Triết lý sống được người họa sĩ tài hoa “dồn” hết vào tranh, cả tranh ngựa lẫn tranh phong cảnh, tranh sinh hoạt… Có nhà nhà phê bình mỹ thuật danh tiếng đã nhận xét về tác phẩm của Đỗ Đức là “chữ lặn vào tranh”.

       Trong khuôn khổ các hoạt động chào mừng năm mới 2026 và Đại hội XIV của Đảng do ngành văn hóa thủ đô Hà Nội tổ chức, sáng 22-1-2026, tại Trung tâm thông tin văn hóa Hồ Gươm (Hà Nội) đã khai mạc triển lãm tranh “Sắc Xuân Bính Ngọ 2026”. Triển lãm giới thiệu tới công chúng những tác phẩm hội họa của các họa sĩ đương đại, như: Đỗ Đức, Trọng Cát, Sĩ Tốt, Kim Đồng, Phạm Lực, Minh Trần… với nhiều chất liệu và ngôn ngữ tạo hình khác nhau.

       Mặc dù mỗi tác giả có cách tiếp cận riêng và sử dụng chất liệu khác nhau, nhưng cảm hứng chung đều tập trung vào hình tượng ngựa, là con Giáp của năm Bính Ngọ. Trong không gian trưng bày triển lãm, những con ngựa hiện lên với nhiều hình hài và tư thế khác nhau; thể hiện sức mạnh, lòng trung thành, khát vọng vươn lên, ý chí tự lập và ước vọng may mắn…

Chữ “lặn vào tranh”

       Chiếm quá nửa số tranh của triển lãm “Sắc Xuân Bính Ngọ 2026” là những tác phẩm sơn mài của Họa sĩ Đỗ Đức, chuyên đề về cảnh sắc và con người vùng cao miền núi phía Bắc. Ngoài số tác phẩm trưng bày chung tại phòng tranh tầng 1, Ban tổ chức còn dành hẳn cả tầng 2 cho họa sĩ Đỗ Đức trưng bày 2 chủ đề về “Mùa xuân biên cương” và “Sắc phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc”. “Mùa Xuân biên cương” gợi mở không gian vùng cao vừa hùng vĩ, vừa đậm chất thơ, nơi thiên nhiên, con người và đời sống biên viễn hòa quyện trong một nhịp điệu lặng lẽ nhưng bền bỉ. Cùng đó, “Sắc phục các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” gồm 11 bức sơn mài, khắc họa trang phục truyền thống của các dân tộc như Mông, Dao, Lô Lô, Khơ Mú… gắn với không gian sống và bản sắc văn hóa riêng biệt. Đồng thời đặt ra những vấn đề về việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong đời sống đương đại.

Tác phẩm "Trên nương"

Họa sĩ Đỗ Đức sinh năm 1945 ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trước đây. Ông tốt nghiệp khoa Mỹ thuật Trường VHNT Việt Bắc năm 1970 và Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1980. Ông đã có gần 30 tác phẩm trong bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt NamBảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam. Tác phẩm của ông cũng có trong bộ sưu tập của Bảo tàng Châu Á-Thái Bình Dương và một số nhà sưu tập tranh ở nước ngoài. Hầu hết đều là những tác phẩm về phong cảnh và đời sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta. Đó cũng là sở trường và niềm say mê cảm hứng sáng tạo trong hơn nửa thế kỷ cầm bút vẽ của họa sĩ Đỗ Đức. Trong nhiều cuộc trò chuyện về nghề, họa sĩ “thú nhận” là có thể ngồi hàng ngày để ngắm biển đá mênh mông hai bên đường vào Khau Vai, Mèo Vạc, Lũng Phìn, Lũng Táo, Phó Là, Phó Cáo, Lũng Cú… trên miền cực Bắc của Tổ quốc. Nhìn đá cao nguyên lô xô trập trùng, ông như thấy biển người thời tiền sử hóa thạch, như  thấy những phiên chợ đang họp trên núi. Đá là mái che ấm áp, là tường rào vững chắc… cho những căn nhà đơn côi trên núi. Ngắm nhìn những hõm đất hiếm hoi trên hốc đá đang nhú lên những mầm ngô mang sức sống mãnh liệt, hay những bóng người thấp thoáng cùng bóng ngựa chập chờn giữa thiên nhiên khoáng đạt, ông chợt nhận ra những triết lý sống, những thân phận con người… Tất cả được tái hiện trong những bức tranh của ông, thông qua cảm nhận và thăng hoa của người nghệ sĩ. Những bức tranh thể hiện những không gian nghệ thuật trầm hùng, tái hiện chân thực vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ và mối gắn kết mật thiết giữa con người với thiên nhiên nơi đây. Để rồi người xem tranh như nghe được tiếng thì thầm của đá núi, tiếng ngựa hý trong thung lũng, cùng những âm thanh của cuộc sống vùng cao…

