp viết lách. Nhưng bà không bao giờ tự nhận mình là nhà văn. Khi trả lời phỏng vấn nhà báo Bent Mohn trên tờ báo danh tiếng The New York Times của Mỹ cho mục “Điểm sách” vào ngày 3 tháng 11 năm 1957, Isak Dinesen đã khẳng định: “Tôi không phải là một tiểu thuyết gia, thậm chí thật sự không phải là nhà văn. Tôi là một người kể chuyện. Một người bạn đã nói về tôi rằng tôi nghĩ mọi nỗi buồn đều có thể chịu đựng được nếu bạn lồng ghép chúng vào một câu chuyện hoặc kể một câu chuyện về chúng và có lẽ điều này không hoàn toàn sai sự thật. Đối với tôi lời giải thích về cuộc sống dường như là giai điệu của nó, khuôn mẫu của nó. Và tôi cảm thấy trong cuộc sống một sự tưởng tượng vô tận, thật sự không thể tưởng tượng được”.

Đúng như cách Isak Dinesen trả lời phỏng vấn, những tác phẩm văn chương của bà đầy ắp trí tưởng tượng. Không kể đến những truyện ngắn mà Isak Dinesen đã in trên báo thời trẻ, cuốn sách chính thức đầu tiên của bà, “Seven Gothic Tales” (Bảy chuyện kể Gothic), được hoàn thành vào năm 1933, nhưng bà gặp khó khăn trong việc tìm nhà xuất bản. Một số nhà xuất bản ở Anh đã từ chối. Cuốn sách được ấn hành tại Hoa Kỳ vào năm 1934 dưới bút danh Isak Dinesen, mặc dù nhà xuất bản Harrison Smith và Robert Haas từ chối ứng trước tiền nhuận bút cho bà và không khuyến khích việc sử dụng bút danh. Isak trong tiếng Đan Mạch có nghĩa là “tiếng cười dài” và Dinesen là tên thời con gái của bà. Bà quyết định viết và xuất bản cuốn sách bằng tiếng Anh vì sẽ có cơ hội tiếp cận nhiều đối tượng khán giả hơn. Khi tác phẩm “Bảy chuyện kể Gothic” được Câu lạc bộ Sách của tháng (Book of the Month) chọn giới thiệu thì lượng độc giả mới tăng vọt và sau đó sách được xuất bản ở Anh và Đan Mạch. Câu lạc bộ Sách của tháng (Book of the Month) thành lập năm 1926 tại Mỹ, đến nay vẫn còn tồn tại và hoạt động sôi nổi. Ban điều hành chọn giới thiệu cho các thành viên của mình mỗi tháng từ 5 đến 7 cuốn sách. Năm 2016, Câu lạc bộ đã đưa ra giải thưởng Sách của Năm. Các thành viên cũng có thể thảo luận về sách với các thành viên khác trên diễn đàn trực tuyến.

Theo Isak Dinesen, các nhà phê bình Đan Mạch không hào hứng với cuốn sách và khó chịu vì nó được xuất bản ở nước ngoài ngay từ lần đầu tiên. Isak Dinesen chưa bao giờ xuất bản một cuốn sách chỉ bằng tiếng Anh nữa. Tất cả những cuốn sách sau này của bà đều được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Đan Mạch hoặc xuất bản đồng thời bằng cả tiếng Đan Mạch và tiếng Anh.

