26.1 C
Vinh
Thứ Hai, Tháng Bảy 15, 2024

Hoàng Tá Thốn và thần tích Sát Hải Đại vương

Sát Hải Chàng lại Đại tướng quân Hoàng Tá Thốn (1254-1338, theo Gia phả họ Hoàng ở xã Long Thành, huyện Yên Thành) là một danh nhân lịch sử thời Trần. Ông sinh ngày 16 tháng 6 năm Giáp Dần (1254) – mất ngày mồng 01 tháng 01 năm Mậu Dần (1338). Ông là người có công lao lớn với đất nước giúp nhà Trần đánh giặc xâm lược nước ta là quân Nguyên – Mông, đã được sử sách ghi nhận. Bản in Nội các quan bản, mộc bản khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697) có ghi về ông như sau: “Kỷ Sửu, Trùng Hưng năm thứ 5 (1289), [Nguyên Chí Nguyên năm thứ 26]. Mùa xuân, tháng 2, sai Nội thư gia Hoàng Tá Thốn đưa bọn Ô Mã Nhi về nước, dùng kế của Hưng Đạo Vương, lấy người giỏi bơi lặn, sung làm phu thuyền, ban đêm dùi thuyền cho đắm, bọn Ô Mã Nhi đều chết đuối cả”. (1)

Sát Hải Hoàng Tá Thốn mất tại Thanh Hóa khi đang làm quan Trấn thủ 12 cửa biển. Hài cốt ông được triều đình cho thuyền rồng đưa về chôn cất tại quê nhà, làng Vạn Phần (2), nay là xóm Xuân Bắc, xã (X) Diễn Vạn, huyện (H) Diễn Châu, tỉnh (T) Nghệ An. Triều đình cho lập đền thờ ông tại đây và giao cho dân làng phụng thờ (hiện mộ ông được làm bằng đá xanh, tọa ngay trước bàn thờ thượng điện). Từ xa xưa, hằng năm có tổ chức lễ hội ở cấp Nhà nước, trải thời gian đền thờ phế tích bị bỏ quên (nên cho tổ chức lại lễ hội). Các triều đã có các sắc phong Thần, nay, tại nhà thờ họ Hoàng Vạn Phần còn lưu giữ 1 bản sắc phong triều Khải Định, chữ đã phai mờ khó đọc (?) có nội dung ghi dưới bản sắc, được phiên như sau:

Sắc Nghệ An tỉnh, Đông Thành huyện, Vạn Phần xã phụng sự Bảo ngã lê dân khâm tai cảnh mệnh diến niệm thần hưu trước phong vi thẩm cấp Dực bảo Trung hưng Thượng Đẳng thần chuẩn kỳ phụng sự thứ ki thần kỳ Tướng hổ Sát Hải Đại Tướng quân phối hưởng Bách linh tôn thần hộ quốc tí dân nẫm trước linh ứng luật lệnh phi thừa.

Khải Định nhị niên tam nguyệt thập bát nhật (ngày 18/3/1917).

Bia đá, tượng đá ở đền Sát Hải Hoàng Tá Thốn tại Vạn Phần, Diễn Châu

Sự tích và Thần tích về Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn được ghi lại ở nhiều nơi, tại các di tích, đền thờ ông (tương truyền có khoảng 50-60 nơi thờ và phối thờ Thần Sát Hải, từ Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa vào Nghệ Tĩnh và một số tỉnh khác), trong văn bia, sắc phong, các sách lịch sử, địa chí Trung ương và địa phương và các gia phả dòng họ Hoàng… Vì khuôn khổ bài viết hạn chế, nên chúng tôi xin chọn một số thần tích tiêu biểu để giới thiệu. Chúng tôi thấy bài văn bia “Nam miếu tôn thần sự tích (3), do Cao Xuân Dục (1843-1923) soạn, lại được dựng tại đền thờ ngài ở trên chính quê hương Vạn Phần, H. Diễn Châu là đầy đủ và đáng tin cậy nhất, soạn năm Thành Thái thứ 10 (1898), vì cụ Cao cùng quê ở Diễn Châu, đương thời có chức tước là An Xuân tử, Thượng thư Bộ Học, Tổng tài Quốc Sử quán triều Nguyễn (đứng đầu bộ máy viết sử của của Nhà nước). Văn bản chép tay bài văn bia bằng chữ Hán và dịch (lưu tại Thư viện tỉnh Nghệ An). (Các Thần tích được giới thiệu toàn văn và trích dẫn từ đây xin được đánh số thứ tự theo chữ số La Mã):