"Phiên chợ"

      Có thể nói, mỗi tác phẩm của Đỗ Đức đẹp và hay như những bài thơ về tình yêu thiên nhiên và con người miền sơn cước. Tác giả đã rất thành công khi biến những khung cảnh của núi non trở thành biểu tượng của tình yêu và sự che chở mà thiên nhiên dành cho con người nơi đây. Chẳng hạn bức tranh “Tháng ba ở Xín Cái” như một tiếng reo khe khẽ cất lên giữa không gian của mùa xuân bất tận. Giữa những dải núi cao vời vợi, trùng trùng điệp điệp, hơi núi bốc lên mờ mịt trong sắc rừng xanh thẫm… bỗng hiện lên cây hoa gạo nhỏ bé nhưng bung nở đỏ rực. Hoặc như bức sơn dầu khổ “Tiếng gọi của rừng xanh” là hình ảnh một người phụ nữ Mông nhỏ bé mờ xa, đứng trên mỏm đá cheo leo, hai tay giơ lên khoảng không vô tận. Không gian, sắc màu, hình ảnh… nhuốm màu huyền bí, nhưng là một thông điệp rất mạnh mẽ về khát vọng sống của những người trên miền núi đá…

       Cũng có thể gọi mỗi bức tranh của Đỗ Đức là những câu chuyện cổ tích của “Cao nguyên đá”. Đó là những câu chuyện nằm trong những tảng đá, những hốc cây, những bãi cỏ… được người họa sĩ “kể lại” bằng cây bút vẽ tài hoa. Chẳng hạn như bức tranh Huyền thoại Khau Vai ngổn ngang lô nhô những cụm đá ảo mờ trong màn sương huyền bí. Nhìn kỹ, sẽ thấy những tảng đá đủ các hình thù như đang ngồi bên nhau, đang dựa vào nhau, đang ôm ấp nhau… Nhìn kỹ hơn nữa, những tảng đá như hình người hiện về từ xa xăm thời gian và không gian. Thì ra, “Huyền thoại Khau Vai” của họa sĩ Đỗ Đức, là huyền thoại về những mối tình đã hóa đá (!)

Đỗ Đức biến những khung cảnh của núi non trở thành biểu tượng của tình yêu và sự che chở

Đến nay, họa sĩ Đỗ Đức đã có 8 cuộc triển lãm cá nhân, trong đó có 2 cuộc chuyên đề về tranh ngựa. Ngựa là con vật không thể thiếu trong đời sống đồng bào miền núi phía Bắc. Khác với những chú ngựa to lớn, hùng dũng xõa bờm tung vó trong tranh của nhiều họa sĩ xưa nay, ngựa của họa sĩ Đỗ Đức là con ngựa gắn với con người, dẫu trong tranh chỉ vẽ ngựa, nhưng vẫn thấy bóng người ẩn sau hình bóng ngựa. Đó là những chú ngựa đang nhẫn nại thồ hàng, hay những chú ngựa nhỏ nhoi đang lầm lũi giữa mịt mùng rừng núi. Đó là những chú ngựa lặng im trong phiên chợ tưng bừng, nó kiên nhẫn chờ chủ đang say sưa trong quán rượu, nó lẽo đẽo sau lưng người cắm cúi lên nương hay về bản. Hình ảnh con ngựa cũng chính là câu chuyện về thân phận của con người vùng cao… Họa sỹ tâm sự: “Ở cao nguyên đá vùng cực Bắc khí hậu khắc nghiệt, đường xá khó khăn, cách trở với các trung tâm văn hóa hiện đại… nên người với ngựa phải tựa vào nhau mà sống. Ngựa thồ hàng, ngựa đi cày, ngựa chở người… Khi hết tiền thì bán ngựa để chi tiêu… Câu chuyện con ngựa cũng là câu chuyện về thân phận con người…”. Cho nên ngựa của ông luôn gắn với con người, dẫu đôi khi trong tranh chỉ vẽ ngựa, nhưng vẫn thấy bóng người ẩn sau hình bóng ngựa. Mỗi con ngựa trong tranh Đỗ Đức, dẫu là “nhân vật” chính hay phụ, đều mang những nỗi niềm rất… người. Người và ngựa vùng cao trong tranh Đỗ Đức lúc nào cũng nhẫn nại, lầm lũi, bền bỉ, đơn độc… dẫu trong khung cảnh phiên chợ hay lễ hội đông đúc. Theo họa sĩ Đỗ Đức: Trên đường đời vạn dặm thì mỗi cá nhân phải tự chọn lấy con đường cho riêng mình. Bản chất cuộc đời này là “vạn lý độc hành” của mỗi cá nhân – “độc hành” trong mọi suy nghĩ và “độc hành” trong mọi hành vi. Tự mỗi con người phải chịu trách nhiệm cho chính cuộc đời mình.