Cuốn sách thứ hai của Isak Dinesen được mang lại cái tên chính thức của tác giả là Karen Blixen, hiện là tác phẩm nổi tiếng nhất của bà, “Out of Africa” (Châu Phi nghìn trùng), được xuất bản năm 1937. Đây có thể coi là cuốn hồi ký lãng mạn và tuyệt vọng của Karen Blixen kể về những năm tháng sống ở châu Phi. “Châu Phi nghìn trùng” không chỉ là câu chuyện của một cá nhân, mà còn miêu tả cảnh sắc thiên nhiên châu Phi, cũng như văn hóa và con người nơi đó. Thành công của nó đã khẳng định vững chắc danh tiếng của bà. Từ kinh nghiệm trước đây của mình, Karen Blixen đã xuất bản cuốn sách đầu tiên ở Đan Mạch và Vương quốc Anh, sau đó là ở Hoa Kỳ. Tiếp tục là sự lựa chọn của Câu lạc bộ Sách của tháng, nữ văn sĩ được đảm bảo không chỉ về doanh thu cho tác phẩm mới này mà còn làm mới lại mối quan tâm đối với tác phẩm “Bảy chuyện kể Gothic”. Karen Blixen đã được trao giải Tagea Brandt Rejselegat (một giải thưởng của Đan Mạch dành cho phụ nữ trong nghệ thuật hoặc đời sống học thuật) vào năm 1939. Năm 1985, cuốn sách “Châu Phi nghìn trùng” được Hollywood dựng thành phim với cặp đôi minh tinh huyền thoại Meryl Streep và Robert Redford. Bộ phim đã giành bảy giải Oscar trong đó có hai giải quan trọng là phim xuất sắc nhất và đạo diễn xuất sắc nhất, trở thành một bộ phim kinh điển của điện ảnh thế giới. Ngoài ra bộ phim còn giành nhiều giải thưởng điện ảnh quan trọng khác của thế giới.

Sau thành công vang dội của “Châu Phi nghìn trùng”, Karen Blixen tiếp tục viết và cho ra mắt những tác phẩm như “Winter’s Tales” (Những câu chuyện mùa đông) vào năm 1942. Tác phẩm có các câu chuyện giàu tính biểu tượng và chứa đựng các yếu tố huyền bí, đôi khi có chút kinh dị, phản ánh cuộc sống và văn hóa Đan Mạch. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi Đan Mạch bị Đức Quốc xã chiếm đóng, Karen Blixen bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết dài duy nhất của mình là “The Angelic Avengers” (Biệt đội thiên thần), dưới một bút danh khác là Pierre Andrezel. Được xuất bản vào năm 1944, nó được xem như là một câu chuyện ngụ ngôn về chủ nghĩa Quốc xã. Một tập truyện mang tên “Last Tales” (Những câu chuyện cuối cùng) được nữ văn sĩ xuất bản năm 1957. Tiếp theo là tập truyện ngắn “Anecdotes of Destiny” (Giai thoại về số phận) xuất bản vào năm 1958. Trong tập truyện “Giai thoại về số phận” có tác phẩm “Babette’s Feast” (Bữa tiệc của Babette). Câu chuyện kể về một đầu bếp dành toàn bộ giải thưởng xổ số 10.000 franc của mình để chuẩn bị một bữa ăn ngon hoành tráng lần cuối cùng. Năm 1987 tác phẩm này được đạo diễn Gabriel Axel người Đan Mạch viết thành kịch bản và dựng thành phim. Bộ phim đã nhận được nhiều lời khen ngợi của giới phê bình trên khắp thế giới. Đây cũng là bộ phim Đan Mạch đầu tiên giành được giải Oscar cho Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất vào năm 1988.

Về cuối đời Karen Blixen tiếp tục cho xuất bản tập truyện “Shadows on the Grass” (Những chiếc bóng trên cỏ) vào năm 1960. “Ehrengard” là một cuốn tiểu thuyết ngắn viết bằng tiếng Anh và được xuất bản lần đầu dưới dạng tóm tắt vào tháng 12 năm 1962 trên tạp chí The Ladies’ Home Journal với tên gọi “Bí mật của Rosenbad”. Đến năm 1963 thì tác phẩm này được xuất bản đầy đủ bằng nhiều ngôn ngữ với tên gọi “Ehrengard”. Sau khi Karen Blixen qua đời, những tác phẩm của bà tiếp tục được tái bản và những di cảo chưa xuất bản của bà vẫn tiếp tục ra mắt độc giả.

