Quán nằm gần bến xe. Mỗi lần vắng khách, Hân chống cằm ngồi nhìn những chuyến xe rời bến mà lòng buồn ngơ ngẩn. Khi cuốn lịch gắn trên tường mỏng dần đi thì nỗi buồn cũng ghé đến với Hân thường xuyên hơn. Người ta có nơi có chốn để về còn Hân cứ như hành khách lỡ chuyến lay lắt hoài ở bến xe mà chẳng biết chuyến xe nào dành cho mình. Thỉnh thoảng, khi Hân đặt tô bún nóng hổi xuống bàn cũng có người khách buột miệng hỏi “Chừng nào về quê ăn tết?” thì Hân chỉ gượng gạo cười trừ. Đôi mắt của Hân khi đó lại nhìn ra lớp bụi mù mà chuyến xe vừa xuất bến để lại. Lâu lắc lâu lơ rồi Hân đâu có Tết!
Chưa đầy mười bảy mà Hân đã có đến năm năm bưng bê ở quán ăn này. Hồi mười hai tuổi Hân gầy xơ xác, vạch áo lên có thể đếm được mấy cái xương sườn nhô ra. Một bữa cô chủ đi ngoài đường, thấy Hân cầm xấp vé số ngồi thở dốc ở gốc cây ven đường thì vòng xe lại hỏi han. Mắt cô chủ rơm rớm khi thấy Hân ngửa cổ tu ừng ực chai nước ướp lạnh, nuốt vội vàng miếng bánh mà quên cả nhai. Rồi cô hỏi han Hân đủ chuyện. Ba má ở đâu? Quê quán nơi nào mà phải đi bán vé số dưới trời chang chang nắng?
Hân kể ba mất rồi. Má lấy ông Ba Heo ngoài chợ. Ổng tên Ba, bán thịt nên gọi Ba Heo. Ông Ba Heo béo ú, tợp rượu như uống nước lã. Buổi chiều ông ngồi khề khà ly rượu chuối hột với mớ lòng heo bán ế. Đôi mắt ông Ba Heo say rượu đỏ như hai cục lửa cứ nhìn lom lom vào Hân. Hân hồi đó mới học lớp sáu, nhỏ xíu đâu biết gì. Má mất đột ngột vì té xe, Hân thành trẻ mồ côi ngơ ngác. Một đêm ông Ba Heo say rượu, giở mùng sờ soạng Hân, hơi rượu nồng nặc phả lên mặt, lên cổ, lên bụng Hân. Hân điếng người, vùng chạy. Trời đầy đặc sương mù, chẳng biết sương hay nước mắt nhòe nhoẹt trên mặt Hân. Ở nơi này Hân chẳng còn ai thân thích, chẳng thể ở với gã cha dượng, Hân lột sợi dây chuyền trên cổ đưa cho lơ xe đổi được một vé xe lên thành phố. Ở thành phố bơ vơ, Hân nuôi sống mình bằng mấy tờ vé số. Bữa nào bán ế bữa đó đói ăn.
Cô Như chở Hân về quán, cho rửa chén, bưng bê. Làm ở quán cũng cực nhưng Hân được ăn no, buổi tối được thẳng cẳng ngủ trên tấm nệm cũ chứ không lèn chặt người như cá mòi xếp lớp như chỗ của bà Sáu Ú. Bà Sáu Ú cho thuê chỗ ngủ, mười ngàn một đêm. Căn phòng hôi rình mùi người và đủ thứ xú uế từ phòng vệ sinh nhỏ xíu luôn bị nghẹt cống. Nhưng đâu thể tìm ra chỗ ngủ nào rẻ hơn thế? Mấy người bán vé số hễ cứ chiều tối đưa bà Sáu Ú mười ngàn là có chỗ ngả lưng qua đêm.
Cô Như đi suốt ngày. Cô giao quán lại để nhân viên tự trông, chỉ tạt qua một chút vào chiều tối. Nhân viên năm người, ai cũng gặp những cảnh đời trúc trắc, gặp cô chủ thương tình dẫn về phụ quán. Hân thường lén nhìn cô Như. Cô đẹp quá mà đôi mắt thì buồn rười rượi. Người đàn ông nhiều tuổi nhất trong quán bảo đời cô Như cũng khổ lắm. Cô Như thỉnh thoảng mua cho Hân mấy bộ đồ mới. Cô bảo tiền lương để cô giữ, khi nào muốn về quê thì cô đưa tiền về. Hân ngơ ngác nghe hai chữ “về quê” mà xa xôi như nửa vòng Trái Đất.
***
Một bữa, cô Như dắt về một người đàn bà ốm nhom ốm nhách. Mấy người trong tiệm cũng không mấy ngạc nhiên. Họ chỉ nhìn lướt từ đầu tới chân người đàn bà rồi lại bắt tay vào việc khi thực khách đang hối ngoài bàn. Người đàn bà mặc bộ đồ bạc thếch, mấy ngón mốc xì lộ ra dưới đôi dép mòn vẹt. Cô Như nói với Hân từ nay bà Năm sẽ phụ với Hân rửa chén. Bà Năm lóng ngóng ngồi xuống bên mấy thau chén bát dơ chất đống gần vòi nước. Hân đang ngồi rửa, ngồi dịch qua một bên lấy chỗ trống cho bà ngồi.