I. 南廟尊神事跡 Nam miếu tôn thần sự tích

Sát Hải Đại tướng Chàng lại quân quản… Hoàng Minh, tự Tô Đại Liêu Thiên bồng Đại Tướng quân. Mẹ là Trương Thị phu nhân đi gánh nước ở bến sông, thấy hai con trâu thần từ dưới nước nhảy lên húc nhau, bèn lấy đòn gánh lại chữa. Đầu đòn gánh dính một lông trâu và rơi xuống nước giếng làm nước khô hết, bà lấy làm lạ, liền đậy kín về nhà thì cảm mà có mang. Lúc sinh ngài có ánh sáng đỏ rực chiếu tới, đĩnh ngộ lạ thường. Khi lớn lên càng khôi ngô, mình dài 6 thước, có tài bơi lặn dưới nước, mạnh khỏe hơn đời, thông tư hơn người. Thường thường bơi qua mặt nước như đi trên đất bằng.

Vua nhà Trần nghe biết, bèn triệu vào cung làm chức Nội gia thư.

Đến thời Vua Nhân Tông, niên hiệu Thiệu Bảo (1279-1284), gặp bọn tướng giặc nhà Nguyên là Thoát Hoan, Ô Mã Nhi lại xâm chiếm Kinh thành, vua bèn xuống chiếu cho làm Quản tướng quân, chỉ huy Chư tướng thống lãnh muôn quân, đem tàu thuyền tới sông Bạch Đằng bủa vây đánh phá thuyền giặc. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn dẫn bộ binh giáp chiến, bắt sống được Ô Mã Nhi, Thoát Hoan, rồi cùng kéo quân theo đường bộ về Kinh tâu báo. Vua nhà Trần tự ra đón, phong làm Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng quân, khâm mệnh thống tổng sung Chư hải phường phi tương. Đến năm Ất Sửu niên hiệu Thiệu Bảo, cho đưa hai tướng Ô Mã Nhi, Thoát Hoan về nước, nhà vua sai quan Nội gia thư đưa đi. Theo kế hoạch nhà vua bố trí sẵn, đương lúc ban đêm khoan thuyền, bọn Ô Mã Nhi đều bị chìm đắm. Về sau lại dẹp yên giặc, có công đầu, nhà vua đặt cho là họ Hoàng, phong tước là Minh tự.

Về sau đem quân về Thanh Hóa, đến phủ Hà Trung, huyện Hoằng Hóa, không bệnh tật gì, bèn bảo Chư quân rằng: “Hôm nay là ngày tốt (tức là mồng 1 tháng Giêng) ta phải chầu trời” rồi mất.

Nhà vua cho thuyền rồng chở quan quách về xã Vạn Phần chôn cất tại xứ Mả Cháy. Từ đó dân xã lập đền thờ ở trên mộ. Đến nay đền miếu nguy nga, khói hương không dứt.

Vua nhà Trần nhớ công, tặng phong là Đại Liêu Thiên Bồng Đại Tướng quân, chư mỹ tự phối Thượng đẳng bách linh. Từ ấy đến nay, các triều vua đều có phong sắc.

Các chi họ

– Một chi tại bản xã – một chi tại xã Vạn Trường

– Một chi tại xã Cổ Đan – một chi tại Cao Xá

Thành Thái mùa đông năm thứ 10 Mậu Tuất (1898).

Cao Xuân Dục phụng tác.”

Bài dịch chữ Quốc ngữ theo sách Văn bia Nghệ An (4). Thần tích ghi nhận mẹ ngài là Trương Thị phu nhân. Ngài được triều đình tặng phong cho các chức tước: Nội gia thư (như Quân sư, Tướng giỏi dưới trướng của Thống lĩnh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn); Quản Tướng quân, chỉ huy chư tướng và Hải đội tàu thuyền; Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng Quân; Phong tước Minh tự; Đại Liêu Thiên Bồng Đại Tướng Quân chư mỹ tự phối Thượng Đẳng bách linh. Vua nhà Trần (Trân Nhân Tông, niên hiệu Thiệu Bảo – Trùng Hưng 1279-1293) ban cho ngài họ Hoàng.