Trong số các tác phẩm được xuất bản sau khi Karen Blixen qua đời có: “Ehrengard” xuất bản lần đầu năm 1962, “Carnival: Entertainments and Posthumous Tales” (Lễ hội: Giải trí và những câu chuyện để lại) xuất bản năm 1977, “Daguerreotypes, and Other Essays” (Daguerreotypes và các bài tiểu luận khác) xuất bản năm 1979 và “Letters from Africa, 1914–1931” (Những lá thư từ Châu Phi, 1914–1931) xuất bản năm 1981. Vào cuối những năm 1960, đạo diễn vĩ đại người Mỹ Orson Welles, một người rất hâm mộ cuộc sống và công việc của Karen Blixen đã lên kế hoạch cho một tuyển tập các bộ phim chuyển thể từ tác phẩm của bà, trong đó ông dự định làm các phim “The Heroine” (Ma túy), “The Deluge at Norderney” (Trận lụt tại Norderney), “A Country Tale” (Một truyện kể xứ sở) và “Full Moon” (Trăng tròn), nhưng phải hủy bỏ do gặp rắc rối về tài trợ. Năm 1982, Emidio Greco, một đạo diễn người Iatalia làm phim “Ehrengard”, dựa trên tác phẩm cùng tên của Karen Blixen, nhưng mãi đến năm 2002 mới được phát hành cũng vì lý do tài chính. Bộ phim chuyển thể thứ hai mang tên “Ehrengard: The Art of Seduction”, do Bille August đạo diễn và hợp tác với Netflix, phát hành trực tuyến vào cuối năm 2023, với sự đóng góp sáng tạo của Nữ hoàng Margrethe II của Đan Mạch.

Hầu hết những tác phẩm của Isak Dinesen ra đời vào thập niên 1940, 1950 đều theo phong cách kể chuyện truyền thống, dày đặc các yếu tố Gothic như loạn luân và giết người, kỳ bí và quái dị, với huyền thoại và sự mê hoặc như một phương tiện dùng để khám phá danh tính, đạo đức và triết học. Các tác phẩm của bà được chọn cho diễn ra trong bối cảnh của thế kỷ 19 hoặc các thời kỳ trước đó. Trong một số cuộc phỏng vấn, Isak Dinesen lý giải phong cách viết theo kiểu Gothic một cách có chủ ý của mình là vì bà muốn thể hiện một tinh thần không còn tồn tại ở thời hiện đại, một tinh thần mang tính hiện hữu hơn là hành động trong hiện thực. Và thực tế cho thấy, Isak Dinesen xứng đáng được gọi là người kể chuyện tài năng, là người kế tục xuất sắc dòng văn học Gothic trong thế kỷ 20, cho dù bà chỉ khiêm tốn nhận mình là người kể chuyện chứ không phải nhà văn. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều tác phẩm của nữ văn sĩ được chuyển thể thành phim. Tinh thần Gothic trong các tác phẩm của Isak Dinesen chính là nguồn chất liệu cực kỳ thích hợp cho nghệ thuật điện ảnh.

Những vinh danh xứng đáng dành cho người phụ nữ đặc biệt

Vì những thành tựu văn học của mình, Karen Blixen đã được trao Huân chương Holberg của Đan Mạch năm 1949, Huy chương Ingenio et Arti năm 1952. Bà là người đầu tiên được trao giải thưởng Hans Christian Andersen của Hiệp hội Nhà văn Đan Mạch vào năm 1955 và nhận được giải thưởng của Quỹ Tưởng niệm Henrik Pontoppidan vào năm 1959. Henrik Pontoppidan là nhà văn Đan Mạch được trao giải Nobel Văn học cùng với Karl Adolph Gjellerup vào năm 1917.

Theo hồ sơ lưu trữ của Quỹ trao giải thưởng Nobel để lại, thì Karen Blixen lần đầu được đề cử giải Nobel Văn học năm 1950, sau đó vào liên tục được đề cử vào các năm 1956, 1957, 1958, 1959, 1960, 1961 và 1962, nhưng chưa bao giờ thắng giải lần nào. Các đề cử được thực hiện dưới tên thật của bà thay vì bất kỳ bút danh nào khác. Mặc dù chưa bao giờ được trao giải, bà đã về đích ở vị trí thứ ba vào năm 1961. Karen Blixen cũng nằm trong danh sách rút gọn các tác giả được xem xét cho giải Nobel Văn học năm 1962, cùng với John Steinbeck (người chiến thắng cuối cùng), Robert Graves, Lawrence Durrell và Jean Anouilh. Karen Blixen trở nên không đủ điều kiện sau khi qua đời vào tháng 9 cùng năm đó.