Cái vẻ lơ ngơ lóng ngóng biến mất, người đàn bà thoăn thoắt rửa từng cái dĩa, cọ thật kĩ cái nồi rồi xả nước sạch. Mấy cái dĩa dính dầu mỡ, bà Năm rửa hai lượt. Hân vẫn ngồi im rửa mà không lên tiếng. Cô Như nhìn bà với vẻ mặt hài lòng. Nhìn nụ cười thoáng qua trên môi cô Như, đột nhiên một nỗi sợ mơ hồ dấy lên trong lòng Hân. Có khi nào cô Như thích bà hơn Hân rồi bà sẽ chiếm mất công việc của Hân không?
Bà Năm gợi chuyện mấy lần mà Hân chỉ trả lời ậm ừ. Hân ghét cái cách bà lau khô từng cái muỗng, từng đôi đũa rồi mới bỏ vào cái ống nhựa trên bàn. Bà còn xếp ngay ngắn đầu đuôi chứ không như Hân cầm một nắm nhét vào. Hân trề môi dài thượt khi bà Năm bảo xếp vậy để khách rút ra cho dễ, vả lại để đầu đũa cắm xuống ống dễ bị dơ. Hân ghét luôn cái cách bà lau bàn mấy lượt. Hết khăn ướt lại khăn khô cho đến khi cái bàn bóng loáng. Hân nghĩ bà này bày đặt quá chừng.
Mọi khi chỉ có Hân ngủ lại quán, nay có thêm bà Năm. Để tránh nói chuyện, Hân quay mặt vào tường, giả vờ ngủ say. Bà Năm lọ mọ dọn dẹp tới khuya. Bà lặt hành ngò, lột sẵn tỏi, bóc vỏ mấy củ hành tím để sẵn đó cho chú Ba ngày mai đỡ cực. Hân nghe tiếng bà sụt sịt. Hân nghĩ chắc hành cay quá. Bà Năm ít ngủ, nằm lên nệm mà cứ cựa bên này quay qua bên kia, Hân nghe tiếng thở của bà nặng trĩu. Thành phố cuối năm trời lạnh ngắt. Buổi sáng ngủ dậy, Hân luôn thấy thêm một chiếc chăn đắp lên người mình. Bà Năm đã dậy từ bao giờ, đang loay hoay lau bàn ghế…
***
Trời lạnh làm mũi Hân nghẹt cứng, cổ họng nóng rát như có hòn than trong đó. Hân bỏ bữa tối, thả người xuống dưới nệm trong cơn đau đầu ê buốt. Quán nhậu bên kia đường vang ra mấy tiếng nhạc xập xình. Phố vẫn lung linh, người ta vẫn mải miết trong những cuộc vui bất tận, còn Hân mãi chỉ là đứa trẻ mồ côi mồ cút. Những tủi thân cứ lựa lúc con người ta yếu đuối mà ùa về lấp đầy tâm trí… Chợt bàn tay thô ráp đặt trên trán Hân. Hân gượng mở mắt. Bà Năm đặt xuống nền tô cháo nóng bảo Hân ráng ăn rồi uống thuốc. Rồi chẳng đợi Hân ngồi dựa, bà đưa một tay xuống cổ nâng Hân lên.
Miếng cháo thịt bằm thơm phức có rắc lá tía tô kích thích khoang miệng. Hân xì xụp ăn. Bà Năm bảo tí bà đánh gió cho, bà có đồng bạc đi đâu cũng đem theo. Thấy Hân ăn xong, bà lột vỏ thuốc rồi bỏ vào tay Hân bảo uống. Hân nằm xuống nệm, bà vạch áo Hân lên, đưa đồng bạc lên đánh gió. Bàn tay bà xù xì nhưng dịu dàng, thỉnh thoảng sợ Hân đau bà đưa tay lên xoa lưng. Bà nói trời này lạnh dễ cảm lắm, kiếm cái khăn quấn cho chặt cổ vào, xíu bà pha cho tí nước gừng… Hân nghiêng đầu quay vào tường, Hân sợ bà Năm nhìn thấy mình khóc.
Đầu Hân đỡ đau, người dễ chịu hẳn. Bà Năm vẫn lọ mọ dọn dẹp mà chưa chịu ngủ. Hân đánh tiếng bảo bà ngủ sớm đi, còn việc thì để đó mai mọi người xúm lại làm. Hình như đó là lần đầu tiên Hân nói nhỏ nhẹ với bà chứ không ậm ừ từng tiếng.