Căn cứ vào các chi họ Hoàng được ghi lại trong văn bia trên, chúng tôi lần giở các Thần tích về Hoàng Tá Thốn trong gia phả các chi để hiểu rõ hơn về tiểu sử và công trạng của ngài.

II. Gia phả họ Hoàng ở xã Long Thành, huyện Yên Thành (bản chép tay), có ghi tiểu sử và Thần tích ngài Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn như sau:

“Đức Thái thỉ Tổ là Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng quân, Quản quân mạnh lang, Hoàng Minh, tự Tô Đại Liêu Thiên Bồng Đại Tướng quân. Lịch triều gia phong, phong tặng tôn chư mỹ tự Tối linh Đại Vương. Sinh ngày? tháng Quý Hạ (bản đánh máy vi tính ghi ngài sinh ngày 16/6), năm Giáp Dần, đời Trần Thái Tôn (1254) – Mất ngày Nguyên đán (01/01 âm lịch – Mậu Dần – 1338). Mộ tại xứ Mả Cháy, Diễn Vạn, Diễn Châu.

Điền thờ Hoàng Tá Thốn ở Long Thành, Yên Thành

Nguyên Thánh mẫu là Trương Thị Hoa quê ở sách Vạn Phần (Diễn Vạn), thuộc Diễn Châu lộ (Diễn Châu, Nghệ An). Tục truyền rằng, một hôm Thánh mẫu đi gánh nước ở bến sông Vạn, thấy 2 trâu thần sắc vàng từ lòng nước nhảy lên húc nhau. Thánh mẫu bèn cầm đòn gánh đến chữa. Trâu thần biến mất. Thánh mẫu thấy đầu đòn gánh có dính lông trâu, người khỏa đòn gánh xuống nước thì thấy nước khô cạn. Thánh mẫu lấy làm lạ, liền cẩn thận gói lông trâu vào giải yếm rồi gánh nước về. Từ đó Thánh mẫu thấy trong người khác thường, rồi có thai. Đến ngày mãn nguyệt khai hoa, thấy ánh hào quang tỏa sáng khắp nhà.

Đức Thỉ Tổ Sát Hải ra đời, Thánh mẫu đặt lông trâu lên trán con. Từ đó đức Thỉ Tổ càng lớn lên, thiên tư đĩnh ngộ phi thường, người cao 6 thước, dũng lược quán thế, thông tuệ hơn đời, thường ngày lội nước qua sông như đi trên đất, từng cứu ngư dân thoát nạn phong ba bão lụt nhiều lần. Tiếng lành đồn xa, vua Trần nghe tiếng liền vời ra làm Gia thư. Đến đời Trần Nhân Tôn, giặc Nguyên dưới sự thống lĩnh của Thoát Hoan, Ô Mã Nhi kéo đến xâm lược Kinh thành. Đức Thỉ Tổ ta vâng lệnh nhận tước phong, chỉ huy thống lĩnh các tướng cùng vạn quân sắp sẵn tàu thuyền đến sông Bạch Đằng tổ chức trận địa mai phục… (sau là đoạn tiêu diệt quân Nguyên, bắt sống Ô Mã Nhi và được giao đục thuyền dìm chết quân giặc trao trả là theo như bia đá mà Cao Xuân Dục đã soạn: xem Nam miếu tôn Thần sự tích…).

Về cuối đời trên đường công vụ, ngài đưa quân qua huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Lúc đó không hề đau bệnh gì mà ngài gọi quân tướng lại mà nói rằng: “Hôm nay tốt ngày, ta về chầu trời”. Thế là ngài mất. Hôm đó đúng ngày Nguyên đán (sáng ngày mồng 01 tháng Giêng âm lịch).