Karen Blixen năm 1957

Năm 1959 là năm bà đến gần với giải Nobel Văn học nhất khi được Ủy ban Nobel của Viện Hàn lâm Thụy Điển đề xuất trao giải Nobel Văn học, nhưng một thành viên Ủy ban là Eyvind Johnson (người sẽ nhận giải mười lăm năm sau) phản đối việc trao giải cho Karen Blixen với lập luận rằng người Scandinavia (các nước Bắc Âu) đã chiếm tỷ lệ cao trong số những người đoạt giải Nobel về văn học, và các thành viên của Viện Hàn lâm Thụy Điển đã bất ngờ bỏ phiếu trao giải cho nhà thơ người Italia Salvatore Quasimodo. Sau đó hai vị Kjell Espmark và Peter Englund là thành viên của Viện Hàn lâm Thụy Điển, đều cho rằng việc Karen Blixen không được trao giải Nobel Văn học là “một sai lầm”. Bản thân Kjell Espmark cho rằng Karen Blixen có thể đã được dư luận quốc tế đánh giá cao hơn những người đã đoạt giải Nobel ở vùng Scandinavia và Viện Hàn lâm Thụy Điển đã bỏ lỡ cơ hội khắc phục tình trạng thiếu vắng những nhà văn nữ đoạt giải. Khi nhà văn Mỹ danh tiếng Ernest Hemingway đoạt giải năm 1954, ông tuyên bố rằng Bernard Berenson, Carl Sandburg và đặc biệt là “nhà văn xinh đẹp” Karen Blixen xứng đáng nhận giải hơn ông.

Bên cạnh đó, cựu thư ký kiêm quản gia của Karen Blixen là bà Clara Svendsen đã viết một cuốn sách về cuộc đời của nữ văn sĩ. Cháu trai của Karen Blixen là Anders Westenholz, một nhà văn có tên tuổi của Đan Mạch, đã viết hai cuốn sách về bà và các tác phẩm của bà. Chân dung của Karen Blixen được in trên mặt trước của tờ tiền 50 krone Đan Mạch, sê-ri 1997, từ ngày 7 tháng 5 năm 1999 đến ngày 25 tháng 8 năm 2005. Chân dung bà cũng xuất hiện trên con tem bưu chính Đan Mạch phát hành năm 1980 và 1996. Tiểu hành tinh 3318 Blixen được đặt tên để vinh danh bà nhân dịp sinh nhật lần thứ 100 của bà.

Hiện nay có hai bảo tàng về Karen Blixen, đó là bảo tàng ở Rungstedlund, Đan Mạch, vốn là ngôi nhà của gia đình bà. Một bảo tàng khác ở Nairobi, Kenya trên mảnh đất trang trại cà phê của bà năm xưa. Bảo tàng này được đánh giá là một địa danh văn hóa quan trọng, không chỉ vì mối liên hệ với Karen Blixen, mà vì thể hiện được văn hóa tiêu biểu của khu định cư châu Âu ở Kenya, cũng như một phong cách kiến trúc quan trọng là nhà gỗ một tầng vào cuối thế kỷ 19.

Ngày nay Karen Blixen hay Isak Dinesen được giới nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá là có phong cách viết tao nhã, giàu hình ảnh và sử dụng ngôn từ tinh tế. Bà thường sử dụng các yếu tố huyền bí, kỳ ảo và mang tính chất Gothic để khám phá những khía cạnh sâu sắc của con người và cuộc sống. Những câu chuyện của bà thường mang màu sắc thần bí, ly kỳ, chứa đựng những thông điệp triết lý và đạo đức.

Hà Thanh Vân

-> Mời quý vị đọc thêm kỳ 1 của chuỗi bài về Văn học Gothic của TS. Hà Thanh Vân tại đây và đón đợi kỳ 3.