***
Dạo này, bà Năm hay ngó nghiêng mấy chiếc xe xuất bến rồi hồ hởi kể với Hân về Tết. Tết ấy mà, quê bà vui lắm! Mới đầu tháng Chạp đã chuẩn bị nếp đậu để gói bánh. Gà thì đã nhắm chừng con nào để dành cho Tết từ hồi mới búng đuôi tôm. Heo thì nuôi cả năm, đợi đến ngày tất niên làm thịt. Nhà nào không nuôi heo thì đụng với nhà hàng xóm. Tiếng heo eng éc cứ vang lên hết nhà này đến nhà khác…
Buổi tối nằm ngủ bà Năm cũng nói không dứt về Tết. Đôi mắt của bà ánh lên thứ niềm vui lạ lùng chưa bao giờ Hân thấy. Bà kể hồi xưa nhà bà nghèo lắm, cứ chờ đến Tết để được ăn giò, ăn bánh chưng. Cả năm mới được ăn, mùi thơm của bánh chưng là thứ mùi thơm hấp dẫn nhất trần đời. Cắn cái bánh, nhai từng miếng nếp dẻo thơm trong miệng thật là sung sướng. Chưa kể, bánh chưng được chiên lên còn ngon gấp bội phần. Hân ngồi im nghe như con nít nghe người ta kể chuyện cổ tích. Chuyện Tết với Hân cũng xa vời như cổ tích!
Hân hỏi bà Năm thích ở quê như thế sao không ở dưới mà lên đây làm gì? Bà tặc lưỡi, quê bà xa đây dữ lắm. Năm này bão lũ liên miên, mất mùa nên bà lên thành phố kiếm việc làm. Ai ngờ đâu, ở đợ mấy tháng mà chủ nhà quỵt tiền không trả lấy một đồng, còn xua chó ra đuổi đi. Tiền chẳng có, bà định lội bộ về quê thì may sao gặp cô Như. Thôi thì lỡ dở, cô Như bảo về đây làm tới Tết có tiền về quê. Rồi bà đứng dậy, giở cái tờ lịch treo trên tường mà không đêm nào bà không lật lên coi. Bà bảo độ nửa tháng nữa bà được về rồi. Bà có hai đứa con gái mà đi lấy chồng cả rồi, giờ chỉ còn hai ông bà già. Ông nhà chắc trông đứng trông ngồi bà về. Tội nghiệp, cũng chỉ tại nghèo quá bà mới phải bỏ nhà bỏ cửa mà đi.
Rồi bà quay qua hỏi Hân chừng nào lên xe về quê? Hân lắc đầu bảo Tết quán nghỉ nhưng Hân vẫn ở lại đây. Màn đêm Ba mươi rơi vào đôi mắt, Hân thở dài nói chẳng có nơi để về, có quê nhưng nơi đó chẳng còn ai trông đợi mình. Căn nhà ở quê cha dượng đã bán cho người khác mất rồi. Bà Năm thảng thốt nhìn Hân cứ như thể bà chưa nghe chuyện có người xa quê lại chẳng về ăn tết.
Hân nói hồi má còn sống Hân cũng có Tết. Khi tiết trời tháng Chạp ui ui, từng cơn gió se thắt thổi Hân lại nhớ quay quắt cái siết chặt tay của má giữa chợ Tết lao xao tiếng người. Chợ ngập hoa, ngập người. Má dắt Hân vào hàng giày dép, lựa cho đôi giày búp bê có cái nơ thật xinh. Rồi má lại ướm thử cho Hân chiếc váy màu xanh đẹp như công chúa. Trên đường về, Hân ôm chiếc váy vào lòng mà hít hà mãi. Má mất, những cái Tết cứ tuồn tuột trôi đi mà chẳng đọng lại chút niềm vui nào. Mùng Một, mùng Hai, mùng Ba ở trong quán, ngồi bó gối nhìn ra bến xe. Mà những ngày đó bến xe cũng vắng bởi người ta đã kịp về nhà trên những chuyến xe cuối. Hân tự thấy mình nghèo quá, bởi rớt vào mắt mình cũng chỉ là khoảng lặng mênh mông.
Bà Năm chảy nước mắt tự bao giờ, đưa đôi tay đầy xương nắm lấy tay Hân:
– Về quê ăn Tết với bà nghe!
Hân ngạc nhiên trước lời đề nghị. Bà Năm nói quê bà xa nhưng chỉ cần ngồi một chuyến xe đường dài là tới. Mình về quê ăn Tết, xong lại ngồi xe lên đây phụ quán. Về với bà, chở bà đi chợ Tết, về gói bánh chưng, về canh giùm bà nồi bánh đêm giao thừa, rồi mùng Một cả nhà cùng đi chùa thắp nhang đầu năm…
Bà Năm cứ hồ hởi vẽ ra một bức tranh Tết mà Hân chưa bao giờ được dự phần. Còn nữa, bà nói mình nấu ăn ngon lắm. Hân muốn ăn canh măng, thịt gà luộc gì thì bà nấu cho ăn… Giọng bà khẩn khoản, cứ như thể sợ mình không diễn tả được hết cái vui của Tết ở quê mình.
Về, về với bà nha con! Đôi mắt chân thành, cái nắm tay siết chặt. Hân cười mà mắt đầy nước, sau mỗi tiếng “về” của bà Năm thì Hân lại gật đầu một cái. Hân về chứ! Hân sẽ chở bà Năm đi chợ Tết, sẽ nắm chặt lấy tay bà giữa ngôi chợ quê ngập hoa, ngập người…
Nguyễn Thị Như Hiền