Theo lệnh nhà vua, triều đình ban thuyền rồng, quan quách, gấm vóc tang phục đưa thi hài ngài về quê Vạn Phần an táng. Khi thuyền chở thi hài ngài về đến vực Mả Cháy thì tự nhiên nổi phong ba, thuyền chở quan tài đắm giữa vực. Sau đó vực tự nhiên bồi lấp và thành gò cát cao dần. Từ đấy dân xã lập đền thờ. Về sau vào khoảng giữa Triều Nguyễn thì miếu mạo được tu sửa, mở rộng nguy nga, hương khói đêm ngày túc trực…”

Phả ghi nhận mẹ ngài là Trương Thị phu nhân. Ngài sinh năm Giáp Dần (1254), mất ngày 01/01/năm Mậu Dần (1338). Các chức tước và mỹ tự được vua và triều đình ban cho ngài: Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng quân, Quản quân mạnh lang, Hoàng Minh, tự Tô Đại Liêu Thiên Bồng Đại Tướng quân. Lịch triều gia phong, phong tặng tôn chư mỹ tự Tối linh Đại Vương; Vua ban cho ngài họ “Hoàng”. Phả cũng ghi nơi mất, ngày mất của Ngài: H. Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, T. Thanh Hóa, mất ngày 01 tháng Giêng âm lịch. Mộ của ngài ở xã Vạn Phần là mộ  thiên táng (tự nhiên thành gò cát cao dần) và được dân xã dựng đền thờ ngay nơi mộ ngài (nay mộ được quàn bằng đá xanh, tọa ngay trước bàn thờ thượng điện)…

III. Gia phả họ Hoàng chép tháng Giêng, mùa xuân năm Hoàng triều Thành Thái thứ 14, thí sinh, Phó Lý trưởng Hoàng Phúc Trạch chép, nay được ghi lại (bản đánh vi tính):

Thế hệ phả Tổ đời thứ nhất ông Hoàng Tá Thốn và bà Trương Thị liệt nữ phu nhân. Cũng có bản ghi là họ Mai, chưa rõ họ nào là đúng.

Thái Thỉ tổ Sát Hải Lang Thát Chàng Lại Đại Tướng Quân Hoàng Minh Tự, sau đó gia phong mỹ tự Thượng Thượng Thượng Đẳng tôn Thần.

Nguyên Tổ Mẫu là bà Tiên giáng sinh, ẩn thân nơi xã Vạn Phần. Một hôm bà đi gánh nước ở bến Giang Tân, thấy 2 con trâu trắng từ dưới nước lao lên húc nhau, bà lấy đòn gánh đuổi chúng ra, đầu đòn gánh có dính một chiếc lông trâu màu vàng, bà cẩn thận gói vào trong lòng, từ đó mang thai và sinh ra ngài. Vào thời kỳ đó giặc Nguyên Mông đem quân xâm lược nước ta, người người ra trận. Ngài lúc đó vừa tròn 15 tuổi, rất giỏi bơi lội, phụng chiếu nhà vua nhận ấn Tướng quân chỉ huy các vị tướng khác, có công lớn trong việc tận diệt quân xâm lược nhà Nguyên. Vua Trần xét công ngài đứng vào bậc nhất, ban cho họ Hoàng, tước Minh Tự, đời này qua đời khác là công thần, ban cho một khoảnh ruộng tại xứ Vạn Trường để làm hương hỏa.

Ngài có ba người vợ, sinh hạ 7 người con đều được phong Hoằng tín Đại phu, nay là hậu duệ của Quận công Hoàng Nhân Phú…”.

Bản này ghi nhận ngài là Tổ thứ nhất và vợ là Trương Thị liệt nữ phu nhân, và chua thêm có thể là họ Mai? nguyên Tổ Mẫu là bà Tiên giáng sinh. Lại ghi: Thái Thỉ tổ Sát Hải Lang Thát Chàng Lại Đại Tướng Quân Hoàng Minh Tự, sau đó gia phong mỹ tự Thượng Thượng Thượng Đẳng tôn Thần. Đẳng của Thần là 3 chữ Thượng Thượng Thượng (tột đỉnh linh thiêng).