"Nỗi niềm"

Triết lý sống trên đây được người họa sĩ tài hoa “dồn” hết vào tranh, cả tranh ngựa lẫn tranh phong cảnh, tranh sinh hoạt… Có nhà nhà phê bình mỹ thuật danh tiếng đã nhận xét về tác phẩm của Đỗ Đức là “chữ lặn vào tranh”.

Chữ tuôn ra sách

Dường như sắc màu và họa tiết vẫn chưa thể chuyển tải hết những chiêm nghiệm, những suy ngẫm của người họa sĩ tài hoa. Và Đỗ Đức phải dùng đến con chữ văn xuôi. Mấy chục năm vẽ tranh và viết báo rồi viết văn, ông đã có hàng nghìn tản văn, tạp bút, phóng sự, truyện ngắn, tiểu luận, nghiên cứu văn hóa… Đến nay, ông đã xuất bản gần 20 tập sách riêng và 10 tập sách viết chung về mỹ thuật, điêu khắc, nhiếp ảnh… và văn hóa dân tộc. Những tập văn “chuyện đời” của ông là những câu chuyện “vụn vặt” thường ngày nhưng không phải ai cũng “nhìn thấy” và biến chúng thành “chuyện đời” đầy ngẫm ngợi về nhân tình thế thái; về sự gắn kết lịch sử, văn hóa giữa con người với thiên nhiên, núi rừng…

Không chỉ sở trường về đề tài miền núi, ông còn là cây bút rất đặc sắc về Hà Nội, với những tản văn và tùy bút sâu sắc khi viết về phố cổ Hà Thành xưa và nay. Đó là những nét đẹp văn hóa, di sản, con người Hà Nội qua các áng văn như:  “Mùa Giáng sinh ở ngọn đèn biển”, “Âm vang di sản giữa phố cổ Hà Nội”, “Đền Thủy Trung Tiên” “Bên hồ Trúc Bạch”, “Ngày mưa phùn gió bấc”, “Những sợi len mùa đông”, “lạch cạch máy may xưa”…  Tập tản văn “Hà Nội đây chứ đâu” của ông  (NXB Hội Nhà văn, 2022) từng được đề cử Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 16 năm 2023. Cùng năm đó, cuốn sách “Trang phục và nét văn hóa của các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam” gồm 200 bức tranh kèm 40 bài viết của ông đã được “Giải thưởng Sách Quốc gia năm 2023”…

"Chiều muộn"

Hiếm có họa sĩ nào như Đỗ Đức, vừa đắt khách về tranh, lại được nhiều tờ báo mời giữ những chuyên mục “nổi đình đám” trong nhiều năm, như: “Tản mạn” trên báo Lao động, “Sổ tay” trên báo Nông thôn ngày nay, “Ngẫm ngợi cuối tuần” trên báo Thể thao và Văn hóa… Cũng hiếm có tác giả nào như Đỗ Đức, là họa sĩ chuyên nghiệp mà lại được Nhà nước đặt hàng văn xuôi, với 2 bộ sách cho người lớn và thiếu nhi. Nhà văn Đỗ Doãn Phương, Phó Tổng Biên tập Báo Thể thao và Văn hóa,  nhận xét: “Tôi cho rằng, Đỗ Đức đã sống cả một cuộc đời đầy ngẫm ngợi. Ngày nay, mạng xã hội có hàng ngàn hàng vạn post theo trend hằng giờ, nhưng hóa ra lại rất thiếu một giọng văn cứ lặng lẽ ngẫm ngợi cả đời theo cách của mình về triết lý nhân sinh, từ những cuộc sống quanh mình. Vì thế mà giọng văn ấy chẳng bao giờ cũ. Đó chính là điều làm nên “thương hiệu Đỗ Đức”.

MAI NAM THẮNG