IV. Bách Thần sự tích (Sự tích 100 vị Thần ở xứ Nghệ) (5). nguyên văn chữ Hán như sau:

察海撞懶大將軍大王靈神

廟一所正廟在東城縣萬分社原是伊社有一婦人遊于江次見神牛相鬥感而有倀生得一男善扢入水多有神易及長扶梨太祖征伐多有功績封為大將軍設說贈封大王 自是英靈愈著伊社立廟奉事祀

Sát Hải Chàng Lại Đại tướng quân Đại Vương linh thần.

Miếu nhất sở tại Đông Thành huyện, Vạn Phần xã nguyên thị y xã, hữu nhất phu nhân du vu giang thứ, kiến thần Ngưu tương đấu, cảm nhi hưu thần sinh đắc nhất nam, thiện cột nhập thủy, đa hữu thần dị. Cập trường phù Lê Thái Tổ chinh phạt đa hữu công tích. Phong vi Đại Tướng quân thiết thuyết, tặng phong Đại Vương, tự thị anh linh dữ trước, y xã lập miếu phụng sự tự.

Tạm dịch (Đào Tam Tỉnh):

“Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng Quân Đại Vương Linh Thần.

Đền thờ chính tại xã Vạn Phần, huyện Đông Thành. Một lần phu nhân ra sông chơi, nhìn thấy hai trâu thần húc nhau, rồi cảm việc ấy mà có thai, sinh ra một người con trai, có tài lặn dưới nước rất kỳ lạ. Nhiều lần thần ứng phù Lê Thái Tổ chinh phạt giặc có công tích. Vua phong là Đại Tướng quân như trước và tặng phong là Đại Vương anh linh, nay giao cho xã ấy lập đền thờ tự.

Thần tích này có ghi tiêu đề: “Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng Quân Đại Vương Linh Thần”. Tiêu đề này như Thần vị (Thần chủ) của Thần Sát Hải vậy. Lại ghi công tích Thần là ứng phù cho Lê Thái Tổ đi đánh giặc nhiều phen có kết quả, nên được Vua Lê phong Đại Vương anh linh.

V. Thần tích hỏi đáp các huyện – Vinh (6). – GS Trường Thượng Xá – Nghi Lộc – Nghệ An. Trả lời các câu hỏi:

Làng La Vân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Thần: Hoàng Minh Tự, là Thiên Thần.

Thần là con trai của vua Thủy Tề. Một hôm Thần dạo chơi trên mặt nước một cái giếng, cưỡi trên lưng trâu. Vợ của Hoàng Hắc Sử ra giếng múc nước, thấy con trâu chặn đường, tức giận kéo đuôi trâu. Khi về nhà có mang sau mười tháng thì sinh ra Thần (1248). Vì là con của Thủy Tề, ngài rất giỏi bơi, vì thế dưới triều Trần, Hưng Đạo Vương đưa ngài đi đánh giặc Ô Mã Nhi. Hoàng Minh Tự lặn xuống dưới nước đục thuyền giặc Tàu và quân ta thắng quân Nguyên ở Bạch Đằng Giang. Vua Trần nghĩ đến công lao của ngài đã phong tước Đại tướng các Hải đội “Sát Hải Đại Tướng quân” và cử ngài làm Tổng đốc tỉnh Thuận Hóa. Sau mấy năm, ngài về sống ở làng Vạn Phần, phủ Diễn Châu là quê gốc của cha mẹ      ngài. Năm 24 tuổi, Ngài qua đời (1272) và dân làng xây một ngôi đền trên bờ biển để thờ ngài. Sau khi ngài mất và sau khi thờ cúng ngài, dân làng Vạn Phần có những mùa cá bội thu. Bởi nguyên do đó, dân làng La Vân (một làng ở trên bờ biển) cũng thờ cúng ngài và cũng được những mùa cá phồn thịnh.

–  Truyền thuyết về Thần là truyền khẩu

–  Thần được biểu thị bằng một bài vị không còn các dẫn tích Thánh thể.

– Các ngày của lễ và hội:15/3 là ngày sinh Thần, 15/3 là ngày giỗ Thần, Tháng 10 lễ “Lúa mới”

Thần tích này ghi: “Thần là con trai của vua Thủy Tề” (nên giỏi bơi lặn). Mẹ là “Vợ của Hoàng Hắc Sử”. Ngài còn được “cử ngài làm Tổng đốc tỉnh Thuận Hóa”. Vàngài về sống ở làng Vạn Phần, phủ Diễn Châu là quê gốc của cha mẹ      ngài. Năm 24 tuổi, ngài qua đời (1272)”. Vậy là Hoàng Tá Thốn đã được thần thánh hóa thành nhiên thần là con vua Thủy tề.

Kết luận về Thần tích Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng Quân

Ngài Hoàng Tá Thốn là nhân vật có thật, có năm sinh, năm mất ( -1338), có quê quán (X. Vạn Phần, nay là X. Diễn Vạn, H. Diễn Châu, T. Nghệ An), có công lao lớn với đất nước vào triều nhà Trần đánh giặc xâm lược nước ta là quân Nguyên – Mông, đã được sử sách ghi nhận (trong “Đại Việt sử ký toàn thư). Di sản Văn hóa về ngài còn lưu dấu tích ở quê hương và các nơi có di duệ con cháu họ Hoàng sinh sống: Nhà thờ, lăng mộ, bia đá, sắc phong, đại tự, câu đối… Thần tích ngài vừa thật vừa kỳ ảo, có khi là nhiên thần và ghi chép ở nhiều tài liệu, ở nhiều địa phương… Ở Hà Tĩnh đã phát hiện hơn 10 di tích đền thờ ở các huyện Đức Thọ, Thạch Hà, Kỳ Anh… có thờ và còn lưu giữ được các sắc phong Thần từ triều Lê Cảnh Hưng và các triều nhà Nguyễn… Ngài được Nhà nước và nhân dân tôn vinh, lập đền thờ, nhà thờ ở khắp nơi (khoảng 50-60 di tích thờ và phối thờ), đặc biệt tôn vinh ngài là vị thần linh thiêng cai quản ở các cửa lạch, cửa biển, các vùng sông biển; được người dân các nơi có di tích đền thờ quanh năm hương khói thờ cúng, tổ chức lễ hội cầu xin thần phù hộ độ trì cho được mưa thuận, gió hòa và làm ăn được mùa, bội thu, đi sông nước, biển được bình yên, thuận lợi… Ngoài những thần tích tiêu biểu đã dẫn ra ở trên, còn nhiều thần tích khác cũng rất giá trị, như: Thần tích làng Vạn Phần (in trong Tục thờ Thần và Thần tích Nghệ An); Thần tích Đền Ngoài L. Trung Kiên (X. Nghi Thiết, H. Nghi Lộc), có các đại tự, câu đối cổ, giá trị, có 3 sắc phong thần; Thần tích Đền Đức Hoàng (X. Phúc Thành, H. Yên Thành);  Thần tích thôn Phan (nay thuộc X. Nghi Kim, Tp. Vinh)… Gồm 1 đạo sắc văn phong cho các thần Sát Hải và Song Đồng Ngọc Nữ (Sắc đề ngày 26/7 năm Cảnh Hưng 44); Thần tích X. Phúc Mỹ, H. Hưng Nguyên; Thần tích ghi chép ở các di tích, sách địa chí, lịch sử, văn hóa ở nhiều huyện làng xã… Các gia phả dòng dọ, chi họ con cháu, di duệ Hoàng Tá Thốn đều có ghi chép về Thần tích của ngài: ở Long Thành (Yên Thành); Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu); Vạn Lộc (Nghi Tân, Cửa Lò); Nghi Thu (Cửa Lò); Nghi Xuân (Nghi Lộc), Phúc Thọ (Nghi Lộc) v.v… khó lòng ghi chép, nghiên cứu hết, nên chúng tôi đã tổng hợp lại và giới thiệu trong Thư mục sách, tài liệu về Hoàng Tá Thốn, họ Hoàng và liên quan

Danh nhân, Thỉ Tổ Hoàng Tá Thốn thật sự có công tích lớn lao với nước với dân, xứng đáng được tôn vinh là vị Thần Tổ của họ Hoàng xứ Nghệ và là một trong những vị Thần Tổ họ Hoàng Việt Nam. Hi vọng chính quyền địa phương, ngành VHTT huyện, tỉnh và nhân dân X. Diễn Vạn, H. Diễn Châu cho phục hồi Lễ hội Đền thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn, để phục vụ giáo dục truyền thống cho nhân dân và các thế hệ trẻ. Nếu có thể, mong rằng địa phương nơi có di tích đền thờ lăng mộ Hoàng Tá Thốn và dòng họ Hoàng cho lập hồ sơ trình/ đề xuất chính quyền Nhà nước và các cơ quan liên quan công nhận/ xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia (hiện là Di tích cấp Tỉnh) để tôn vinh một danh nhân của địa phương và đất nước; xây dựng Di tích thành một điểm Văn hóa tâm linh – Du lịch sinh thái phục vụ cộng đồng.

Chú thích:

1. Đại Việt sử ký toàn thư. (4 Tập) Bản in Nội các quan bản, Mộc bản khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697)/ Dịch và chú thích: Hoàng Văn Lâu, Hiệu đính: GS Hà Văn Tấn.- H., KHXH, 1998.- 27cm; T.II: 528 Tr.- Tr. 63

  1. Vạn Phần, tức Cửa Vạn: Vạn Phần, trước là Vạn Trường, từ xa xưa là nơi sát biển, mà nay thì đã dịch vào khá xa trên đất liền.

Đền thờ  Sát Hải Đại Vương tọa ở đây gồm có 3 tòa: Thượng điện 3 gian; Trung điện 3 gian; Bái đường 1 gian, rộng 4m. Đền làm toàn bằng gỗ lim, được chạm trổ tinh vi. Nghi môn đền rất đồ sộ. Trước sân đền có 8 tượng đá, tướng văn, tướng võ và voi, ngựa… Năm 1976, kênh Vách Bắc được đào để tiêu thủy đã chạy qua khu đền, làm mất di tích. Nay nhân dân ở đây đã quyên góp xây dựng lại đền, dựng lại tượng người hai bên cửa Thượng điện và hai đôi voi ngựa ở hai bên nhà Bái đường.

  1. Bia đá 南廟尊神事跡 “Nam miếu tôn thần sự tích do Cao Xuân Dục soạn, có hình chữ nhật, cao 1,40m, rộng 70cm, trước dựng ở đền thờ Sát Hải, đã bị bể, được gắn lại bằng xi măng và chuyển vào nhà thờ họ Hoàng Vạn Phần để bảo vệ.

4. Văn bía Nghệ An/ Hội VNDG Nghệ An/ Ninh Viết Giao CB và Thái Doãn Chất, Đặng Quang Liễn, Đào Tam Tỉnh.- Vinh, NXB Nghệ An, 2004.- 587 Tr., – Tr. 64-67.

5. Bách Thần sự tích (Sự tích 100 vị Thần ở xứ Nghệ). Bản chữ Hán, không ghi tác giả, được Phan Văn Thắng (nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Văn hóa Nghệ An) và Đào Tam Tỉnh (CLB Hán Nôm Nghệ An) phát hiện tại Di tích đền thờ Thần X. Mai Phụ, H. Thạch Hà, T. Hà Tĩnh.

  1. Thần tích hỏi đáp các huyện – Vinh (10) – GS Trường Thượng Xá – Nghi Lộc – Nghệ An (Mã: FQ 4018/15).

Tài liệu tham khảo thêm

– Bách Thần lục/ Lê Nguyễn triều Lễ Bộ soạn. Lê Xuân Khải dịch; Trần Bá Chí hiệu đính; PGS.TS. Hoàng Văn Khoán phụ trách chế bản, 1998. Tập thượng, Số 37; Bản vi tính lưu Thư viện tỉnh Hà Tĩnh,

– Hoan Châu phong thổ ký/ Trần Danh Lâm – Ngô Trí Hạp. Người dịch: Ngô Đức Thọ – Nguyễn Hữu Tư; 1974.- Tr. 22, bản đánh máy chữ, lưu Thư viện tỉnh Hà Tĩnh.

– Tục thờ Thần và Thần tích Nghệ An. Sở VHTT Nghệ An/ Ninh Viết Giao.- Vinh, 2000.- 735 Tr..- Tr. 129: Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng QuânThần tích làng Vạn Phần (nay là X. Diễn Vạn, H. Diễn Châu).

Đào Tam Tỉnh